Tiểu luận môn học Luật hình sự Đề tài số 8: Trình bày khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về chức vụ theo quy định hiện hành. (kết luận, tài liệu tham khảo; mục lục)...........................
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT: LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã
có những bước phát triển vượt bậc, đời sống của người dân được nâng cao; tình hình chính trị - xã hội được ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố; quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ mở rộng hợp tác và tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, trong xã hội cũng đã và đang phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực Tệ nạn xã hội ngày một gia tăng dưới mọi hình thức Tình hình các loại tội phạm rất phức tạp xảy ra trong các lĩnh vực, nhất là tội phạm
về chức vụ đang gây sự bất bình trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người dân Thời gian qua việc phát hiện, khởi tố các tội phạm về tham nhũng, chức vụ có xu hướng tăng với tính chất, mức độ vụ việc ngày càng nghiêm trọng, chủ thể của tội phạm ngày càng đa dạng Do vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, các tội phạm về chức vụ đã được mở rộng hơn
về phạm vi, không chỉ gói gọn trong khu vực nhà nước mà được mở rộng sang khu vực ngoài nhà nước
Trong phạm vi môn học Luật hình sự 2, bản thân lựa chọn Đề tài số 08 là đề tài Tiểu luận môn học để nghiên cứu, tìm hiểu:
"Đề 08: Trình bày khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về chức vụ".
Do kiến thức còn hạn chế, nhiều đánh giá còn mang tính chủ quan nên quá trình làm tiểu luận, bản thân không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; rất mong được thầy cô giáo quan tâm, đóng góp ý kiến để bản thân hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn, hoàn thiện kiến thức hơn từ đó phục vụ tốt hơn cho quá trình thực hiện nhiệm
vụ chuyên môn của mình
Trang 2PHẦN THỨ HAI: KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA
CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ
I Một số vấn đề cơ bản của tội phạm về chức vụ
1.1 Khái niệm người có chức vụ, tội phạm về chức vụ
Điều 353, Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:
"(1) Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công
vụ, nhiệm vụ (2) Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ".
Các tội phạm về chức vụ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành công vụ hoặc nhiệm vụ xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức
1.2 Các dấu hiệu pháp lý
Chủ thể của tội phạm: người có chức vụ khi thực hiện công vụ (cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước); người có chức vụ trong khi thực hiện nhiệm vụ tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước
Khách thể của các tội phạm về chức vụ: Những quan hệ xã hội bảo đảm cho
hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức trong và ngoài nhà nước, cụ thể
là các quan hệ bảo đảm tính liêm chính, tính vô tư và công minh trong hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức; đồng thời, quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng có thể trở thành khách thể của các tội phạm về chức vụ
Mặt khách quan của các tội phạm về chức vụ: Hành vi khách quan đa số các tội phạm về chức vụ được thể hiện bằng hành động Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm
Mặt chủ quan của các tội phạm về chức vụ bao gồm:
- Về hình thức lỗi: Đa số các tội phạm về chức vụ thực hiện với hình thức lỗi
cố ý, một số tội thực hiện với hình thức lỗi vô ý (Điều 360, Điều 362 Bộ luật hình
sự 2015)
- Về động cơ phạm tội: Một số tội phạm về chức vụ động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc như Điều 356, Điều 357, Điều 359 Bộ luật hình sự 2015
1.3 Các nhóm tội phạm về chức vụ
Trang 3Theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, thì có 02 nhóm tội phạm
về chức vụ: các tội phạm về tham nhũng (quy định từ Điều 353 đến Điều 359) và các tội phạm khác về chức vụ (quy định từ Điều 360 đến Điều 366)
II Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng
2.1 Tội tham ô tài sản (Điều 353)
* Khái niệm: Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm
đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong và ngoài nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý tài sản hoặc xâm phạm đến sở hữu tài sản của Nhà nước, của tổ chức, doanh nghiệp
- Đối tượng tác động: Tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý.
- Mặt khách quan: bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản và phải chịu trách nhiệm hình sự khi:
+ Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên;
+ Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật
về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về môt trong các tội quy định từ Điều 354 đến Điều 359 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 và chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm
- Chủ thể của tội phạm: Người được giao trách nhiệm quản lý tài sản trong mọi loại hình cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp, mục đích tư lợi
2.2 Tội nhận hối lộ (Điều 354)
* Khái niệm: Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi
dụng chức vụ quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm họat động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp
- Đối tượng tác động: tiền, tài sản, lợi ích vật chất dưới bất kỳ hình thức nào
- Mặt khách quan: Có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và sử dụng chức
vụ quyền hạn như một phương tiện thuận lợi để thực hiện tội phạm Hành vi đã nhận, sẽ nhận, trực tiếp hoặc qua trung gian chỉ được coi là phạm tội nhận hối lộ khi: Lợi ích hối lộ là lợi ích phi vật chất; Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại
Trang 4Điều 353, Điều 355 đến Điều 359 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm
- Chủ thể của tội phạm: Người có chức vụ, quyền hạn trong mọi loại hình cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi
2.3 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355)
* Khái niệm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của
người có chức vụ, quyền hạn đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn đó để chiếm đoạt tài sản của người khác
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; xâm phạm đến sở hữu công dân, tập thể
- Đối tượng tác động: Tài sản của người khác (của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân)
- Mặt khách quan:
+ Người phạm tội có hành vi vượt quá chức vụ, quyền hạn hoặc không thuộc thẩm quyền theo luật định và chiếm đoạt tài sản của người khác
+ Thủ đoạn phạm tội: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần người khác hoặc lừa dối tinh thần người khác để chiếm đoạt Nếu người phạm tội không gian dối nhưng người bị hại vẫn tin mà giao tài sản và người có chức vụ, quyền hạn lạm dụng sự tín nhiệm này mà chiếm đoạt tài sản của họ thì đây là thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm
+ Trách nhiệm hình sự: Chỉ coi là tội phạm khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị
từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu động nhưng thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Điều 353, 354, 356 đến Điều 359 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi
2017, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Chủ thể của tội phạm: là chủ thể đặc biệt - Người có chức vụ, quyền hạn trong mọi loại hình cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước
- Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi
2.4 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356)
* Khái niệm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành
vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ, gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
* Dấu hiệu pháp lý:
Trang 5- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Mặt khách quan: Thực hiện hành vi không làm những việc phải làm, trong khi có đầy đủ điều kiện để làm hoặc làm không đầy đủ, hoặc làm ngược lại quy định, yêu cầu của công vụ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc: Hậu quả về vật chất (tính mạng, sức khỏe, tài sản), hậu quả phi vật chất (uy tín, nhân phẩm, danh dự…) Căn
cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự là gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Chủ thể của tội phạm: chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn)
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích bắt buộc: vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác (như củng cố địa vị, uy tín cá nhân, bản vị,…)
2.5 Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357)
* Khái niệm: Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của xã hội, lợi ích hợp pháp của công dân
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của Nhà nước, lợi ích của tổ chức, cá nhân
- Mặt khách quan: Hành vi vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ, làm trái quy định, chế độ, thể lệ, quy chế, nội quy công tác Hậu quả bắt buộc: Thiệt hại lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tội phạm hoàn thành khi gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Chủ thể của tội phạm: Người có chức vụ quyền hạn
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ bắt buộc: vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
2.6 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358)
* Khái niệm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác
để trục lợi là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trực tiếp hoặc thông qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích dưới mọi hình thức nào để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một công việc không được phép làm
* Dấu hiệu pháp lý:
Trang 6- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của Nhà nước, uy tín của cơ quan, tổ chức; quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân
- Đối tượng tác động: Hành vi của người bị người có chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng
- Mặt khách quan: Có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn và trực tiếp đòi, nhận, hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích Việc nhận các lợi ích đó được trả bằng giá
là dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy hành vi của người có chức vụ, quyền hạn theo
ý của người đó Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự khi lợi ích đòi, nhận, sẽ nhận là các lợi ích phi vật chất hoặc là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác có giá trị từ
2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này
mà còn vi phạm
- Chủ thể của tội phạm: Người có chức vụ quyền hạn
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ bắt buộc: vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
2.7 Tội giả mạo trong công tác (Điều 359)
* Khái niệm: Giả mạo trong công tác là hành vi của một người vì vụ lợi hoặc
động cơ cá nhân khác, lợi dụng chức vụ, quyền hạn sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của Nhà nước, lợi ích của tổ chức
- Đối tượng tác động: giấy tờ, tài liệu hoặc chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn
- Mặt khách quan: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi: Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; Làm, cấp giấy tờ giả; Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn Tội phạm hoàn thành khi chủ thể có một trong các hành vi kể trên mà không cần hậu quả
- Chủ thể của tội phạm: Người có chức vụ quyền hạn
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ bắt buộc: vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác
III Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội phạm khác về chức vụ 3.1 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360)
* Khái niệm: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm sở hữu, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
Trang 7- Mặt khách quan: Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm
vụ được giao dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng
- Chủ thể của tội phạm: Người có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ được giao, trước hết người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý
3.2 Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 361)
* Khái niệm:
Cố ý làm lộ bí mật công tác là hành vi của một người nhận thức rõ là hành vi của mình làm lộ bí mật công tác, thấy trước hậu quả của hành vi đó, mong muốn hậu quả đó hoặc để mặc nó xảy ra
Chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là hành vi của một người chuyển dịch (bằng mọi hình thức), mua bán, trao đổi hoặc bất kỳ hành vi nào làm cho tài liệu, bí mật công tác bị hủy không còn khả năng phục hồi lại được
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm chế độ quản lý của cơ quan, tổ chức về tài liệu bí mật công tác
- Đối tượng tác động: bí mật công tác
- Mặt khách quan: có hành vi cố ý làm lộ bí mật công tác; chiếm đoạt tài liệu
bí mật công tác; mua bán tài liệu bí mật công tác; tiêu hủy tài liệu bí mật công tác
- Chủ thể của tội phạm: người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, trong khi thi hành công vụ và có tư cách biết được tài liệu bí mật công tác
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý, không cần dấu hiệu mục đích, động cơ
3.3 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 362)
* Khái niệm: Vô ý làm lộ bí mật công tác là hành vi của một người tuy thấy
trước hành vi của mình có thể làm lộ bí mật công tác nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể được ngăn ngừa hoặc không thấy trước hậu quả đó dù pháp luật bắt buộc phải thấy và có thể thấy
Làm mất tài liệu bí mật công tác là hành vi thiếu trách nhiệm hoặc do cẩu thả nên để mất tài liệu bí mật công tác
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm đến chế độ quản lý của tổ chức về tài liệu bí mật công tác
- Đối tượng tác động: bí mật công tác
Trang 8- Mặt khách quan: có hành vi vô ý làm lộ bí mật công tác; làm mất tài liệu bí mật công tác Tội phạm hoàn thành khi hành vi lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác đã gây ra hậu quả
- Chủ thể của tội phạm: Người có trách nhiệm trng việc quản lý tài liệu, bí mật công tác
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi vô ý
3.4 Tội đào nhiệm (Điều 363)
* Khái niệm: Đào nhiệm là hành vi cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác của cán bộ,
công chức gây hậu quả nghiêm trọng
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm hoạt động bình thường, kỷ luật lao động của cơ quan,
tổ chức liên quan đến việc quản lý cán bộ, công chức
- Mặt khách quan: Có hành vi từ bỏ nhiệm vụ công tác (có thể từ bỏ hẳn hoặc chỉ một thời gian) để đi làm ở một nơi khác hoặc không làm gì cả Tội phạm hoàn thành khi đã gây ra hậu quả nghiêm trọng
- Chủ thể của tội phạm: Cán bộ, công chức đang công tác ở một cơ quan, tổ chức nhất định hoặc cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ cụ thể
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý
3.5 Tội đưa hối lộ (Điều 364)
* Khái niệm: Đưa hối lộ là hành vi của một người dùng tiền, tài sản hoặc bất
kỳ một lợi ích trực tiếp hoặc qua trung gian đưa cho người có chức vụ, quyền hạn
để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong hoặc ngoài nhà nước
-Đối tượng tác động: Hành vi của người có chức vụ quyền hạn
- Mặt khách quan: Có hành vi đưa tiền, tài sản, lợi ích cho người có chức vụ quyền hạn Tội phạm hoàn thành khi tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc lợi ích hối lộ là lợi ích phi vật chất
- Chủ thể của tội phạm: Bất kỳ ai đủ điều kiện của chủ thể
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp
3.6 Tội môi giới hối lộ (Điều 365)
* Khái niệm: Tội môi giới hối lộ là hành vi làm trung gian giữa người nhận và
đưa hối lộ nhằm đạt được sự thỏa thuận về hối lộ và việc làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ
* Dấu hiệu pháp lý:
Trang 9- Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong hoặc ngoài nhà nước
- Đối tượng tác động: Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
- Mặt khách quan: có hành vi làm tủng gian giữa người nhận và người đưa hối
lộ Tội môi giới hối lộ hoàn thành khi tiền, tài sản, lợi ích vật chất hối lộ có giá trị từ
2 triệu đồng trở lên hoặc lợi ích hối lộ là lợi ích phi vật chất
- Chủ thể của tội phạm: Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý
3.7 Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 366)
* Khái niệm: Lợi dụng ảnh hưởng đối với người chức vụ, quyền hạn để trục
lợi là hành vi của một người dùng ảnh hưởng của mình đối với người có chức vụ, quyền hạn nhằm thúc đẩy người này làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của hộ hoặc một việc trái pháp luật để nhận tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác
* Dấu hiệu pháp lý:
- Khách thể: Xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức
- Đối tượng tác động: Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
- Mặt khách quan: có hành vi dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của họ hoặc một việc trái pháp luật; có hành vi nhận tiền, tài sản, lợi ích từ người thứ ba có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian Tội phạm này hoàn thành khi người phạm tội thực hiện đẩy đủ hai hành vi trên, không kể người có chức vụ, quyền hạn
đã làm theo yêu cầu của người phạm tội hay chưa Số tiền, giá trị tài sản, lợi ích vật chất nhận hoặc sẽ nhận từ 2 triệu đồng trở lên hoặc phải là lợi ích phi vật chất
- Chủ thể của tội phạm: người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp Động cơ trục lợi
Trang 10PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
Các tội phạm về chức vụ được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự
2015 (sửa đổi năm 2017) từ Điều 352 đến Điều 366 Nhìn chung, quy định về các tội phạm về chức vụ không có nhiều thay đổi so với quy định về các tội phạm này trong Bộ luật hình sự 1999 Tuy nhiên, những sửa đổi, bổ sung lại thể hiện tinh thần đổi mới khá căn bản và nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến đấu tranh với lĩnh vực tội phạm này
Quy định về tội phạm chức vụ trong Bộ luật hình sự 2015 đã mở rộng phạm vi các tội phạm chức vụ sang khu vực tư đối với 04 tội: tội tham ô tài sản (Điều 353), tội nhận hối lộ (Điều 354), tội đưa hối lộ (Điều 364) và tội môi giới hối lộ (Điều 365); mở rộng nội hạm của “hối lộ” với việc bổ sung “lợi ích phi vật chất” vào cấu thành cơ bản của 05 tội: Tội nhận hối lộ (Điều 354), Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358), Tội đưa hối lộ (Điều 364), Tội môi giới hối lộ (Điều 365), Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức
vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 366); đồng thời sửa đổi cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017) cũng tăng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản tham ô, chiếm đoạt, của hối lộ; bổ sung hình phạt tước tự do đối với một số tội phạm khác về chức vụ
Việc quy định bổ sung như trên trước hết xuất phát từ tinh thần thực thi đầy đủ Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng Bên cạnh đó, trong bối cảnh cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới và các
tổ chức quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta thông qua các hoạt động hợp tác, hỗ trợ, viện trợ, tài trợ, v.v…Do đó, việc bảo đảm tính liêm chính và hoạt động đúng đắn của các cơ quan,
tổ chức nước ngoài hoặc các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp là có ý nghĩa thiết thực Việc một người nào đó vì vụ lợi mà đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn để dành những ưu thế trong các hoạt động, kinh doanh hoặc vì vụ lợi cũng đã xảy ra trong thực tiễn Vì vậy, để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh, sự công bằng trong xã hội và giữ gìn quan hệ với các quốc gia khác, với các tổ chức quốc tế công, việc sửa đổi bổ sung hành vi tội phạm về chức vụ là hết sức cần thiết