1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TC VanNghe BINH DUONG _T8-2016

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 7,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

� Toøa soaïn 52 Baïch Ñaèng Tp Thuû Daàu Moät tænh Bình Döông Ñieän thoaïi 0650 3822663 0168 7929274 Website www vannghebinhduong org vn � Fax 0650 3859519 Email hvhntbd@gmail com Ban bieân taäp NGUYE[.]

Trang 1

 Tòa soạn: 52 Bạch Đằng - Tp.Thủ Dầu Một

Ban biên tập

NGUYỄN HIẾU HỌC

LÊ MINH VŨ

PHAN HỮU LÝ

Chịu trách nhiệm xuất bản:

VÕ ĐÔNG ĐIỀN

GP HĐBC số: 655/GP.BVHTT cấp ngày 14-12-2001

In tại Công ty TNHH Tân Vĩnh Lợi

 Tòa soạn: 52 Bạch Đằng - Tp.Thủ Dầu Một

° GPXB số: 655/GP.BVHTT cấp ngày 14-12-2001

° In tại: Công ty TNHH In & Giấy Nhật Tâm.

Ban biên tập

NGUYỄN CÔNG DINH

NGUYỄN HIẾU HỌC

LÊ MINH VŨ

PHAN HỮU LÝ

PHAN ĐỨC NAM

Minh họa:

TRƯƠNG BỬU SINH

Trình bày:

NGUYỄN CÔNG DINH

Thư ký toà soạn:

KỲ NAM

Chịu trách nhiệm xuất bản:

VÕ ĐÔNG ĐIỀN

Số 8 Tháng 8/2016

THƠ

Các tác giả: LƯƠNG TRUNG NGHĨA (09) - TRẦN THỊ THÙY LINH (13) - MAI THU HỒNG (13) - KIM NGOAN (15) - TRỊNH ANH TUẤN (15) - VĂN TRẠCH (17) - LÊ MINH VŨ (18) - NGỌC HÙNG (18) - TRĂNG KHUYẾT (19) - PHAN THÀNH MINH (19) QUANG THÁM (19) - LÊ THỊ BẠCH HUỆ (22) - PHÙNG HIẾU

- Dấu ấn về vùng đất Thủ Dầu Một hơn 100 năm trước (06)

Biên khảo: Nguyễn Hiếu Học

- Huyền thoại về cõi Thiên thai (21)

Nghiên cứu văn học: Võ Huyền Trân

Bìa: Sắc thu Dầu Tiếng

Tác giả : Trần Công

NHẠC

- Nhớ mùa trái chín quê em (34)

Nhạc: Trần Hữu Du - thơ: Kim Ngoan

Trang 2

TIẾP BƯỚC CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành

công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân

dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra

bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành

người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh

của mình Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa

nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do

và dân chủ Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một

Đảng cầm quyền Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc

và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới,

kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa

xã hội

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải

đương đầu với muôn vàn khó khăn Trước tình thế

“ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã phát huy cao độ sự sáng tạo, khéo

léo, lãnh đạo nhân dân bước vào cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai với

phương châm vừa kiến quốc vừa kháng chiến toàn

dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh

Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi và việc ký

kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, nhưng đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới Toàn thể nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa của cách mạng cả

nước; cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam,

giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.Cuộc kháng chiến chông Mỹ, cứu nước đã trải qua nhiều giai đoạn, nhân dân ta phải lần lượtđối phó với các chiến lược chiến tranh tàn bạo, xảo quyệt của kẻ thù Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, qua 21 năm chiến đấu anh dũng (1954-1975), chúng ta đã giành thắng lợi

Trang 3

tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954-1960); đẩy

mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội (1961-1965);

chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất,

tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm nghĩa vụ

hậu phương (1965-1968); khôi phục và phát triển

kinh tế, không ngừng chi viện cho chiến trường

miền Nam, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại

lần thứ hai (1969-1973); khắc phục hậu quả chiến

tranh, phát triển kinh tế, ra sức chi viện cho miền

Nam (1973-1975)

Đối với cách mạng ở miền Nam, Đảng ta lãnh

đạo đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế

quốc Mỹ, nhất là “Chiến tranh đặc biệt”

(1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965 1968), “Việt

Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) và “đánh cho

ngụy nhào” (1973-1975)

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là

chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc thắng lợi cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền

Nam, thống nhất đất nước; đưa dân tộc ta bước

vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên

chủ nghĩa xã hội

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu

nước là một trong những trang chói lọi nhất của

lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quốc tế,

có tính thời đại sâu sắc

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, toàn Đảng,

toàn dân, toàn quân ta tập trung trí lực, ra sức hàn

gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống

mới, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

40 sau năm ngày giải phóng miền Nam, thống

nhất đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành

tựu to lớn Đặc biệt, những thành tựu có được

sau gần 30 năm đổi mới đã làm thay đổi đời sống

mọi mặt của người dân và hình ảnh đất nước Việt

Nam Từ một nước nghèo, kém phát triển, bị tàn

phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã nỗ lực

vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển

Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp

và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng GDP Quy

mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng

lên; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất

khẩu tăng gấp hơn 200 lần GDP bình quân đầu

người năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD, năm

2016 thu nhập bình quân đầu người gần 50 triệu

đồng Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển khá

nhanh với nhiều công trình hiện đại, tạo diện mạo

mới cho đất nước

Tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa

và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6% Đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia Tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015

Đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc

Quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững Công tác đối ngoại

và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực Đến nay nước ta đã có quan

hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng hệ thông chính trị được đẩy mạnh và dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng

Trang 4

DẤU ẤN VỀ VÙNG ĐẤT THỦ DẦU MỘT HƠN 100 NĂM TRƯỚC

NGUYỄN HIẾU HỌC

* Cuốn hồi ký của L.c De Grammont (1865)

Có lẽ ấn tượng trước tiên đối với một người ngoại

quốc như L.C De Grammont, viên sĩ quan Pháp khi

đánh chiếm và cai quản vùng đất huyện Bình An

(thuộc tỉnh Biên Hòa về sau là địa bàn tỉnh Thủ Dầu

Một (TDM) vào năm 1861) là ngôi đình có kiến trúc

gỗ nổi tiếng ở ven huyện lỵ này Đó là ngôi đình làng

Bà Lụa đã được Grammont nhắc đến trong hồi ký

“Onze mois sous-préfecture en Basse Cochinchine”

xuất bản ở Paris cách nay hơn 150 năm như sau: “…

Sau khi băng qua chợ (chợ Thủ Dầu Một-NHH) bạn

ra khỏi làng về phía Nam, rồi đi dọc theo con đường

nhỏ sẽ gặp một con rạch (rạch Bà Lụa – NHH) cách

5 km tại đây người ta thấy ngôi đình Bà Lụa nổi

tiếng được xây cất dưới vòm ba cây đại thụ mà tôi

chưa từng thấy…” (sách đã dẫn trang 141, bản dịch

của nhóm thực hiện “Địa phương chí Bình Dương”

tóm lược 1974 - trang 16) Chính ngôi đình nổi tiếng

trên sau đó đã được ông Goergette Naudin, chuyên

viên nghiên cứu của Bảo tàng Nam kỳ (Musé de la

Cochinchine) đánh giá là: “ngôi đình có kiến trúc

đẹp nhất nhì Nam kỳ, với những cột gỗ đẹp và quí, những mảnh hoa văn ghép bằng sơn mài màu hồng, những binh khí cổ đẹp và hiếm… hấp dẫn đông đảo

du khách đến thăm” (1)

Đây còn là ngôi đình gỗ theo kiến trúc truyền thống Việt Nam, được xây dựng bởi những người thợ giỏi và bằng các loại gỗ quí tại địa phương TDM Cũng chính vì những đặc điểm này mà nhà cầm quyền Pháp đã yêu cầu địa phương TDM xây dựng một phiên bản theo mô hình đình Bà Lụa nói trên, rồi tháo rời mang qua Pháp để tham dự cuộc đấu xảo các xứ thuộc địa Pháp tại Marseille vào 1906 Sau thế chiến thứ I (1914-1918), Tổ chức “Hội tưởng niệm Đông Dương” (Le Souvenir Indocchinois) xin chính phủ Pháp sử dụng ngôi đình này làm đền thờ để tưởng niệm những người lính Việt Nam phải hy sinh trong đại chiến I vì nước Pháp Lễ khánh thành đền thờ vào ngày 9/6/1920 tại Paris và sự việc ngôi đình được đưa

đi dự đấu xảo rồi trở thành ngôi đền tưởng niệm nói trên đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đi qua tận Paris nước Pháp để tìm hiểu và ghi lại với đầy đủ

(Qua hồi ký, du ký của một số nhân vật trong và ngoài nước)

Đình Bà Lụa xưa

Trang 5

chứng cớ, sử liệu (2)

Được biết ngôi đình Bà Lụa xưa với kiến trúc gỗ

nổi tiếng của đất TDM kể trên, rất tiếc đã bị hủy hoại

trong chiến tranh và ngôi đình hiện nay chỉ mới được

nhân dân làng Phú Cường xây dựng lại vào cuối năm

1956 (khánh thành ngày 15/1/1957, Đinh Dậu) Hình

chụp nguyên mẫu ngôi đình Bà Lụa trước đây, đã

được sưu tầm (thông qua tạp chí sử học Xưa và Nay)

và sử dụng làm ảnh hình bìa cuốn sách “Những ngôi

đình tiêu biểu ở Bình Dương” của tác giả Nguyễn

Hiếu Học, do Hội VHNT Bình Dương ấn hành 2012

* Cuốn hồi ký “Xứ Đông Dương” của Paul

Doumer 1897

Gần đây và khoảng tháng 3/2016 bạn đọc Việt

Nam có thêm bản dịch tiếng Việt một cuốn hồi ký với

nhiều tư liệu lịch sử giá trị của một nhân vật nổi tiếng

người Pháp Đó là tác phẩm “xứ Đông Dương” (L’

Indo-chine fran caise) của toàn quyền Đông Dương

(1897-1902) và cũng là cựu Tổng thống Pháp

(1931-1932) Paul Doumer Trong hồi ký này, tác giả ghi

chép khá đầy đủ về xứ Nam kỳ lục tỉnh, đặc biệt có

nhắc đến vùng đất Biên Hòa – Thủ Dầu Một Đây là

cuốn hồi ký viết cách đây gần 120 năm (1897-2016)

của nhân vật nổi tiếng người nước ngoài được đánh

giá là “có nội dung phong phú sinh động về đất nước

con người, văn hóa phong tục tập quán của ba nước

Đông Dương” (dịch giả Nguyễn Xuân Khánh, sđd

trang 23) Ngoài ra “hồi ký xứ Đông Dương”, cuốn

sách tái hiện một giai đoạn lịch sử Việt Nam dưới góc

nhìn mới mẻ” (PGS TS Dương Văn Quảng, Nguyên

Giám đốc Học viện ngoại giao nước CHXHCN Việt

Nam, Sđd trang 19) (3) Được biết Paul Doumer cũng

là người đã cho xây dựng các cây cầu nổi tiếng như:

Long Biên, Tràng Tiền, Bình Lợi… ở Việt Nam

Riêng đối với địa phương Bình Dương (BD) hiện

nay, qua hồi ký này, chúng ta có thể được nhìn lại cảnh

quan cũng như những thổ sản của vùng đất TDM-BD

của hơn 150 năm trước Hãy nghe ông Paul Doumer

nói về hành trình và cảm nhận của mình khi đến với

TDM: “Tôi đi Biên Hòa theo đường qua Thủ Dầu

Một, một thị trấn nhỏ nằm duyên dáng bên sông Sài

Gòn, đi sà lúp đến đó rất dễ dàng Nhưng cũng có một

con đường bộ Nó đi qua vùng trồng trái cây ăn quả

cung cấp cho Sài Gòn và chợ Lớn Dứa, xoài, măng

cụt… được sản xuất mỗi năm với số lượng rất lớn Tới

mùa thu hoạch có nhiều thuyền chở trái cây theo dòng

sông vào ban đêm hay sáng sớm để cung cấp cho các

chợ Sài Gòn và Chợ Lớn (…) Tại Nam kỳ, chỉ có trái

cây mới đi xa như vậy, còn rau được trồng ở những

vùng lân cận thành phố…

Các loại trái cây nhiệt đới không giống như trái cây ở Âu Châu về hình dáng cũng như hương vị (…) Thiên nhiên rất kỳ diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu đốt những trái cây ngọt ngào Paul Doumer

dường như rất chú ý và đặc biệt ưa thích đặc sản trái măng cụt ở vùng đất TDM Khi đưa ra nhận xét khá tỉ

mỉ: “Một trong những loại trái cây đáng được nói kỹ

vì nó không chỉ không làm bụng dạ cồn cào mà còn

rất ngoan, đặc biệt là rất đẹp: đó là quả măng cụt

Nhìn bên ngoài, kích thước và hình dáng của nó hơi giống táo Re-net màu nâu nhạt (xuất xứ từ nước Anh) Tuy vậy màu nó sẩm hơn Đó là màu nâu vỏ xám của quả măng cụt, lớp vỏ dày gần một xăng-ti-mét, muốn bóc ra phải dùng dao rạch một vòng chia quả măng cụt thành hai nửa Tách vỏ hai bán cầu đó ra, ra có được ruột quả; ruột đó có nhiều múi như múi cam; múi măng cụt màu trắng như sữa, trong khi mặt trong

lớp vỏ có màu hồng nhạt… Thật là một bữa tiệc cho

đôi mắt” (Sđd trang 140-141)

Tác giả không quên miêu tả vị trí, thế đất, loại đất

và cấu tạo nền đất, kể cả một loại đá đặc biệt có màu

nâu đỏ được gọi là đá ong của vùng TDM:

“TDM là một vùng đất vắt ngang qua sông Sài Gòn Con đường dẫn đến vùng đó chính là đường đi Biên Hòa cho du khách thấy một cảnh quan hoàn toàn

khác với những cánh đồng ngút mắt ở miền Tây Đây

không còn là vùng đồng bằng nữa, dù chưa phải là vùng núi Địa hình gồ ghề với những ngọn đồi nhấp nhô Đất có kiến tạo cổ với lớp dày và rắn chắc Đất

đỏ bị nền rất cứng gọi là đá Biên Hòa (tức là loại

đá ong vẫn thường thấy nhiều ở vùng đất TDM-Biên Hòa) (Sđd trang 141) Đặc biệt ở trang hồi ký tiếp theo (trang 142) tác giả cho vẽ một hình minh họa khá

rõ và đẹp, được ghi chú bên dưới là cảnh “Đóng trâu vào xe ở Thủ Dầu Một” (ảnh được chụp lại trong bài

viết bên cạnh…) Điều đó cho thấy phương tiện vận chuyển hàng hóa nhất là nông, lâm sản, phổ biến nhất

là bằng xe trâu Hình ảnh minh họa này khiến chúng tôi liên tưởng đến lời lý giải của nhà văn hóa Sơn Nam về quá trình hình thành chợ Thủ Dầu Một xưa với vị trí bến xe trâu bên rạch Phú Cường trước đây Theo như lời trao đổi với Ban soạn thảo Địa phương chí Bình Dương thuộc Sở Học Chánh BD vào năm

1974 và sau này được đăng lại trong Địa chí Sông Bé

(1991), nhà văn Sơn Nam đã viết: “Các vị bô lão kể

lại rằng địa điểm Chợ Thủ Dầu Một là bến xe trâu,

thuận lợi để tắm trâu và rửa xe Gần bến là quán trà Huế, quán cơm, lần hồi thành chợ” (Thủ Dầu Một

hay chợ Phú Cường-NHH) Cũng nên biết thêm một ít

tư liệu về sự phát triển của chợ TDM “Mức sung túc

của chợ Thủ Dầu Một đáng chú ý từ thời Tự Đức…”

(Sơn Nam Sđd) Đặc biệt là quan cảnh chợ Thủ vào

Trang 6

những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX, dưới mắt một người

Pháp: “Ở phía Nam là thị trấn lớn Phú Cường với các mái nhà

đỏ au ẩn nấp dưới những lượn sóng rừng xanh biếc Trên dòng

kinh nhỏ chạy vào thị trấn có những thuyền buồm xôn xao qua

lại, buồm lá buông xẻ dọc xẻ ngang Chợ nằm ngay ở giữa khúc

quanh của dòng sông, chiếm hết hậu trường của khung cảnh Bên

trái và bên phải là những bụi luôn um tùm và các cội cao tơ như

nép sát và bờ sông bên con đường mòn màu đất đỏ quạch, đã vẽ

thành những đường rực lửa cắt ngang nền xanh của vùng đất trù

phú hoang vu này” (De Grammont, Sđd Hòai Anh dịch dưới tiêu

đề “Thủ Dầu Một dưới mắt một người Pháp”, đăng trên tạp chí

Xưa và Nay, số 45b, trang 15)

Sau khi người Pháp chiếm TDM và bắt đầu công việc khai thác

tài nguyên, đặc biệt là cây cao su tại đây, TDM có nhiều thay đổi,

nhất là quan cảnh chợ TDM (Phú Cường) “…Phục hồi và biến

đổi hoàn toàn chợ Phú Cường với công việc lát đá và đắp đường

cao bên trong Hiện nay (1861-1862) chợ Thủ Dầu Một là chợ

lớn nhất, sạch sẽ nhất và nhiều hàng hóa nhất của tỉnh…” (De

Grammont, Sđd) Theo niên giám Đông Dương năm 1912, chợ

Thủ Dầu Một, cùng với chợ Lái Thiêu được xếp vào hạng thị tứ

quan trọng bậc hai ngang hàng với các chợ tỉnh lỵ lớn như Biên

Hòa, Bình Thủy (Cần Thơ), Long Xuyên, Trà Vinh… và sung túc

hơn các chợ hạng ba như Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh, Hà Tiên…

* “Thủ Dầu Một du ký” của nhà văn Biến Ngũ Nhy (1921)

Dưới đây xin dẫn thêm bài du ký của một nhà báo, nhà văn

Việt Nam viết về TDM, cách đây gần 100 năm Đó là tác phẩm

đăng báo “Thủ Dầu Một du ký” (trên tờ Công Luận báo tại Sài

Gòn, số 378, phát hành ngày 28/1/1921) của tác giả có bút hiệu

là Biến Ngũ Nhy Ông tên thật là Nguyễn Bính sinh 15/8/1886 và

mất 22/7/1973 tại Sài Gòn Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa trường

Đại học Y Hà Nội 1910, tuy giữ nhiều chức vụ quan trọng trong

ngành y tế, nhưng ông còn là nhà văn, nhà báo, từng cộng tác với

các báo Nông cổ miến đàm, Công luận báo, Nữ giới chung…

Bài viết “Thủ Dầu Một du ký” của ông chủ yếu viết về chuyến

đi đến vùng đất Thủ Dầu Một vào 1921 Ngoài giá trị về văn chương, bài du ký

còn ghi lại những hình ảnh, tư liệu cảnh quan có nhiều giá trị về lịch sử văn hóa của vùng đất này ở đầu thế kỷ XX Dưới

đây là mấy nét chính được ghi chép trong bài du ký nói trên của ông (5)

* Đường đến Thủ Dầu Một: “xe hơi

từ Chợ Mới chạy vô Gia Định, qua cầu Bình Lợi, đoạn tẻ qua chợ Bình Phước, chợ Lái Thiêu, chợ Búng rồi lên Thủ Dầu Một (…) Ra khỏi Gia Định rồi thì nhà cửa thưa thớt dần, chỗ thì vườn tược sum suê, chỗ thì đồng không mông quạnh Khỏi cầu Bình Lợi quẹo qua đường Thủ Dầu Một (…) hai bên đường cây cối mọc sởn sơ, dường như hạp thủy thổ nên sức sung, lực mạnh Xa xa có một vài cái nhà ngói cất theo lối nhà vườn Còn nhà lá thì bộn bàng, lớp lợp lá dừa, lớp lợp tranh, cất trong đám cau, vườn dừa trông rất yên tĩnh Nhiều chỗ trồng rất nhiều mía, cây mía nhỏ mà lắm nước, để làm đường tán Cây măng cụt nhiều nhứt, hai bên đường đâu đâu cũng trồng măng; mỗi năm, nhằm mùa măng cụt, ghe thương hồ lên

mua, chở đi lục tỉnh hằng ha sa số Măng miền này rất ngon, nên tiếng măng đất Thủ xưa nay dành bậc nhứt

Từ Bình Phước lên tới Thủ thì đất cao dần, có chỗ thành gò, có nơi lại trũng (…) Dòm xung quanh thấy chỗ gò cao… thì trí tưởng là mình như lên cảnh non cao rừng rậm Song ngó xuống trũng kia thấp chưa đầy mười thước thì mới hay mình còn ở đồng bằng!”

* Chợ Lái Thiêu: “Tuy chợ nhỏ mà

cảnh cũng đẹp Tại đó dân có chuyên nghề đóng bàn ghế theo kiểu Lang-sa Có hai trại mộc nổi danh, nuôi thợ thầy đông đảo, đóng nhiều kiểu đồ gỗ xinh đẹp Từ Lái Thiêu lên chợ Búng, thì ruộng nương

ít (…) Vườn tược hoặc trồng cau, dừa, măng cụt,…Hai bên đường nhà cửa cũng rải rác, ít nhiều Gần tới chợ Búng, xe chạy gần một con rạch nhỏ, tên là sông Búng

* Chợ Thủ Dầu Một: “cũng như chợ

các tỉnh thành nhỏ, trong thì một cái nhà dài, ngoài bờ sông thì một cái chợ cá, hai bên chợ là hai dãy phố trệt, buôn bán đồ vặt Trên đầu chợ có một cái trường Bá

Trang 7

nghệ, dạy học trị An Nam nghề đúc, nghề chạm…

Chợ chỉ cĩ một khoảnh ấy, cịn xung quanh là phố

xá đều là nhà trệt, ít cĩ nhà lầu Chợ ở dưới đất

bằng, cịn các dinh, cùng cơng sở thì ở trên gị (…)

hai bên cĩ trồng cay sao mát mẻ”

* Tỉnh thành Thủ Dầu Một: “Mặt tiền châu

thành trở ra ngồi sơng, cĩ cẩn bực thạch dài gần

một ngàn thước, sơng ấy là sơng Sài Gịn, song từ

Sài Gịn lên đây đã hơn ba mươi mấy ngàn thước

nên quan cảnh đã đổi Xem ra thì cái cảnh trên

nguồn, hai bên bờ sơng cây mọc giăng giăng chỗ

cao chỗ thấp, nhánh lá de tận xuống nước, xa xa cĩ

một vài khoảng trống, cĩ nhà, cĩ vườn, trồng cau,

trồng chuối, dựa bờ sơng cĩ một vài chiếc ghe đậu

im lìm Ngay chợ, cĩ một vài trại cưa, cĩ bến đị để

chở bộ hành và xe cộ qua lại…”

Trên đây là những ấn tưởng đáng nhớ hơn cả

trong các hồi ký của mấy nhân vật nổi tiếng người

nước ngồi cũng như qua thiên du ký chân chất

của một nhà văn Việt Nam Họ đã ghi nhận, miêu

tả một cách trung thực, sinh động những nết đặc

thù về cảnh quan, kiến trúc, phương tiện giao thơng

vận chuyển; cũng như những đặc sản (tiêu biểu là

trái măng cụt) của vùng đất Thủ Dầu Một hơn 100

năm về trước Họ cũng rất chú ý đến quá trình hình

thành, thay đổi, phát triển mấy ngơi chợ chính của

TDM và cả vùng đất này

Cảm nhận chung của các tác giả nĩi trên: tuy

TDM chỉ là một tỉnh nhỏ ở vùng bán sơn địa, cĩ thể

cĩ những tiềm năng phong phú, cĩ một cảnh quan

sinh động, phong cảnh hữu tình nhưng lúc bây giờ

vẫn cịn là vùng đất khá hoang vu Đất nước con

người ở địa phương TDM đã để lại trong lịng du

khách những ấn tượng an bình, thanh thản với nhiều

mỹ cảm về vùng đất mà mấy ai cĩ thể tiên đốn

được rằng đến nay đang rộng mở một tương lai đầy

hứa hẹn trong sự phát triển và phồn vinh.

N.H.H

Tài liệu, sách kham khảo:

- Dẫn lại Huỳnh Ngọc Đáng “Phú Cường lịch sử văn hĩa và

- Nhiều tác giả, Địa chí Sơng Bé NXB THSB 1991.

- Dẫn lại phần “Thủ Dầu Một du ký” của Biến Ngũ Nhy, từ bài

viết của tác giả Phan Mạnh Hùng đăng trên TC Kiến thức

ngày nay số 855 trang 8+9.

- Nguyễn Hiếu Học, Dấu xưa đất Thủ XB 2009 và nhiều tư

liệu kham thảo khác cĩ liên quan đến nội dung bài viết trên.

Lương Trung Nghĩa

Người xưa giờ ở nơi nào Đường xưa vắng bóng, bạc đầu nhớ thương Bến phà năm cũ tơ vương

Mái chèo khua nước đò ngang ai chờ?

Lục bình tản mạn câu thơ Cầu vồng ai trải tóc mơ bên chiều?

Tình yêu lạc lối mỹ miều Lung linh dạ thảo gió liu riu buồn Người xưa mờ mịt tha hương Nhịp buồn thổ mộ dặm đường hư vô

“Ai về chợ Thủ ” câu hò

Đi qua bến cũ gọi đò sang sông Lao xao con nước lớn ròng Nhớ người xưa nhớ mênh mông nhớ người

L.T.N

Người xưa

Trang 8

Đã hơn 11 giờ khuya, khu nhà trọ Chánh Nghĩa

dìu dịu ánh đèn, nhiều người đã thiếp ngủ Phan

nằm dài trên ghế dựa xem tivi, thấy mí mắt mình nằng

nặng, chẳng biết có xem hết trận bóng đá này không?

Chợt tiếng chó sủa ăng ẳng, rồi tiếng xe máy dừng

trước cửa phòng trọ Một giọng quen thuộc vọng vào:

“Đức đây anh Phan ơi…”

Phan nhổm dậy, thoáng ngạc nhiên rồi mỉm cười

Đêm buồn có bạn đến tâm sự cũng vui.

Trong khi Đức dắt xe vào phòng, Phan với tay lấy

phích nước châm trà, chậm rãi hỏi: “Đêm hôm… lang

thang à?” Đức mỉm cười gật đầu Phan thấy nụ cười

sao tê tái?

Đức lặng lẽ chốt cửa rồi ngồi xuống ghế nhựa nhỏ

Phan lại hỏi: “Hay cậu đi đâu tạt qua đây?”

Đức móc chai rượu ngoại nhỏ dèn dẹt bằng bàn

tay trong túi áo khoác ra: “Buồn, nằm mãi không ngủ

được, viết cũng không được!… Sang anh uống rượu

chơi… May anh có nhà.”

Phan gật đầu cười: “Tôi mới đi Bình Long về chiều

nay Tìm thằng bạn mà không gặp.” - “Sao anh không

điện trước?” - “Alô mấy lần rồi… - Phan lắc đầu - Giờ nó

lên giám đốc cũng khó gặp…” Đức mỉm cười Nụ cười

lại tê tái Phan nói tiếp: “May gặp ông bạn khác mời

rượu, còn dúi cho cái phong bì Tôi cảm kích quá tặng

ông bạn tập thơ Tính không bằng trời tính Đời trớ trêu

mà cũng vui.”

Đức nghe rồi nhăn mặt, anh khui rượu, dùng nắp

làm ly rồi rót rượu đưa Phan: “Anh dùng trước.”

Phan ực luôn, khà một tiếng khen “ngon”, bảo:

“Cậu còn dư tập truyện nào mơi mới… Hay sách của

bạn bè cũng được, thì để dành cho tôi Tôi đọc xong

tặng lại mấy ông bạn yêu văn chương.” - “Thôi anh

ơi! Anh tặng chẳng lẽ họ không nhận? Chắc gì họ đã

đọc?” - “Sao lại không? Cậu bi quan bỏ xừ!” Đức im

lặng Phan nói tiếp: “Dẫu họ không đọc cũng chẳng

sao cơ mà Cứ phải tung ra, phải phát hành Biết đâu

vợ con hay anh em bè bạn họ thấy, tò mò mở ra đọc

Còn hơn xếp xó nhà.” - “Em thấy… kiểu phát hành ấy

kỳ kỳ, như ép người ta…” - “Tôi hiểu - Phan thở dài -

Tự ái cũng phải, nhưng hoàn cảnh tôi phải vậy Nghĩ

cho cùng tâm huyết cả đấy Theo tôi còn hay hơn khối

sách hot thổi phồng trên mạng - Tôi đọc thử vài trang

văn học thị trường ấy rồi, chán phèo! Nhất là kiểu viết

pha tạp nhiều ngôn ngữ với tiếng lóng hiện đại của các

cô cậu chín mười X Đọc không hiểu nổi? Quái đản! Tởm!” Phan nói vẻ phấn khích, rồi quay vào góc khạc nhổ, chiêu một ngụm trà, súc miệng, rồi lại khạc nhổ như để sạch miệng Xong mới rít điếu thuốc lào rõ dài, ngửa mặt phà khói lên trần cho thanh thản.

Đức mỉm cười nhìn nhà thơ, khí phách đấy! Anh kháy nhẹ: “Mình lạc hậu… Già rồi anh ơi!” Phan quay lại: “Cậu mà cũng nói thế à? Văn chương không có già trẻ mới cũ nhé? Chỉ có hay hoặc không hay thôi Văn chương phải sạch sẽ chứ không được thô tục Nếu không là tinh hoa thì ít ra cũng có chất văn chương.”

- “Ôi dào! Văn nghệ muôn màu muôn vẻ Những gì

dở, dổm, trước sau cũng bị đào thải Anh cứ yên chí.”

- “Biết vậy, nhưng bực quá! Không có người nói ra chúng cứ tưởng mình hay lắm.” - “Thì cũng là văn mình

vợ người Những người cầm bút ít nhiều cũng nhiễm bệnh ấy, thêm bệnh háo danh và điếc không sợ súng Đúng không ông anh? Phan cau mặt, gật gù: “Cũng đúng một phần…” Rồi cười hà hà: “Không điếc thì làm sao dám viết? Phải viết mới có tác phẩm mới chứ Hay dở còn tùy… Với tôi thì trước mắt phải viết để kiếm sống cái đã.”

Phan nói đến đây rồi đọc thơ: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ Thấm thía

thật! Ông Xuân Diệu không cơ cực đâu, phong lưu là khác, nhưng cảm thông chia sẻ được nỗi khổ của đồng nghiệp.” Đức nhấp rượu lắng nghe, cao hứng bình

tiếp: “Chữ khách giỏi cực! Thi sĩ chuyên nghiệp lắm

khi còn lận đận huống chi là khách vãng lai ghé qua vườn thơ Ông Xuân Diệu vừa cảm thông vừa cảnh báo thật sâu sắc.”

Phan vỗ đùi đánh đét: “Hay! Cậu phát hiện chính

xác! Anh em mình mới chỉ là khách thôi, chỉ là người

làm thơ, còn lâu mới được là thi sĩ.” Phan nói xong tự rót rượu uống liền hai nắp: “Cứ phải sống chết với nó.”

Đức tủm tỉm cười: “Mà lạ? Có những khách thơ ghé

qua, xuất hiện đôi lần, làm vài bài thơ, hay chỉ cần vài câu thơ, đã trở thành thi sĩ, những câu thơ làm ta phục và nhớ mãi Em cứ suy nghĩ về những hiện tượng này Thi sĩ là trời cho, là thiên tài, hoặc phải trăn trở, chiêm nghiệm lâu lắm mới bật ra những câu thơ hay đến như thế.”

Phan gật gù trầm tư: “Vậy càng phải sống chết với thơ, may ra…”

Phan dốc chai rượu rót đầy nắp cuối, nhấp một nửa rồi chuyền cho Đức: “Cậu viết văn tỉnh táo hơn tôi

Truyện ngắn: PHAN ĐỨC NAM

MA CHỮ

Động lòng anh muốn cầm tay

Em bảo chưa được! Sau này sẽ hay

Nguyễn Tiến Đường

Trang 9

Hôm nay tự dưng mình bàn chuyện thơ nghe lại hay

Thế nào? Đêm nay ngủ lại đây phải không?”

Phan hỏi vậy thôi chứ biết Đức sẽ ở lại khi dắt

xe vào phòng Cậu này đôi khi có những ý thích bất

thường, vừa nghiêm túc kiểu nhà giáo vừa văn nghệ

sĩ lông bông Có lần cậu ta nói em thích ngao du, ngủ

phòng trọ chật hẹp nóng nực, uống rượu suông với

anh, em thấy lạ và có cảm giác hơn… Trong khi mình

lại mong muốn có nơi rộng rãi yên ấm Đêm nay bất

chợt cậu ta đến, nói buồn Buồn gì không nói mà toàn

nói chuyện văn thơ, ừ cũng tại mình khơi mào… Cậu

ta không thổ lộ thì mình tế nhị không hỏi Khuya rồi,

nhường cậu ta ngủ giường, mình ngủ ghế này quen

rồi, đốt thêm cuộn nhang muỗi là ổn.

Khi đèn và tivi tắt, hai người chìm trong bóng tối thì

Đức chợt nói: “Em đến chào anh Mai em về Sài Gòn

Chắc lâu anh em mình mới gặp lại.”

Phan bật dậy: “Sao? ” - “Em trả lại nhà cho ông

Hòa nửa tháng nay rồi Ông ấy đã cho người thuê, nói

từ từ sẽ trả lại tiền cho em.” - “Thấy cậu nâng cấp sửa

sang đàng hoàng, chở cả đồ đạc trên Sài Gòn xuống

Tôi tưởng gia đình cậu về định cư ở đây chứ.” - “Thì vợ

chồng em cũng tính rồi Em làm ở Nhà máy Rượu, vợ

em làm ở công ty gần đó Từ Khu công nghiệp Sóng

Thần về Sài Gòn 20km, cũng bằng về Thủ Dầu Một

Vợ chồng muốn tạo cơ ngơi riêng thì về đây thuận lợi

và có điều kiện hơn Nhà đất ở Sài Gòn đắt lắm Bình

Dương đang phát triển Ông bạn giám đốc của em

nhiệt tình ủng hộ, giúp mở đại lý rượu Thế là em mạnh

dạn xúc tiến Các chú em hay tin gửi cho ba ngàn đô

Em mừng lắm Nói thật với anh lúc em chuẩn bị lấy vợ,

hôn phu em nói lương biên tập của anh chẳng thấm

gì, thức khuya dậy sớm viết cực khổ quá! Ông bạn

em cũng nói vậy Ông ấy mở công ty, rủ: “Anh có vốn sinh ngữ về làm với tôi, tôi trả gấp đôi lương biên tập.”

Em nghe vợ ngưng viết mấy năm, kinh tế kha khá rồi, nhưng em vẫn thấy như thiếu thiếu cái gì? Những con chữ cứ lẩn quẩn trong đầu, rồi đùng đùng viết luôn cái truyện về nhà máy rượu mình đang làm, không ngờ lọt vào topten báo Văn nghệ, thế là hứng khởi, lại say mê… Em đi lại giao lưu làm ăn trên đất Bình Dương, sau đó viết thêm được vài truyện hay hay Em nghĩ mình có duyên với Bình Dương, về đây vừa làm kinh

tế vừa văn nghệ thì vui biết mấy Ai ngờ…”

Phan quơ tay tìm ống thuốc lào: “Cậu kể tiếp đi? Thuận lợi thế sao lại bỏ ngang?” - “Nghĩ lại cũng số

cả Vợ chồng, nhà đất cũng có duyên số Tất cả sắp xong, nhà cửa gian hàng bảng hiệu sáng choang Vợ

em làm phó giám đốc kiêm kế toán trưởng một công

ty, xập xệ cô ta không chịu đâu Không ngờ khi em đưa

vợ xuống xem cơ ngơi thì chạm ngay hai người hàng xóm Ma cũ ăn hiếp ma mới Một bà bắt vợ chồng em xây thêm bức tường mới dài 15m, lý do để sau này

có lên lầu thì tránh chạm phải mép tôn nhà bà ta thò sang cả gang tay Một ông giăng kẽm gai trồng rau lấn phần sau đuôi nhà, kể oang oang với vợ em là đất nhà

có mả, có ma… Thật ra cái mả Tàu đá ong sạt lở nằm giữa ranh giới hai nhà đó có tự đời nào Khi sửa nhà

em bàn với ông ta đăng bố cáo xin phép bốc đi, mỗi nhà sẽ dài thêm vài mét Trong khi chờ đợi em cho thợ xây hẳn bức tường ngăn phía sau, để vợ em không thấy Chuyện này em không nói với vợ vì biết cô ta sợ

mà thâm tham và

ác thật! Thà họ nói ngay từ đầu để còn giải quyết, đây họ chờ vợ em xuống rồi mới ra đòn, làm

em không đỡ kịp

Vợ em khiếp quá, giận em vô cùng Nói tôi không thể

ở với ma, không thể ở cạnh những người hàng xóm

ấy được Tiền bạc

vợ em nắm, cô ấy không bỏ ra mua nhà thì em đành chịu Mà mua làm

Trang 10

gì khi vợ con không về ở?”

Phan thẩn thờ: “Thế… Cậu nhất định về Sài Gòn

thật à? ” - “Chứ biết sao bây giờ? Buồn lắm anh ạ

Mai em về ký đơn ly dị.” - “Lại đến thế cơ à?” - “Thật

ra âm ỉ lâu rồi Thoạt đầu em không để ý, sau lại nghĩ

khi có nhà riêng thì gia đình sẽ êm ấm Nhưng liên

tiếp những chuyện xảy ra, mâu thuẫn tích tụ, đến khi

chuyện lớn bùng nổ là tan nát.” - “Không thể cứu vãn

được nữa sao?” Đức im lặng Phan thở dài, hỏi tiếp:

“Còn công việc ở nhà máy rượu? Cậu làm ở đó thỉnh

thoảng lên đây chơi với anh em nhé?” - “Em xin nghỉ

rồi anh ạ Họa vô đơn chí Em bị tai nạn xe suýt chết

Ông giám đốc bạn em vừa bị đột quỵ mất Làm như có

nhiều chuyện đưa đẩy? Em muốn làm ở đó nữa cũng

được, nhưng buồn quá! Hạnh phúc gia đình quan

trọng nhất bị đổ vỡ thì em còn thiết gì nữa?”

Phan biết Đức đã quyết Người ngoài cuộc như

anh chẳng biết khuyên can an ủi cách nào?

Phan hút liên tiếp xong hai điếu thuốc lào thì nghe

Đức nói: “Giờ em cũng như anh thôi, phải làm lại từ

đầu.” - “Cậu còn mẹ và các em ở Sài Gòn, không phải

thuê phòng trọ như tôi, nói chung là có chỗ dựa Còn

quê tôi xa quá! Mãi Hà Tây.” - “Xa thì xa Sao anh

không về?” - “Bố mẹ mất cả rồi Anh chị em mỗi người

mỗi phận Nhớ quê hương, nhớ người thân kẻ thuộc

lắm nhưng chưa có điều kiện về thăm Tiền tàu xe có

ít đâu! Chẳng lẽ bao năm ra đi lúc về lại tay không?

Người thân ở quê cứ nghĩ tôi mải mê làm ăn, khá giả

thành đạt Tôi là thằng cao ngạo đầy sĩ diện Kẻ ly

hương thất bại chui lủi xứ người lắm lúc hổ thẹn ôm

mặt khóc thầm.”

Đến lượt Đức thở dài Hai người nằm im nghe tiếng

đồng hồ gõ tích tắc, tiếng thạch sùng tắc lưỡi than

thân trách phận…

Mãi sau Đức mới hỏi nhỏ: “Anh ngủ chưa?” Phan

cựa mình thay câu trả lời Đức hỏi tiếp: “Làm thơ, viết

báo kiếm sống… khổ lắm phải không anh?” Phan khẽ

xoay người: “Thôi mà! Ngủ đi.”

Phan nói “ngủ đi” nhưng sau đó lại hỏi: “Cậu về

Sài Gòn định làm gì? Biên tập báo nữa à?” - “Em nghỉ

đã lâu, cơ quan cũ bố trí người khác rồi Cứ về rồi hãy

tính Sài Gòn là đất báo chí, chịu khó viết chắc sẽ

sống được Nhưng anh ơi, ngày xưa em biên tập ở báo

Giáo dục và Thời đại, Tạp chí Tài Hoa Trẻ, Kiến Thức

Ngày Nay… quen biết nhiều bạn làm ở các báo Lúc

đó em viết bài giao lưu gửi đến, họ nể nang dễ đăng

Em đã thử rồi, cũng bài đó mà đề tên tác giả khác họ

thường bỏ qua, thật đó anh ạ Đó là ngày xưa, còn

bây giờ em chỉ là cộng tác viên, đâu phải viết lúc nào

cũng hay, dẫu ưu ái lâu lâu họ mới in cho một bài, vì

đăng liên tiếp một tác giả cũng kỳ Thế thì làm sao đủ

sống? Làm sao có tiền trợ cấp cho con? Lúc nãy em

hỏi anh vậy thôi, chứ em biết sống bằng nghề viết mà

không làm ở tòa soạn báo chí nào thì gian nan vất vả

lắm! May có ông nhà văn thương tình hứa chia sách

cho em biên tập ở Nhà xuất bản, mỗi trang 3 ngàn,

đó mới chỉ là hứa Trước mắt em phải xin đi dạy ở một vài Trung tâm lớp tối, theo bạn dạy kèm tư gia, để có khoản thu nhập căn bản đã, chuyện viết lách tính sau Thú thật với anh, chữ nghĩa như ma ám, em vừa yêu vừa sợ, mà những gì dính líu đến Ma thường hấp dẫn,

mê hoặc, dễ nghiện, khó dứt được, như ma túy, ma bài bạc, ma men, kể cả ma nữ…” Phan bật cười, Đức còn muốn tếu táo thêm chút nữa để quên buồn thì Phan nói: “Thôi ngủ, khuya rồi.”

Đức giật mình thức dậy, đã hơn 8 giờ Nắng sớm xuyên qua song cửa soi cho anh thấy Phan đang ngồi còng lưng, cặm cụi lúi húi viết gì đó vào một cuốn sổ

kê trên đầu gối Đức mỉm cười, nhà thơ đang say Mỗi người một kiểu viết, Đức thấy Phan hay dùng đầu gối mình làm bàn và viết bất kỳ lúc nào Đang đi với bạn, rôm rả nói chuyện, có lúc Phan bất chợt dừng lại, quay tìm chỗ ngồi tạm, cục đá cũng được, không thì ngồi bó gối tại chỗ, hí hoáy ghi nhanh vào cuốn sổ nhỏ bìa cứng lúc nào cũng mang theo, làm như lúc đó không viết thì ý tứ bay mất Bạn bè biết tính Phan chỉ mỉm cười, vừa đi vừa đợi Có lần Phan say lâu quá, Đức sốt ruột quay lại thì thấy anh vẫn ngồi đó, ngây ngây như mất hồn Đức gọi thì Phan vẫy tay, ý bảo các cậu cứ đi Sau đó gặp lại thế nào Phan cũng đọc thơ Đức là một trong số ít người được Phan cho xem sổ ghi chép đó Nét chữ to nguệch ngoạc, lắm chữ không đọc được Riêng những câu thơ hay, những bài thơ của các tác giả mà Phan yêu thích thì được chép cẩn thận Ngay trang đầu cuốn sổ Phan đã nắn nót ghi 4 câu thơ của Nguyễn Bính như tâm sự đời mình:

Ai bảo mắc duyên vào bút mực Suốt đời mang lấy số long đong Người ta đi kiếm giàu sang cả Mình chỉ mơ hoài chuyện viễn vông.

Sáng nay thấy ông anh lại đang say thơ, Đức mỉm cười lặng lẽ cuốn mùng Nhưng Phan nghe động liền buông bút, quay lại hỏi: “Ngủ ngon không?” Đức chưa kịp trả lời thì Phan nói tiếp: “Vệ sinh đi rồi ra uống trà Không có cà-phê cho cậu đâu Làm gói mì nhé?” Đức cười gật đầu Phan nói nhỏ: “Chả còn quả trứng nào.” Đức bước xuống giường: “Hay anh em mình đi ăn phở, rồi em về.” Phan lắc đầu: “Cà-phê pha rồi Món mì nhanh thôi Ra đường cà kê lắm Tôi cần chỉnh lại bài thơ…”

Hai người nhâm nhi trà đặc Phan nói: “Đêm qua nghe cậu kể chuyện… Tôi nghĩ đến chuyện mình Chuyện tôi cũng buồn, buồn lắm! Tôi chẳng muốn

kể với ai, muốn chôn chặt, giấu kín, nhưng rồi có lúc lại muốn viết chuyện đời mình, viết để đó, viết cho riêng mình thôi Rồi lại nghĩ: Viết cho riêng mình, về những gì mình đã biết thì viết làm gì? Nhất là chuyện buồn?…” Đức trầm tư: “Cũng là cách giải tỏa tâm sự Anh viết đi Chuyện anh chắc hay.” Phan lắc đầu

Trang 11

gượng cười.

Đức ngước lên, chỉ vào bức ảnh đơi tình nhân

in màu lộng kính to bằng nửa mặt bàn treo trên

vách, thăm dị: “Anh và chị ấy đẹp đơi quá! Cứ

như tài tử xi-nê Vợ anh đấy phải khơng?” Phan

gật, nhưng sau đĩ lắc đầu, mái tĩc dài lốm đốm

bạc bồng bềnh, anh ứa nước mắt thở dài thườn

thượt Đức biết đã động đến phần sâu thẳm

của một tâm hồn, anh khơng dám hỏi thêm, cúi

xuống lặng lẽ rĩt trà.

Bỗng Phan ơm mặt khĩc nức, khĩc hu hu,

ngon lành như một đứa trẻ, khiến Đức ngạc

nhiên hốt hoảng: “Xin lỗi anh…”

Phan nắm chặt hai bàn tay, từ từ bình tĩnh lại,

chơm chớp đơi mắt đỏ nhìn Đức: “Khơng khơng…

Cậu khơng cĩ lỗi Tại tơi, tại tơi cả thơi…” Nĩi

xong đấm ngực thình thịch.

Đức nhăn mặt khĩ hiểu lẫn thương hại, anh

nghĩ mình nên rút Đức đứng lên, nĩi nhỏ: “Em

về nhé Cĩ dịp em sẽ đến thăm anh.” Phan rối

rít: “Khơng khơng… À chưa… Cậu ở lại chốc nữa

được khơng? Với cậu thì tơi muốn kể, biết đâu

giải tỏa phần nào.” Đức cịn chần chừ thì Phan

tiếp: “Cậu đã tâm sự chuyện gia đình mình, thì

tơi cũng muốn kể cho cậu nghe chuyện của tơi

Đã bao lần tơi muốn viết ra mà khơng được, cứ

nghĩ đến nàng là tơi khĩc!…” Rồi kéo tay Đức

ngồi xuống: “Tơi kể nhanh thơi, chẳng dám kéo

dài sâu vết thương…”

Đức ngồi xuống, Phan pha bình trà mới và

chậm rãi kể: “Từ nhỏ tơi đã cĩ máu văn nghệ,

phải nĩi là mê say Lớn lên tơi vào Trung đồn

Tên Lửa bảo vệ vùng trời Hà Nội Nhờ giọng

hát và ngâm thơ hay, tơi được điều về Đồn văn

cơng Hà Tây Đất nước thống nhất, tơi vào Nam

xây dựng kinh tế mới, làm cán bộ phong trào ở

Cơng ty cao su Bình Long Lúc ấy tơi trẻ khỏe,

to cao, khá điển trai và nghệ sĩ nên cĩ nhiều cơ

mê Nhiều anh trong cơng ty phát ghen với tơi

Tơi hãnh diện, cĩ chút tự kiêu Nhưng rồi một

ngày tơi phải đổ vì cơ nữ sinh 18 tuổi Nàng cĩ

giọng hát rất thanh và cao vút, là giọng nữ chính

trong ca đồn nhà thờ Giọng hát nàng khiến

tơi ngơ ngẩn, sắc đẹp hiền dịu của nàng làm tơi

ngất ngây Từ khi quen nàng, những bĩng hồng

trong tơi mờ nhạt Tơi khơng dám hoang đàng

mà trở nên chững chạc Chúng tơi đã cĩ những

giây phút bên nhau thơ mộng, vơ cùng lãng

mạn Những đêm trăng, cả những đêm mưa…

Trong túp lều sau rẫy, nàng nép vào vai tơi hát

nho nhỏ bài Giọt Mưa Thu của nhạc sĩ Đặng Thế

Phong, tơi hát bè theo Nàng của tơi say đắm,

tình tứ, nhưng rất đứng đắn, chỉ cho phép ơm ấp

vuốt ve Mỗi khi tơi háo hức thì nàng quyết liệt

ngăn lại: “Em cấm Sau đám cưới đã.”

Từng cơn gió khẽ qua thềm Hôn lên những sợi tóc mềm thướt tha Nắng thu như dãi lụa là

Êm đềm buông trải mượt mà lối quê

Cúc xinh chúm chím xuân thì Bướm vờn tình tứ câu gì trao nhau?

Mù u bông trắng trên cao Thả hương theo gió ngọt ngào mùa yêu

Ai ca thánh thoát từng chiều Lời thương tiếng nhớ đọng nhiều yêu thương Tình thu một khúc vấn vương

Tình thơ xao xuyến chút tương tư lòng.

Chông chênh giữa cõi vô thường

chông chênh!

M.T H

Trang 12

“À tôi phải kể thêm cho cậu nghe việc quan trọng

này: Gia đình nàng rất gia giáo, cha nàng kỹ tính và

khó Khi hai con chớm lớn, ông làm cho mỗi con một

phòng riêng để tiện sinh hoạt học hành Nàng kể:

“Cứ 8 giờ tối đọc kinh xong là cha em đóng cổng

khóa cửa, bắt hai con vào phòng Tuổi mới lớn anh

trai em nghịch lắm, hay trốn đi chơi với bạn Trước

khi đi đều nhờ em cài lại cửa bếp, rồi dặn thức canh

mở cửa cho anh vào Được một thời gian thì cha em

bắt gặp, ông đánh hai đứa một trận khiếp lắm! Từ đó

ông ráp thêm khóa cửa sau Trong nhà chỉ mình ông

giữ chùm chìa khóa, đi đâu mới giao cho mẹ em Thế

mà sau đó anh của em vẫn lẻn đi được đấy.” Tôi thắc

mắc đi bằng cách nào? Nàng ngập ngừng… rồi thích

thú kể: “Nhà em vách ván Anh ấy cưa một đoạn ván

vừa đủ cho người chui ra phía dưới góc gầm giường

Chỉ cần rút chốt bên trong là tháo ra ráp lại mảnh ván

dễ dàng, ở trong hay ngoài đều không thấy được Em

ở sát phòng bên mà cũng không biết Mãi một đêm

em thức học thi, nghe tiếng cọc cạch, em nghĩ con

Ky sục bắt chuột Em thử hỏi: “Ai đó?” để đánh động

Anh ấy vội: “Suỵt! Anh đây ” Từ đó em mới biết được

bí mật của ông anh Em đe: “Đi vừa vừa chứ, em

mách đấy.” Anh ấy cười, năn nỉ… - Nàng bẽn lẽn thú

thật: “Nhờ cánh cửa ấy mà em mới lẻn ra gặp anh

được.” Tôi cười gật gù: “Thảo nào những tối anh Toản

có nhà, anh giả tiếng chim gọi mãi mà em chẳng ra.”

Đấy, chuyện tình tôi thơ mộng, éo le, gian nan và

cũng đầy hấp dẫn Biết kể thế nào cho đủ đây? Biết

nói về nàng thế nào đây? Lan là Nhạc, là Nàng Thơ

của tôi Từ khi yêu Lan tôi làm thơ Nhờ thuộc nhiều

thơ hay của các thi sĩ tiền chiến nên tôi ảnh hưởng,

làm thơ cũng khá hay Làm được bài nào tôi đều khoe

nàng Thỉnh thoảng nàng góp ý và rất thích ngâm thơ

tôi Hai tâm hồn đồng điệu cảm thấy không thể thiếu

nhau được nữa

Nhưng khi tiến tới hôn nhân thì gia đình Lan không

đồng ý Thoạt đầu tôi cũng không hiểu tại sao? Sau

mới lờ mờ hiểu ra những bức tường thành kiến Tôi đã

gạt bỏ tất cả, chấp nhận mọi điều kiện cha nàng đưa

ra, nhưng ông vẫn im lặng, có thể dưới mắt ông thì tôi

chỉ giả vờ, hay thuộc hạng xướng ca vô loại? Khi tôi

được Giải thơ của Công Đoàn Cao Su, nàng khoe với

cha thì ông đọc ngay hai câu thơ Nguyễn Bính: Nhất

kiêng cấm lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi! Bạc

lắm con! Nàng kể làm tôi tự ái Nàng ôm tôi vuốt ve:

“Cha lo cho em thôi Anh cứ làm thơ đi, làm thơ cho

em ngâm nhé?” Tôi đã hết sức nhẫn nhịn, cố gắng,

thậm chí tìm cách mua chuộc tình cảm của gia đình

nàng, như giới thiệu anh nàng vừa tốt nghiệp kỹ sư

Lâm Nông về công ty, vừa làm chuyên môn vừa tham

gia văn nghệ Anh nàng hát cải lương rất mùi Mẹ

nàng hiền không nói gì Nhưng cha nàng một hôm

bảo tôi: “Anh thông cảm, con Lan sắp lấy chồng Tôi

đã hứa gả rồi.”

“Tuyệt vọng quá! Tôi hẹn gặp nàng, nói: “Không

còn cách nào nữa! Nếu em thật tình yêu anh thì chúng

ta cùng trốn Khi có con rồi chắc bố mẹ sẽ thương.” Nàng đắn đo một chút rồi gật đầu: “Thì sống chết

có nhau Nhưng chúng ta đi đâu? Làm gì để sống?”

- “Anh đã suy nghĩ tính toán Phải liều thôi Phải hy sinh em ạ Anh sẽ bán thổ cư và bộ sườn nhà công

ty cấp cho - bán rẻ cũng được Tạm thời mình về Thủ Dầu Một thuê nhà, rồi tìm mua căn hộ nhỏ Anh có ông sếp văn nghệ trên đó đỡ đầu Hôm ông ấy về trao giải có nói sao anh không về tỉnh với tôi, hoạt động văn nghệ rộng hơn Còn em thì xin làm công nhân cũng dễ.” Hai chúng tôi quyết tâm, sắp xếp hẹn nhau vào một ngày khoảng 12 giờ đêm…”

“Tối trước khi tôi hẹn Lan cùng trốn, tôi mua con vịt quay và thùng bia nhâm nhi với mấy ông bạn, nói dối là trúng số trăm ngàn, thực ra ngầm chia tay, nhưng mục đích chính là kéo anh của Lan vào bàn

để nàng dễ trốn qua cánh cửa bí mật Chúng tôi đã hẹn nhau sau rẫy, qua cầu treo Suối Đá là có đường dẫn ra tỉnh lộ.

Giữa cuộc nhậu, Toản đi tiểu, khi trở vào bàn hỏi tôi: “Anh định đi đâu mà cột sẵn ba-lô sau xe vậy?” Tôi nói cho qua: “À… Mai tớ đi Đồng Xoài đám giỗ, chắc ở đó vài ngày…”

10 giờ rưỡi, ăn uống xong, bạn rủ đi karaoke, mọi khi tôi cũng đi, nhưng hôm nay thoái thác: “Mai tớ đi sớm cho mát.”

Chẳng may sau đó Toản không đi hát mà thẳng về nhà Sau này anh ta kể khi mở cổng, chợt thấy thấp thoáng bóng người, nhưng thấy con Ky không sủa nên nghĩ mình trông lầm Đến khi vào phòng bằng lối cửa bí mật rồi mới nghi nghi… Thử gõ cửa phòng em gái, mãi không nghe trả lời Toản nhớ lại lúc nãy thấy ba-lô của tôi… Rồi nghĩ mọi khi tôi uống nhiệt tình, sao hôm nay lại cầm chừng? Mà lại đứng ra mở tiệc? Nỗi nghi ngờ cảnh giác tăng lên Tôi không ngờ Toản

về phe cha và ngầm theo dõi Anh ta đập mạnh cửa phòng Lan và kêu lớn

Lúc ấy hơn 11 giờ, tôi đã giấu sẵn xe vào lùm cây Thấy còn hơi sớm, tôi định chờ chút nữa rồi qua cầu treo vào lều đón Lan Bỗng tôi nghe tiếng kêu ơi ới, tiếng quát gọi phía cuối rẫy nhà Lan Tôi lo lắng, nghe ngóng Đúng là bên ấy có tiếng gọi và người lùng sục… Im lặng một lúc… Tôi chưa hiểu tại sao? Đoán là Lan bị gia đình phát hiện, nàng đang trốn, có thể đã

bị bắt? Nguy quá! Làm sao đây?

Trời ơi! Đáng lẽ lúc ấy tôi phải tỉnh táo, phải can đảm chạy qua cầu treo để cứu người yêu, thì tôi đã

sợ và ngần ngại, cứ núp đó mà đoán già đoán non Không ngờ Lan lúc cùng đường đã liều lĩnh băng qua cầu treo để tìm tôi, phía sau có người đuổi theo Trong lúc hốt hoảng, vội vã, nàng đã trượt chân rơi xuống!… Tôi nghe rõ tiếng Lan kêu thất thanh! Lúc

ấy tôi quên hết sợ hãi, băng mình lội xuống suối cứu Lan Sau đó tôi cùng cha và anh Lan đưa nàng đi

Trang 13

cấp cứu.

Nhưng Lan khơng qua khỏi cậu ạ Suối cạn

nhiều đá… Nàng mất trên tay tơi!”

Phan kể xong rồi ơm mặt khĩc rưng rức, đấm

ngực gào lên: “Tại tơi rủ nàng đi Tơi đã giết nàng!

Tơi giết đời tơi! ”

Đức nhăn mặt đứng lên Phan gạt nước mắt,

chợt vớ lấy cuốn sổ, lẩm bẩm gì đĩ rồi cúi xuống

ghi nhanh, những con chữ hiện ra uốn lượn như

nhảy múa.

P.Đ.N

Kim Ngoan

Mây nợ gió những lần đưa tiễn

Những chuyến ngao du tận chốn xa nào

Thuyền nợ biển những lời tình tự

Mãi âm vang say đắm, dâng trào

Trăng vàng nợ vần thơ rao bán

Từ tận cùng đau khổ của thi nhân

Dòng sông nợ hàng dừa êm ả

Đứng nghiêng mình chải tóc ngắmhoàng hôn

Đồng lúa chín nợ bàn tay cần mẫn

Người nông dân khuya sớm vun trồng

Mùa hạ nợ những hàng phượng vĩ

Gọi ve sầu trỗi khúc nhạc hoài mong

Mùa thu nợ rừng cây thay áo

Trải thảm vàng nhân thế ngẩn ngơ

Mùa xuân nợ mùa đông băng giá

Ủ men nồng bừng nở hoa mơ

Cảm ơn đời cho ai đã nợ ai

Cảm ơn đời cho ta đã nợ nhau

Cho em nợ anh một lời hẹn ước

Bởi ngại ngần nên giấu mãi trong tim

Đường lô dài năm tháng, Dấu chân bố in hằn.

Con ướm theo từng bước, Có hiểu được tình cha!

Hai mươi năm như đã Thắm đậm nghĩa tình sâu, Cây cao su yêu đất, Đất dâng mật cho người.

Dẫu khó nhọc, buồn, vui Biết bao đời chăm chút, Nay con đà nâng bước, Tiếp nối bước bố đi.

Rồi, bố, con “Đồng chí!”, Cùng chung sức dựng xây.

Hai mươi năm trồng cây, Nay đến ngày hưởng phúc!

T.A.T

Trịnh Anh Tuấn

Dấu chân nối tiếp

Trang 14

Đoản văn: ĐỖ MỸ LOAN

Chỉ còn một tuần lễ nữa thôi, mùa hè sẽ kết thúc

An sẽ trở lại trường, gặp lại thầy cô và bè bạn

sau mấy tháng nghỉ học Năm học tới, An sẽ chính

thức là học sinh lớp năm Nghĩ đến đây, cô bé nhẹ

mỉm cười, lòng rộn lên niềm vui sướng

Nhưng rồi nụ cười lại nhanh chóng tắt lịm trên đôi

môi An Cái viễn cảnh đen tối thoáng trở về trong tâm

trí cô bé An nghĩ đến ba mình thật nhiều Ba đã một

đời hy sinh cho An từ khi mẹ bị bệnh nặng qua đời

Làm thân gà trống nuôi con, ba đã không nề gian khổ,

một nắng hai sương để nuôi An khôn lớn

An thương ba ghê lắm! Ba là người thân duy nhất

của An nên bao nhiêu tình thương cô bé dồn hết cho

ba mình Ba An bị tật bẩm sinh ở mắt nên không phải

đi bộ đội như những người đàn ông ở xóm Chính nhờ

vậy mà ba mới có thời gian kề cận chăm sóc, nuôi

dưỡng An sau ngày mẹ ra đi mãi mãi Lúc ấy An nhớ

mình còn bé lắm An cứ khóc đòi mẹ mà chưa biết thế

nào là nỗi buồn tang tóc

Hai cha con sống cùng nhau trong một gian nhà

nhỏ cuối xóm Phía trước nhà là hàng rào dâm bụt

lá xanh tươi, chen lẫn mấy cánh hoa đỏ rực như lửa

trông thật ấm áp Ba thích trồng cây cảnh nên nhà An

lúc nào cũng được trang hoàng bởi hoa lá Đằng sau

nhà là khoảng đất không rộng lắm Ngoài một số cây

ăn quả như chuối, bòn bon, chôm chôm…, ba còn

phân luống số đất còn lại trồng mấy liếp rau sạch

Ngày ngày, ba và An thay phiên tưới bón, chăm sóc

nên cây cối, rau cải xanh tốt lắm

Cứ vài hôm, ba đốn mấy quày chuối sứ, chuối già,

cắt rau cải đem ra chợ bán, lấy tiền mua gạo, thịt…

Thỉnh thoảng ba mang cần câu ra bờ sông gần nhà câu

cá bống Và nhiệm vụ của An là phụ ba làm cá rồi bắc

lên bếp lửa riu riu kho cho thấm An cũng không quên

hái một mớ rau dền đem luộc Nước rau dền thêm

chút bột nêm thành món canh An rất ưa thích Còn

rau dền chấm với cá bống kho ăn với cơm nóng thật

không gì ngon bằng Đến bữa cơm, hai cha con vừa

ăn vừa chuyện trò rôm rả thật vui

Ngoài việc trồng tỉa cây trái trong vườn, ba An còn

giúp phụ hồ ở một số công trình xây dựng Nhờ tính

tình hiền lành, siêng việc nên ai cũng quý mến ba An

Cuộc sống gia đình An thật ấm êm cho dù thiếu vắng

bàn tay dịu dàng của mẹ

Riêng An, cô bé cảm thấy cuộc sống có ba như vậy là vô cùng hạnh phúc Cũng có đôi lúc cô bé tủi thân, thèm vòng tay yêu thương của mẹ, nhưng nhìn dáng ba lầm lũi đi trong mưa gió, An không dám để

lộ cho ba biết, sợ ba buồn thêm Thương ba, An chỉ biết cố gắng vâng lời và học giỏi để ba vui lòng Đêm đêm, An ngồi vào góc học tập học hành, làm bài tập

cô giáo cho về nhà Điều gì An không hiểu, cô bé nhờ

ba giảng lại Suốt mấy năm liền, cô bé luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi, tích cực tham gia mọi phong trào của Đội đề ra An là niềm vinh dự của ba, cô bé tin chắc như thế Cứ mỗi đợt sơ kết học kỳ hay tổng kết năm học, An đều mang về gói phần thưởng xinh xắn

để khoe với ba Ba ôm An vào lòng, ánh mắt lấp lánh niềm vui An nhìn ba, lòng đầy yêu mến và biết ơn.Cuộc sống của hai cha con An sẽ vô cùng hạnh phúc nếu như không có buổi sáng đầy xui rủi ấy Trong khi ba cùng các chú công nhân leo lên giàn giáo thì đột nhiên ba bị choáng, té từ trên cao xuống Ba được đưa ngay đến trạm xá gần nhà và sau đó chuyển bệnh viện tuyến trên do vết gãy ở xương chân khá nặng Ba phải nằm viện mất cả tuần lễ Thời gian ấy, cô bé phải túc trực cạnh giường bệnh chăm sóc ba Thấy An nhỏ nhắn và yếu đuối, ai cũng thương Mỗi khi ba có việc cần phải di chuyển như đi chụp X quang hoặc siêu

âm, các cô chú thân nhân của các bệnh nhân nằm cùng phòng với ba luôn sẵn sàng giúp đỡ

Chuyện tiền nong chi phí cho bệnh viện thực sự là nỗi lo lắng của ba và cả An nữa Tiền hỗ trợ của chủ công trình, và số tiền ba dành dụm bấy lâu đã cạn dần Việc đi lại của ba vẫn còn khó khăn Đôi nạng lúc nào cũng bên cạnh ba Thế là mọi việc lớn nhỏ trong gia đình, một mình An phải cáng đáng Nhìn An gầy guộc,

ốm yếu phải quần quật việc bếp núc, giặt giũ cho hai cha con… đến việc chăm sóc, thu hoạch rau trái ngoài vườn, ai cũng không khỏi xót lòng Ngước nhìn tờ lịch trên tường, An nhẩm tính và giật mình: Ngày đăng ký Chuyện của An

Trang 15

nhập học cũng chỉ cịn mấy hơm nữa mà thơi Nghĩ

đến bao khoản tiền phải đĩng đầu năm học, mặt cơ bé

buồn hiu và trĩu nặng lo âu

Mấy năm trước, gần đến ngày khai giảng năm học

mới, ba thường sắm cho An hai bộ đồng phục Năm

nay chắc cơ bé phải mặc quần áo cũ của năm lớp Bốn

Rồi đến dụng cụ học tập, sách giáo khoa lớp Năm,

cơ bé cũng chưa sắm sửa gì cả May là hơm lễ bế

giảng năm học, An nhận được hai phần thưởng Một

phần thưởng với thành tích là học sinh xuất sắc trong

học tập và phần cịn lại do An đã tích cực trong cơng

tác Đội Hai phần thưởng tính ra hơn chục quyển vở

Chiếc cặp da, cây bút máy, bút chì và thước kẻ An xài

vẫn cịn tốt lắm Ngày mai, nhất định cơ bé sẽ mang

tất cả ra kiểm tra lại

Theo lời dặn của bác sĩ, sáng hơm nay ba phải đến

bệnh viện tái khám Bên chủ đầu tư cơng trình đã nhờ

chú tài xế đánh xe chở giúp cho ba Đến nơi, chú ấy

phụ đưa ba vào chỗ ngồi rồi trở ra cổng coi xe Một

mình An chạy đi đăng ký, đưa ba đi chụp X quang và

đợi đến lượt khám Nhìn kết quả chụp X quang, bác sĩ

khẽ mỉm cười làm An nghe yên tâm hơn Với gương

mặt phúc hậu, bác sĩ báo cho biết chân ba An đã phục

hồi khá tốt và hy vọng chừng hai tuần lễ nữa sẽ tháo

bột Niềm vui như ịa vỡ Mặt ba An dãn ra Bao nhiêu

đau đớn giờ như tan biến Nghĩ đến ngày ba tháo bột,

đi lại bình thường, cơ bé mừng ghê lắm!

Trưa về đến nhà, bụng đĩi mà bếp núc lạnh tanh,

hai cha con tự thưởng mỗi người một tơ mì Lẩu Thái

chua cay Vừa ăn An vừa hít hà, nụ cười hạnh phúc trở

lại rộn ràng trong gian nhà nhỏ Nắng lung linh trên

giàn hoa dâm bụt trước cửa làm An thấy cảnh vật như

gần gũi, yêu thương hẳn lên

Ăn trưa xong, An leo lên chiếc võng mắc ở hàng hiên làm một giấc say sưa Cơ bé như lạc vào khu vườn cổ tích cĩ ong bướm rập rờn bay lượn bên những cánh hoa rực rỡ sắc màu Giĩ nhè nhẹ thổi làm mấy sợi tĩc bay bay khiến An giật mình mở chồng mắt Trên chiếc ghế đẩu bắc ngồi hiên nhà, ba đang loay hoay lau chùi chiếc cặp da của An Bên cạnh ba là chiếc bút máy và bình mực tím Ba đã giúp con rửa lại ống mực cho khỏi nghẹt Thật xúc động trước sự quan tâm lo lắng của ba, An nghe cay cay khĩe mắt Cơ bé

kể cho ba nghe dự định của mình trong năm học mới, luơn cả việc sẽ mặc lại bộ đồng phục năm cũ Hai cha con say sưa trị chuyện mãi đến khi cĩ tiếng gọi cửa của ai văng vẳng ngồi cổng rào An chạy vội ra đĩn khách Cơ bé ngỡ ngàng khi thấy trước mắt là cơ giáo chủ nhiệm năm học vừa qua Bên cơ là các bạn Cỏ May, Mây Trắng, và Trăng Khuyết… Mấy nhỏ bạn chung lớp và cùng tổ học nhĩm với An An mời cơ

và các bạn vào nhà Cơ giáo cho biết hai tháng nay cơ

về quê vừa trở lại trường nên giờ mới hay tin ba An

bị nạn Cơ đại diện tập thể giáo viên trường ghé thăm

ba An, báo tin An được Hội đồng nhà trường xét miễn giảm các khoản phí đầu năm cho học sinh cĩ hồn cảnh khĩ khăn

Cả ba và An đều xúc động khơng nĩi được thành lời Nỗi lo âu trĩu nặng mấy ngày qua giờ thật nhẹ nhỏm, sáng bừng niềm hy vọng Tiễn cơ giáo và các bạn ra về khá lâu mà An vẫn đứng lặng người trước cổng Hồng hơn đã xuống Nắng đã nhạt dần Tiếng bầy chim gọi đàn về tổ ríu rít một khoảng trời An chợt nhớ đến bữa cơm chiều chưa nấu và ba chân bốn cẳng cơ bé chạy vội vào nhà

Đ.M.L

Chiếc lá rụng xuống chiều

Thu buồn như mắc lỗi

Nghe tiếng chim quốc gọi

Mây rối trời hiu hiu

Văn Trạch

Nỗi niềm cùng thu

Thu chầm chậm qua đó Heo may ướt nỗi niềm Trong gió chiều hoang hoải Tóc chừng có bạc thêm

Bao thu đã qua đi Nhiêu thu còn quay lại Hai tay cầm câu hỏi Ném vào thu – Tiếng cười!

7/2016 - V.T

Trang 16

Thoáng nắng thu về trên tóc em Từng sợi heo may từng sợi mềm Nắng ngã êm đềm vào chân tóc Nhuộm màu thu nhạt phai sắc xanh

Mưa thu chớm về trên tóc em Từng giọt ngâu nhàn nhạt nhuốm sầu Lất phất giọt dài đan giọt vắn Trắng mái đầu điểm sương bụi ngâu

Con đường bốn mùa ta đi đó Đã thấy lưa thưa lá úa vàng Đã nghe chiều buồn se sắt gió Thu vơi đầy tâm tư miên man

Xuân đã lùi sâu vào xa lắm Chồi non là cành nhánh lâu rồi Mùa đơm hoa trái giờ xưa cũ Lá úa cành trơ thu tiếp ngôi

Vẫn biết hạ đi thu sẽ đến Mà thu sang vẫn lắm ngỡ ngàng Dòng sông đời khúc bồi khúc lở Nắng mưa thu bồi lở mênh mang

L.N.H

Ngọc Hùng

Chớm thu

Lê Minh Vũ

Viết cho tháng tám

Tháng tám mùa thu

Ba gom mây trắng kết thành nhung nhớ

Bầu trời trong xanh chớm lạnh heo may

Nụ cười thiên thần trên môi con rạng rỡ

Nghe ấm nồng tình yêu ban mai.

Tháng tám mùa thu

Dành cho chúng ta những ngày vui bất tận

Ba nắm tay con nghe yên ấm lạ thường

Vòm trời xanh thắm mộng yêu thương

Những khát khao cháy tràn hy vọng

Gió mùa khẽ hát khúc thu xa.

Tháng tám lung linh

Thơ mềm như nhánh liễu rũ ven hồ ngày áo trắng

Ký ức một thời

Sân trường đầy hoa nắng

Chỉ mùa thu chứng kiến gã trai khờ

Và khung trời xanh ước mơ.

Tháng tám nên thơ

Những thanh âm ngân trong chiều

Chật ngăn ký ức cuộc đời

Tháng tám ánh lên những gam màu kỷ niệm

Hạnh phúc tỏa từ ánh nhìn thánh thiện

Lung linh những vì sao

08/2016 - L.M.V

Tặng An Nhiên và Gia An

Ngày đăng: 30/04/2022, 00:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w