Quan điểm phát triển nhà ở Phát triển nhà ở là một trong những nội dung quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; phát triển nhà ở gắn liền với phát triển đô thị theo
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2016-2019
Số lượng nhà ở
Số lượng nhà ở tại tỉnh Bình Dương đã tăng nhanh qua các thời kỳ, thể hiện sự phát triển đô thị mạnh mẽ trong khu vực Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, trước năm 1975, toàn tỉnh có tổng cộng 9.766 căn nhà ở Trong giai đoạn 1975-1999, số lượng nhà ở đã tăng thêm 100.063 căn, đánh dấu sự mở rộng đáng kể của khu dân cư Đến giai đoạn 2000-2004, số lượng nhà ở tiếp tục tăng thêm 167.312 căn, phản ánh xu hướng đô thị hóa nhanh chóng tại Bình Dương.
Tổng hợp báo cáo số liệu năm 2019 toàn tỉnh Bình Dương có 831.505 căn nhà
Bảng 1: Số lượng nhà ở theo thời gian xây dựng Thời gian Tổng số căn Cộng dồn
Nguồn: Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở và số liệu tổng hợp
Chất lượng nhà ở
Chất lượng nhà ở tại Bình Dương đã có sự cải thiện rõ rệt theo thời gian, chủ yếu tập trung vào việc nâng cao tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố Các loại nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ ngày càng giảm, đặc biệt đến nay toàn tỉnh không còn hiện diện các căn nhà dột nát, xuống cấp nữa.
Năm 2015, tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 33% và nhà ở bán kiên cố chiếm 66,2%, cho thấy không còn nhà đơn sơ Đến năm 2016, tỷ lệ nhà ở kiên cố tăng lên khoảng 36,4%, trong khi nhà ở bán kiên cố đạt khoảng 62,8%, tính trên số nhà xây dựng mới hàng năm.
Hiện tại, chưa có số liệu chính thức về chất lượng nhà ở của tỉnh từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 Theo báo cáo từ các địa phương, tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt trên 99%, trong đó các tỉnh như Thuận An và Dĩ An đều đạt tỷ lệ 100%, cho thấy mức độ đảm bảo an toàn và chất lượng nhà ở của địa phương.
An, Tân Uyên, Dầu Tiếng; Thủ Dầu Một khoảng 99,8%; Bến Cát khoảng 99,6%.
Tổng diện tích sàn nhà ở
Dưới đây là các câu chính chứa ý nghĩa của đoạn văn, phù hợp với quy tắc SEO: "Diện tích nhà ở tại Bình Dương đã tăng qua các năm theo báo cáo từ các sở, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố." "Năm 2015, diện tích nhà ở của tỉnh Bình Dương đạt 46,45 triệu m² sàn." "Trong đó, diện tích nhà ở khu vực thành thị là khoảng 37,452 triệu m² sàn, còn khu vực nông thôn đạt 8,997 triệu m² sàn."
Tính đến thời điểm tháng 12/2019, diện tích sàn xây dựng nhà ở toàn tỉnh Bình Dương đạt khoảng 70,78 triệu m 2 sàn
Tuy nhiên, so với Kế hoạch, diện tích sàn của một số loại hình nhà ở phát triển thêm vẫn chưa đạt Nguyên nhân:
- Chỉ tiêu diện tích sàn phát triển mới của người dân tự xây đạt thấp so với
Kế hoạch ban đầu chưa phản ánh chính xác nhu cầu thực tế của người dân, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nhiều người ưu tiên chọn mua nhà tại các dự án nhà ở thương mại vì hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội đã hoàn thiện, đảm bảo sự ổn định về nơi ở cả ngắn hạn lẫn lâu dài.
Chỉ tiêu diện tích sàn phát triển mới của nhà ở xã hội chưa đạt so với kế hoạch đề ra Mặc dù đã tập trung triển khai các dự án, nhưng do gặp khó khăn về cơ chế, chính sách, đất đai và nguồn vốn, kết quả thực hiện vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra, ảnh hưởng đến tiến độ phát triển nhà ở xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Việc điều chỉnh tỷ lệ phát triển các loại hình nhà ở trong Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2016-2020, đặc biệt là điều chỉnh Kế hoạch phát triển nhà ở năm 2020, là cần thiết nhằm đảm bảo đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân của tỉnh đến năm 2020 Điều này giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhà ở của các tầng lớp dân cư, phù hợp với thực tiễn phát triển của địa phương.
Bảng 2: Tổng diện tích sàn nhà ở giai đoạn 2016-2019
Nguồn: Số liệu tổng hợp
IV Chỉ tiêu Diện tích nhà ở bình quân của tỉnh
Bảng 3: Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người giai đoạn 2016-2019
Diện tích nhà ở bình quân của tỉnh (m 2 / người)
Năm 2016 2017 2018 2019 Dự kiến đến năm 2020
Nguồn dữ liệu được tổng hợp từ các báo cáo của Sở Xây dựng và UBND tỉnh Bình Dương, bao gồm số liệu kế hoạch và báo cáo hàng năm cũng như số liệu thực tế từ địa phương và Sở Xây dựng Trong giai đoạn 2016-2019, chỉ số diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người của tỉnh Bình Dương đạt khoảng 28,8 m²/người vào năm 2019, gần sát mục tiêu đề ra là 28,9 m² Chính sách thu hút và kêu gọi đầu tư xã hội hóa đã thúc đẩy phát triển các dự án nhà ở thương mại, nhà ở xã hội và nhà ở công nhân, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh Bình Dương hướng tới mục tiêu đạt diện tích nhà ở bình quân 30,0 m²/người vào năm 2020.
Hiện trạng nhà ở theo loại hình nhà ở
1 Phát triển nhà ở thương mại
Tính đến tháng 12/2019, trong giai đoạn thực hiện Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh (2016-2020), có tổng cộng 424 dự án phát triển nhà ở thương mại, trong đó có 349 dự án đang trong quá trình triển khai Các dự án nhà ở này chủ yếu tập trung ở các khu vực đô thị phía Nam của tỉnh, phản ánh sự phân bố không đồng đều với mức độ cao tại các đô thị này.
Dưới sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng và đô thị tại Bình Dương, nhiều nhà đầu tư lớn và nhỏ đã đẩy mạnh hoạt động vào thị trường bất động sản địa phương Khu vực quanh thị xã Dĩ An, Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Bến Cát trở thành những điểm nóng thu hút dòng vốn đầu tư Ngoài ra, người dân địa phương cùng các tỉnh lân cận coi đây là thời điểm thuận lợi để mua nhà hoặc đất xây dựng nhà ở, khiến nhu cầu mua bán bất động sản tại Bình Dương tăng cao.
Phân khúc đất nền đã xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại các dự án phát triển nhà ở thương mại đang thu hút các nhà đầu tư và người dân có nhu cầu xây nhà để ở Trong đó, các khu vực đô thị như Dĩ An, Thuận An, và Thành phố Thủ Dầu là những điểm đến ưu tiên, chiếm ưu thế nhờ tiềm năng phát triển và khả năng sinh lợi cao.
Số liệu sàn nhà ở thực tế được xác định dựa trên diện tích sàn đã được chấp thuận trong chủ trương đầu tư hoặc quy hoạch chi tiết cho các dự án nhà ở thương mại và nhà ở xã hội Đối với nhà dân tự xây, diện tích sàn được tính theo giấy phép xây dựng đã cấp phép Việc xác định chính xác diện tích sàn là yếu tố quan trọng trong công tác thống kê và quản lý nhà ở tại địa phương.
Dưới góc độ phát triển đô thị, dự án đã góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân trong khu vực bằng cách chỉnh trang đô thị một cách hiệu quả Tính đến năm 2019, có 44 dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây dựng hạ tầng kỹ thuật, tạo cơ hội cho người dân tự xây dựng nhà ở Mặc dù giá đất đã tăng, nhưng mức tăng này khá chậm lại so với cuối năm 2017, khoảng 5-10%, thể hiện xu hướng ổn định và bền vững trong thị trường bất động sản địa phương.
Trong năm 2017, giá đất nền tại địa bàn thị xã Dĩ An đã tăng khoảng 20-30%, hiện nay dao động trong khoảng 20-25 triệu đồng/m² cho lô đất 60m², thậm chí có những khu vực lên tới 30-40 triệu đồng/m² Tại thị xã Thuận An và thành phố Thủ Dầu Một, giá đất nền cũng tăng nhẹ, giao động trong khoảng 15-20 triệu đồng/m² cho lô đất 60m², với diện tích từ 15-20 triệu đồng/m² cho các lô đất từ 60-80m² Sự tăng giá đất nền còn lan tỏa sang các khu vực lân cận, kéo theo giá đất tại các khu vực xung quanh cũng tăng theo Mặc dù việc tăng giá bất động sản đã thu hút nhiều nhà đầu tư đăng ký dự án, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhưng đồng thời cũng gây khó khăn cho các đối tượng mua nhà để ở và người có thu nhập thấp.
Trong giai đoạn 2016-2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã chấp thuận 131 dự án đầu tư mới với tổng diện tích đất khoảng 774,74 ha, tương đương hơn 8,75 triệu m² sàn, vượt kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2016-2020 đề ra là 5,6 triệu m² sàn Sự phát triển của nhà ở thương mại tại Bình Dương ghi nhận bước tăng trưởng tích cực, thúc đẩy bởi nhu cầu thị trường phục hồi sau thời kỳ đóng băng từ 2011-2014 Nhờ vào sự ổn định và phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghiệp, tỉnh Bình Dương thu hút nhiều lao động và chuyên gia đến sinh sống và làm việc, từ đó thúc đẩy tốc độ đô thị hóa nhanh và tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở.
Hiện nay, tại Bình Dương, bên cạnh các dự án nhà phố liền kề, nhiều dự án chung cư cao tầng đã góp phần làm nổi bật không gian đô thị và hình ảnh thành phố Các dự án này thúc đẩy sự phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, hướng tới mục tiêu xây dựng thành phố thông minh trong tương lai.
Bảng 4: Tổng diện tích sàn nhà ở thương mại tăng trong giai đoạn 2016-2019 Diện tích sàn nhà ở thương mại tăng thêm (m 2 )
Nguồn dữ liệu của bài viết bao gồm số liệu từ Kế hoạch phát triển nhà ở và số liệu thực tế được tổng hợp từ các tính toán, cung cấp bởi Phòng Quản lý Đô thị các địa phương và Sở Xây dựng Thông tin này giúp đánh giá chính xác về tình hình phát triển nhà ở và hỗ trợ các chiến lược quy hoạch đô thị hiệu quả.
Dưới tác động của xu hướng phát triển thị trường bất động sản nhà ở và chiến lược phát triển công nghiệp địa phương, một số huyện như Bàu Bàng, Phú Giáo, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng đã cần thiết mở rộng phát triển nhà ở thương mại để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dân cư do các khu, cụm công nghiệp mới thu hút người lao động Mặc dù theo Quyết định số 4290/QĐ-UBND và Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2016-2020, những khu vực này không có chỉ tiêu phát triển nhà ở thương mại, nhưng thực tế sự gia tăng tốc độ phát triển công nghiệp – dịch vụ tại các huyện phía Bắc của tỉnh đòi hỏi phải điều chỉnh chính sách và phát triển thêm các loại hình nhà ở để đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng tăng trong tương lai.
2 Nhà ở do người dân tự xây dựng
Nhà dân tự xây vẫn chiếm tỷ trọng cao trong phát triển nhà ở toàn tỉnh, thể hiện vai trò quan trọng của các hộ dân trong việc nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu nhà ở Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch xây dựng nhà do dân tự xây dựng vẫn chỉ đạt khoảng 81% so với mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2016-202X, cho thấy còn nhiều hạn chế cần khắc phục để đảm bảo phát triển nhà ở bền vững và đồng bộ.
Trong giai đoạn 2016-2019, nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi trong thị trường nhà ở là do dự báo kế hoạch chưa phản ánh chính xác nhu cầu thực tế và tốc độ phát triển nhà ở thương mại tăng cao, cùng với sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người khiến người dân có xu hướng lựa chọn mua nhà tại các dự án thương mại nhằm đảm bảo nơi ở ổn định Đồng thời, dân số gốc tại tỉnh đã phần lớn đã có nhà trong các giai đoạn trước, trong khi khả năng xây dựng nhà của các nhóm dân cư nhập cư và người dân hạn chế hơn Thêm vào đó, quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp từ 2016-2019 diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn, và chính sách giảm đối tượng ghi nợ tiền sử dụng đất đã làm cho các chỉ tiêu về đất đai cần được điều chỉnh phù hợp, xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong tương lai.
Bảng 5: Tổng diện tích sàn nhà ở do người dân tự xây trong giai đoạn 2016-2019
Diện tích nhà ở dân tự xây tăng thêm (m 2 )
Dữ liệu dựa trên kế hoạch phát triển nhà ở được lấy từ nguồn chính thức của các địa phương và Sở Xây dựng, đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy Số liệu thực tế được tính toán dựa trên số liệu cung cấp từ Phòng Quản lý Đô thị các địa phương cũng như Sở Xây dựng, phản ánh đúng tình hình phát triển nhà ở thực tế Việc so sánh giữa số liệu kế hoạch và số liệu thực tế giúp đánh giá quá trình triển khai và điều chỉnh các chiến lược phát triển nhà ở phù hợp.
3 Hiện trạng phát triển nhà ở chung cư
Hiện nay, phát triển loại hình nhà ở chung cư thương mại tại tỉnh chủ yếu tập trung tại các đô thị phát triển như Thành phố Thủ Dầu Một, Thuận An và Dĩ An Các dự án nhà ở chung cư này chủ yếu nằm tại các khu vực đô thị lớn, đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng tăng của cư dân Việc phát triển nhà chung cư thương mại góp phần thúc đẩy sự phát triển đô thị, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu hút đầu tư trong khu vực Chính sách ưu đãi và quy hoạch rõ ràng đang tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án này phát triển bền vững và phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh.
Các số liệu về sàn nhà ở thực tế được tính dựa trên diện tích sàn đã được cấp phép xây dựng cho nhà dân tự xây Các tập đoàn đầu tư bất động sản nước ngoài như Gucoland, Setia (Malaysia), Sembcorp (Singapore), Tokyu (Nhật Bản) hiện đang tham gia vào thị trường này Ngoài ra, các doanh nghiệp bất động sản trong nước như Tổng Công ty Becamex IDC cùng các đơn vị thành viên, Công ty Biconsi và nhiều doanh nghiệp khác tại TP Hồ Chí Minh cũng đã tích cực đầu tư và phát triển phân khúc nhà ở này, góp phần đa dạng hóa và mở rộng thị trường bất động sản Việt Nam.
Đánh giá chung về thực trạng phát triển nhà ở trong thời gian qua
1 Kết quả chung đạt được
Phát triển nhà ở đáp ứng được nhu cầu gia tăng dân số của tỉnh
Trong vòng 10 năm (2009-2019) dân số toàn tỉnh Bình Dương tăng thêm khoảng 01 triệu người (theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, 2009 và
Từ năm 2014 đến 2019, diện tích nhà ở bình quân đầu người tại Bình Dương đã tăng từ 22,2 m²/người lên 28,8 m²/người, thể hiện sự đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân số Sự gia tăng này không chỉ phản ánh sự phát triển đô thị mà còn góp phần cải thiện chất lượng đời sống và diện tích nhà ở hiện hữu của người dân trong tỉnh.
Phát triển nhà ở theo những dự án góp phần thay đổi hình ảnh đô thị
Phát triển nhà ở theo dự án với quy mô lớn và đồng bộ hạ tầng kỹ thuật đã thúc đẩy sự hình thành các khu nhà mới khang trang tại Bình Dương, thay thế các công trình cũ và xuống cấp Các dự án nhà ở đa dạng về kiểu dáng, kiến trúc và nâng cao giá trị thẩm mỹ nội thất lẫn ngoại thất Nhà ở thấp tầng và chung cư hiện đại, kiến trúc đẹp cùng hệ thống hạ tầng và công năng hoàn chỉnh đang dần phát triển tại trung tâm thành phố Thủ Dầu Một và các thị xã Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên.
Chất lượng nhà ở được cải thiện và nâng cao
Cơ cấu nhà ở chuyển dịch từ nhà ở bán kiên cố sang nhà ở kiên cố, giảm mạnh nhà ở thiếu kiên cố và không còn nhà ở đơn sơ
Phát triển nhà ở xã hội và cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo
Bình Dương đã tập trung phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho hộ nghèo và đối tượng chính sách nhằm nâng cao đời sống cộng đồng Đề án nhà ở xã hội – nhà ở công nhân nhận được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh cùng các sở, ban ngành, góp phần phản ánh tích cực trong dư luận xã hội Hiện nay, hàng ngàn công nhân và người thu nhập thấp đã mua, thuê và sinh sống ổn định tại các khu nhà ở này, góp phần đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp Mô hình phát triển nhà ở an sinh xã hội tại Bình Dương đã trở thành giải pháp hiệu quả để nâng cao phúc lợi cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh.
Báo cáo điều chỉnh thức cho vay mua nhà với mức giá từ 100 triệu đến 200 triệu đồng/01 căn hộ 30m² nhanh chóng thu hút được thị trường
Thị trường bất động sản phát triển ổn định
Chính phủ đã ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách liên quan đến nhà ở và thị trường bất động sản, đặc biệt là các chính sách ưu đãi về nhà ở xã hội Những chính sách này đã tạo ra khung pháp lý vững chắc cùng các điều kiện ưu đãi, nhằm thúc đẩy và thu hút ngày càng nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp đầu tư, phát triển nhà ở xã hội tại các địa phương.
Bình Dương là tỉnh nằm sát thành phố Hồ Chí Minh, có vị trí trung tâm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế liên tục và đô thị hóa nhanh Tỉnh có lợi thế về giao thông, nguồn cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc và địa chất phù hợp cho xây dựng và phát triển nhà ở, đô thị Thị trường bất động sản Bình Dương đã hồi phục và phát triển mạnh mẽ, nhiều dự án nhà ở và công trình dịch vụ hình thành, góp phần thay đổi diện mạo đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân.
Thị trường nhà ở Bình Dương đang phát triển mạnh mẽ với chất lượng ngày càng được nâng cao, góp phần thu hút cư dân và đầu tư Các dự án khu nhà ở, khu đô thị mới cùng tuyến phố hiện đại liên tục hình thành, góp phần chỉnh trang bộ mặt đô thị và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
2 Một số tồn tại, khó khăn trong công tác phát triển nhà ở
Hệ thống pháp luật về phát triển nhà ở có nhiều thay đổi
Luật Nhà ở năm 2014 ra đời đã khắc phục những hạn chế mà Luật Nhà ở
Năm 2005 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc cải thiện thị trường bất động sản hiện nay, góp phần khơi thông nguồn vốn của nhân dân và đảm bảo quyền sở hữu nhà ở của người dân.
Hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển nhà ở, bao gồm Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật Đầu tư và các văn bản dưới luật, còn tồn tại nhiều bất cập và chưa thống nhất Điều này gây khó khăn trong quá trình tham mưu và giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển nhà ở, làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi các chính sách địa phương.
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và Ủy ban của Quốc hội tiếp tục rà soát, nghiên cứu, bổ sung quy định xử lý các mâu thuẫn, vướng mắc và thiếu đồng bộ giữa các luật để nâng cao tính thống nhất trong dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng Các nội dung này nhằm trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đầu tư dự án.
Công tác quản lý và chia sẻ dữ liệu phát triển nhà ở chưa đáp ứng nhu cầu dự báo, định hướng thị trường
Việc triển khai thực hiện theo Nghị định số 117/2015/NĐ-CP là bước quan trọng trong xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản tại Việt Nam Nghị định này quy định rõ các yêu cầu về xây dựng dữ liệu, quản lý và khai thác thông tin nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và minh bạch thị trường bất động sản Tham gia thực hiện đúng tiến độ và nội dung của Nghị định giúp đảm bảo hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản được cập nhật chính xác, đầy đủ, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành bất động sản.
Hệ thống thông tin và dữ liệu liên quan đến phát triển nhà ở đang dần được chuẩn hóa và thống nhất về chế độ quản lý, xử lý, báo cáo Tuy nhiên, nhiều dữ liệu quan trọng vẫn chưa được tổng hợp thường xuyên, kịp thời, ảnh hưởng đến các công việc đánh giá và dự báo chính xác Việc thu thập dữ liệu còn thiếu đồng bộ, một số dữ liệu còn có sự chênh lệch giữa các cơ quan quản lý, gây khó khăn lớn trong công tác quản lý và ra quyết định Những hạn chế này làm giảm hiệu quả trong công tác đánh giá, dự báo và quản lý dự án nhà ở, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành.
Tính toán chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân
Việc tính toán diện tích nhà ở hiện tại dựa trên diện tích sàn xây dựng được phê duyệt, bao gồm các hồ sơ quy hoạch, chấp thuận chủ trương đầu tư đối với sàn nhà ở thương mại và cấp phép xây dựng cho nhà dân tự xây Đây là yếu tố quan trọng cần xem xét, đánh giá lại trong quá trình lập kế hoạch và phát triển nhà ở trong tương lai Thực tế, số liệu thống kê từ Cục Thống kê và ngành xây dựng cho thấy có sự chênh lệch về số liệu, dẫn đến đề xuất cần có quy định thống nhất phương pháp thống kê và dữ liệu đầu vào để phản ánh chính xác thực trạng phát triển nhà ở hiện nay.
Công tác phát triển nhà ở thiếu tính đồng bộ và thực tế
Hiện tại, chưa có sự liên kết tích hợp giữa phát triển nhà ở và định hướng quy hoạch không gian cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật και xã hội của tỉnh Các đồ án quy hoạch phân khu cũ, được lập gần 10 năm trước, không phản ánh đầy đủ điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, đặc biệt là định hướng xây dựng không gian theo chiều cao như các dự án chung cư cao tầng nhằm tiết kiệm quỹ đất Điều này dẫn đến tỷ lệ dự án chung cư còn thấp so với các dự án nhà liên kế, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển đô thị nén tại khu vực phía Nam.
Phát triển nhà ở thương mại và nhà dân tự xây đã đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển nhà ở của tỉnh Tuy nhiên, xu hướng này đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất xây dựng đô thị quy mô lớn, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển không gian đô thị bền vững và cân bằng sinh thái, môi trường của tỉnh Hiện tại, việc kiểm soát quá trình chuyển đổi đất đai này còn hạn chế, dẫn đến những biểu hiện tiêu cực đối với sự phát triển bền vững của đô thị.
Quá trình phát triển dự án kéo dài, một số dự án chậm tiến độ và bị thu hồi
Trong giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh đã quyết định thu hồi 9 trong tổng số 162 dự án phát triển nhà ở để thúc đẩy tiến độ thực hiện kế hoạch, đồng thời báo cáo từ các thành phố và thị xã cho thấy nhiều dự án chậm triển khai, trong đó có những dự án gần như không hoạt động sau hơn 10 năm, gây ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển nhà ở của tỉnh.
Các chỉ tiêu phát triển về nhà ở theo Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2020
Đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh ước đạt 30,0 m²/người, trong đó khu vực đô thị trung bình 31,4 m²/người, còn khu vực nông thôn là 24,1 m²/người Diện tích nhà ở tối thiểu đạt 8,2 m²/người, phản ánh nỗ lực nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tốt cho người dân.
Nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn tỉnh lên 50,0%; đồng thời giảm tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố xuống còn 0,7%
Tỉnh Bình Dương đã tập trung triển khai công tác phát triển nhà ở công vụ, nhà ở người có công với cách mạng, nhà ở người thu nhập thấp tại đô thị, nhà ở công nhân, nhà ở sinh viên, nhà xã hội khác và nhà ở tái định cư Đến năm 2020, tỉnh Bình Dương đã đạt các tiêu chí đô thị loại I, trở thành thành phố công nghiệp - đô thị - dịch vụ trực thuộc Trung ương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Các huyện khu vực phía Bắc có phát triển công nghiệp mới, các doanh nghiệp đầu tư mới sẽ tập trung ở khu, cụm công nghiệp phía Bắc của tỉnh
Chuyển đổi công năng các khu, cụm công nghiệp phía Nam nhằm thúc đẩy phát triển đô thị, giảm lực lượng lao động trong các khu công nghiệp truyền thống Đồng thời, đầu tư các khu sinh thái và các công trình an sinh xã hội ở phía Nam để nâng cao chất lượng sống và thúc đẩy sự cân bằng giữa phát triển công nghiệp và môi trường Việc này góp phần xây dựng một khu vực phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
Tiếp tục phát triển nhà ở thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Thực hiện quản lý quỹ đất 20% trong các dự án nhà ở thương mại và khu đô thị mới để xây dựng nhà ở xã hội, thúc đẩy cân bằng cung cầu nhà ở Đồng thời, tăng tỷ lệ nhà chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại đô thị lên mức 22%, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận nhà ở phù hợp cho người dân thành phố.
Tỷ lệ nhà cho thuê bằng 7% so với tổng diện tích nhà ở tăng thêm tại khu vực đô thị
Quỹ đất ở tại khu vực đô thị và nông thôn tăng thêm khoảng 2.330,1 ha.
Đối chiếu so với Chương trình phát triển nhà ở đã được phê duyệt điều chỉnh
I Các chỉ tiêu phát triển về nhà ở theo Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2020
Đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh ước đạt 30,0 m²/người, trong đó khu vực đô thị có diện tích trung bình là 31,4 m²/người, còn khu vực nông thôn là 24,1 m²/người Mức diện tích nhà ở tối thiểu theo quy định là 8,2 m²/người, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn tỉnh lên 50,0%; đồng thời giảm tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố xuống còn 0,7%
Tỉnh Bình Dương đã triển khai hiệu quả công tác phát triển nhà ở công vụ, nhà ở người có công với cách mạng, nhà ở người thu nhập thấp tại đô thị, cũng như các nhà ở công nhân, nhà ở sinh viên, nhà xã hội khác và nhà ở tái định cư Đến năm 2020, Bình Dương đáp ứng các tiêu chí đô thị loại I, trở thành thành phố công nghiệp, đô thị, dịch vụ quan trọng thuộc trung ương.
Các huyện khu vực phía Bắc có phát triển công nghiệp mới, các doanh nghiệp đầu tư mới sẽ tập trung ở khu, cụm công nghiệp phía Bắc của tỉnh
Chuyển đổi công năng các khu, cụm công nghiệp phía Nam nhằm thúc đẩy phát triển đô thị và giảm áp lực về lực lượng lao động Đầu tư vào các khu sinh thái và các công trình an sinh xã hội ở phía Nam sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sự bền vững cho khu vực Việc này giúp cân đối phát triển kinh tế đô thị và mở rộng không gian sống xanh, thân thiện môi trường cho cư dân.
Chính sách phát triển nhà ở thương mại tiếp tục được mở rộng, đi đôi với việc thực hiện quản lý quỹ đất 20% trong các dự án nhà ở thương mại và khu đô thị mới nhằm xây dựng nhà ở xã hội phù hợp với nhu cầu của người dân Đồng thời, mục tiêu tăng tỷ lệ nhà chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại đô thị, đạt mức 22%, nhằm đa dạng hóa lựa chọn và nâng cao chất lượng sống cho cư dân thành phố.
Tỷ lệ nhà cho thuê bằng 7% so với tổng diện tích nhà ở tăng thêm tại khu vực đô thị
Quỹ đất ở tại khu vực đô thị và nông thôn tăng thêm khoảng 2.330,1 ha
II Đối chiếu so với Chương trình phát triển nhà ở đã được phê duyệt điều chỉnh
Đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh ước đạt 30,0 m²/người, trong đó khu vực đô thị có diện tích nhà ở trung bình là 31,5 m²/người và khu vực nông thôn là 24,5 m²/người Diện tích nhà ở tối thiểu theo tiêu chuẩn là 8,2 m²/người, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo mức sống hợp lý trên địa bàn tỉnh.
Nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn tỉnh trên 50%; đồng thời giảm tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố xuống dưới 0,7%
Việc triển khai phát triển nhà ở xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp tại đô thị, bao gồm nhà ở công nhân, nhà ở sinh viên và các loại nhà xã hội khác Đồng thời, dự án còn bao gồm nhà ở tái định cư tại các khu vực đô thị có bố trí nhà ở xã hội Để đảm bảo mục tiêu này, cần đầu tư xây dựng mới khoảng 2 triệu m² sàn nhà ở xã hội nhằm thúc đẩy khả năng đáp ứng nhu cầu nhà ở phù hợp và bền vững cho cộng đồng đô thị.
Tổ chức triển khai thực hiện phát triển nhà ở công vụ và nhà ở cho người có công với cách mạng theo Đề án đã được phê duyệt, đảm bảo đúng tiến độ và quy định Tập trung bố trí nguồn vốn để hoàn thành hạ tầng kỹ thuật các khu nhà ở tái định cư, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tái định cư xây dựng nhà ở Việc này nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và phát triển bền vững cho cộng đồng người dân khu vực.
Chuyển đổi công năng các khu, cụm công nghiệp phía Nam nhằm phát triển đô thị, góp phần chỉnh trang đô thị và kiểm soát nguồn phát thải ô nhiễm trên địa bàn Việc này giúp nâng cao chất lượng sống cho người dân đô thị, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực.
Chúng tôi tiếp tục phát triển nhà ở thương mại và thực hiện quản lý quỹ đất ở mức 20% tại các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị mới nhằm thúc đẩy xây dựng nhà ở xã hội Đồng thời, tăng tỷ lệ nhà chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại đô thị đạt mức 20%, góp phần đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng cao của cư dân đô thị.
Tỷ lệ nhà cho thuê bằng 10% so với tổng diện tích nhà ở tăng thêm tại khu vực đô thị
Quỹ đất ở tại khu vực đô thị và nông thôn tăng thêm khoảng 1.700 ha
Trong năm 2020, tổng diện tích sàn nhà ở tăng thêm khoảng 6,7 triệu m², bao gồm 3 triệu m² sàn nhà ở thương mại, trong đó có 600.000 m² sàn căn hộ chung cư Ngoài ra, diện tích nhà ở xã hội và nhà ở tái định cư đạt khoảng 700.000 m², còn lại là khoảng 3 triệu m² sàn nhà do dân tự xây dựng.
Đề xuất điều chỉnh Kế hoạch phát triển nhà ở
1 Điều chỉnh chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân trên địa bàn đến năm
Theo kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt, diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh đến năm 2020 ước đạt 30,0 m²/người, với khu vực đô thị đạt 31,4 m²/người và khu vực nông thôn đạt 24,1 m²/người.
Chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 đã được điều chỉnh theo Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bình Dương đến năm 2020 và hướng đến năm 2030, theo Quyết định số 4024/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Theo đó, mục tiêu là đạt trung bình 30,0 m²/người, trong đó khu vực đô thị là 31,5 m²/người và nông thôn là 24,5 m²/người, nhằm đảm bảo tiêu chuẩn nhà ở hợp lý và phù hợp với quy hoạch địa phương Đồng thời, chỉ tiêu này cũng đã được điều chỉnh phù hợp với từng địa phương để hỗ trợ công tác lập kế hoạch phát triển nhà ở hàng năm, kiểm soát tiến độ và thuận tiện trong việc xem xét các đề xuất dự án nhà ở tại các địa phương trong tỉnh.
Bảng 9: Chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân
STT Đơn vị hành chính
Diện tích nhà ở bình quân (m 2 /người) đến năm 2020 Thực tế triển khai đến năm
Kế hoạch phát triển nhà
1 Thành phố Thủ Dầu Một 40,5 33,8
Vùng nông thôn 27,7 24,9 Đối chiếu số liệu được tính toán tại Bảng trên so với Kế hoạch đã được phê duyệt, cụ thể:
- Thành phố Thủ Dầu Một: tăng khoảng 6,7m 2 /người Nguyên nhân: theo
Dân số dự kiến đến năm 2020 theo kế hoạch trước là khoảng 443.627 người Tuy nhiên, kết quả điều tra dân số năm 2019 cho thấy dân số thực tế chỉ vào khoảng 321.607 người, giảm so với dự tính Trong thời gian qua, địa phương cũng đã phát triển các dự án lớn như Khu nhà ở Đại Nam tại phường Hòa Phú, với quy mô hơn 1,058 triệu m² sàn, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của loại hình nhà ở chung cư Ngoài ra, số lượng nhà ở do người dân tự xây dựng cũng gia tăng hằng năm, ước tính đến năm 2019 đạt khoảng
Diện tích sàn xây dựng lên tới 921 nghìn mét vuông phản ánh nhu cầu về nhà ở tại thành phố Thủ Dầu Một đang tăng cao vượt dự kiến Nhu cầu này đặc biệt gia tăng do lượng người nước ngoài đến làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Sự tăng trưởng mạnh mẽ về nhà ở cho thấy sự phát triển đô thị và nhu cầu về nơi sinh sống của cư dân ngày càng mở rộng.
Huyện Bàu Bàng hiện không có kế hoạch phát triển nhà ở thương mại, nhưng do xu hướng dịch chuyển công nghiệp từ các đô thị phía Nam lên các huyện phía Bắc của tỉnh, đặc biệt là Bàu Bàng, đã trở thành điểm sáng thu hút đầu tư và nhân lực Nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng tăng của cư dân mới, cần đa dạng hóa các loại hình nhà ở, bao gồm nhà ở thương mại, nhà ở tái định cư và nhà ở công nhân Mặc dù so với kế hoạch ban đầu, nhu cầu phát triển nhà ở thương mại đã vượt mức gấp gần đôi, nhưng điều này phù hợp với xu hướng thị trường và định hướng phát triển của huyện theo các quy hoạch đã được duyệt trong thời gian tới.
Các địa phương còn lại chưa đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân theo kế hoạch do dân số cơ học tăng nhanh tại các khu vực phát triển công nghiệp như Thuận An và Tân Uyên Nhu cầu nhà ở hàng năm tăng cao do sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ, cộng với xu hướng người dân tự xây dựng nhà ở liên tục qua các năm, gây áp lực lớn về diện tích nhà ở trung bình.
2 Điều chỉnh các chỉ tiêu về phát triển nhà ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2020 a) Tính toán diện tích sàn các loại hình nhà ở (có sự thay đổi lớn so với
Kế hoạch), lũy kế dành cho năm 2020
Bảng 10: Chỉ tiêu diện tích sàn các loại hình nhà ở (có sự thay đổi lớn so với
Kế hoạch), lũy kế dành cho năm 2020
STT Địa phương Đã thực hiện giai đoạn 2016-2019
Kế hoạch 5 năm (theo quyết định 3295/QĐ-UBND)
1 Thành phố Thủ Dầu Một 6.021.356 6.582.655
STT Địa phương Đã thực hiện giai đoạn 2016-2019
Kế hoạch 5 năm (theo quyết định 3295/QĐ-UBND)
Dựa trên tổng hợp số liệu về hai loại hình nhà ở thực tế đến năm 2019 so với chỉ tiêu phát triển trong kế hoạch, cho thấy sự khác biệt đáng kể tại các địa phương trên toàn tỉnh Nguyên nhân chủ yếu là do từng khu vực có điều kiện phát triển và nguồn lực khác nhau, dẫn đến sự chênh lệch trong tiến độ xây dựng và hoàn thiện nhà ở Việc này ảnh hưởng đến sự cân đối trong kế hoạch phát triển nhà ở của tỉnh, đòi hỏi các địa phương cần điều chỉnh phù hợp để đảm bảo mục tiêu đề ra.
Khu vực các huyện phía Bắc được định hướng quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, trong khi các khu vực phía Nam chuyển đổi công năng công nghiệp để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Điều này đã thu hút lượng lớn lao động về các khu, cụm công nghiệp phía Bắc, làm tăng nhu cầu về nhà ở trong khu vực Tuy nhiên, kế hoạch phát triển nhà ở trước đây chủ yếu tập trung vào nhà do người dân tự xây dựng, nhà tái định cư và nhà ở công nhân, chưa bao gồm mục tiêu phát triển nhà ở thương mại Thực tế, trong thời gian gần đây, nhu cầu đầu tư dự án nhà ở gia tăng tại các địa phương này nhằm đón đầu cơ hội khi các khu công nghiệp thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư, kéo theo dân số cơ học tăng trưởng liên tục trong tương lai.
Kế hoạch phát triển nhà ở đã được lập, thẩm định và phê duyệt cho giai đoạn 05 năm (2016-2020), tuy nhiên, việc tính toán chỉ tiêu sàn nhà ở cho từng năm cùng cơ cấu các loại nhà như nhà ở thương mại, nhà ở tự xây dựng và nhà ở xã hội chưa phản ánh đúng thực tiễn hiện nay do những nguyên nhân đã được phân tích, gây ảnh hưởng đến hiệu quả của chiến lược phát triển nhà ở trong thời gian tới.
Một số nhà đầu tư dài hạn vẫn chưa triển khai thực hiện dự án nhà ở do nhiều nguyên nhân khác nhau, dẫn đến ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình và Kế hoạch phát triển nhà ở đã đề ra.
Trong năm 2020, cần điều chỉnh chỉ tiêu phát triển diện tích sàn nhà ở phù hợp với thực tiễn nhằm đạt mục tiêu diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh đã đề ra Để thúc đẩy sự phát triển bền vững, cần tập trung vào ba loại hình nhà ở chính gồm nhà ở thương mại, nhà ở do người dân tự xây, và nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) Đồng thời, đề xuất các chỉ tiêu phát triển nhà ở cụ thể cho từng địa phương trong năm 2020 để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.
Theo số liệu tổng hợp, tỉnh còn dư địa phát triển khoảng 3,3 triệu m² sàn xây dựng trong kế hoạch năm 2020, cho thấy tiềm năng lớn để mở rộng quy mô phát triển bất động sản trong năm này.
Báo cáo điều chỉnh thêm khoảng 2,8 triệu m 2 sàn nữa để đảm bảo chỉ tiêu 30,0 m 2 /người trên toàn tỉnh
Vào năm 2020, tổng diện tích sàn tăng thêm của các loại hình nhà ở thương mại, nhà dân tự xây, nhà ở xã hội và nhà ở tái định cư trên toàn tỉnh ước đạt khoảng 6,7 triệu m² Trong đó, diện tích này được phân bổ cụ thể cho từng địa phương nhằm thúc đẩy phát triển đô thị bền vững và đáp ứng nhu cầu nhà ở của cư dân Các dự án nhà ở đa dạng này đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đồng thời thúc đẩy cân đối phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Bảng 11: Chỉ tiêu sàn nhà ở tăng thêm năm 2020 cho các địa phương
STT Địa phương Điều chỉnh chỉ tiêu diện tích sàn nhà ở (m 2 sàn) năm 2020
Nhà ở thương mại (trong đó: có
1 Thành phố Thủ Dầu Một 1.210.000
Nhà ở thương mại 400.000 m 2 sàn (trong đó, có
Nhà ở thương mại 550.000 m 2 sàn (trong đó, có
Nhà ở thương mại 600.000 m 2 sàn (trong đó, có
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 100.000
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 100.000
STT Địa phương Điều chỉnh chỉ tiêu diện tích sàn nhà ở (m 2 sàn) năm 2020
Nhà ở thương mại 500.000m 2 sàn (trong đó, có
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 100.000
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 180.000
Nhà ở tái định cư 60.000 c) Ước tính diện tích đất ở và nguồn vốn đầu tư cần thiết trong năm 2020
Năm 2020, diện tích sàn nhà ở tại Bình Dương đã tăng đáng kể, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất ở và vốn đầu tư xây dựng nhà ở tăng theo Các địa phương trong tỉnh ghi nhận sự tăng trưởng này, phản ánh xu hướng phát triển đô thị và mở rộng quy mô nhà ở trong khu vực Việc mở rộng diện tích sàn nhà ở góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản Bình Dương trở nên sôi động hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án phát triển nhà ở mới Nhu cầu sử dụng đất và vốn đầu tư xây dựng nhà ở tại Bình Dương năm 2020 tăng rõ rệt, phù hợp với xu hướng đô thị hóa và phát triển hạ tầng của tỉnh.
Bảng 12: Diện tích đất ở và nhu cầu vốn
Diện tích đất ở ước tính (ha)
Diện tích đất ở ước tính (ha)
Nhà ở thương mại/ Nhà ở xã hội/
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 30,0 2.400
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 22,5 1.800
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 33,8 2.700
Nhà ở xã hội (nhà ở công nhân) 18,8 1.500
Nhà ở thương mại / nhà ở tái định cư 30,0 2.400