Trong phạm vi môn học Tâm lý học tư pháp và phạm vi bài tiểu luận này, bản thân chỉ đi sâu phân tích “Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội” Đề số 11 Do kiến thức còn hạn chế, nhiều đánh
Trang 1PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã
có những bước phát triển vượt bậc, đời sống của người dân được nâng cao; tình hình chính trị - xã hội được ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố; quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ mở rộng hợp tác và tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, trong xã hội cũng đã và đang phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực Tệ nạn xã hội ngày một gia tăng dưới mọi hình thức Tình hình các loại tội phạm rất phức tạp xảy ra trong các lĩnh vực, làm giảm lòng tin của nhân dân đối sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người dân Theo Báo cáo công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2018 thì tội phạm vi phạm pháp luật về trật tự xã hội, toàn quốc xảy ra 40.088 vụ (giảm 4.03% so với cùng kỳ năm 2017) nhưng tính chất vẫn nghiêm trọng, mức độ bạo lực gia tăng; hoạt động của các băng, nhóm tội phạm có sự đan xen, gắn kết giữa các lĩnh vực, triệt để lợi dụng danh nghĩa các doanh nghiệp để hoạt động, nhất là liên quan tới tín dụng đen, kéo theo tình trạng siết nợ, đòi nợ thuê, cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật tại nhiều địa phương Tội phạm có xu hướng ngày càng trẻ hóa, số vụ thanh, thiếu niên phạm tội tăng, tình trạng bạo hành, xâm phạm trẻ em nhất là hiếp dâm trẻ em xảy ra trên nhiều địa phương Nhóm tội phạm liên quan tới chiếm đoạt tài sản vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm (chiếm hơn 50%); một số băng nhóm trộm cắp hình thành với thủ đoạn tinh vi, manh động, tấn công lại người dân khi bị phát hiện, truy bắt
Vì vậy, để bảo vệ an ninh, trật tự, để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước thì việc nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của hành vi phạm tội đặc biệt là cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội nhằm phát hiện và ngăn chặn tội phạm có kết quả là hết sức cần thiết
Trong phạm vi môn học Tâm lý học tư pháp và phạm vi bài tiểu luận này, bản
thân chỉ đi sâu phân tích “Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội” (Đề số 11)
Do kiến thức còn hạn chế, nhiều đánh giá còn mang tính chủ quan nên quá trình làm tiểu luận, bản thân không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; rất mong được thầy cô giáo quan tâm, đóng góp ý kiến để bản thân hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn, hoàn thiện kiến thức hơn từ đó phục vụ tốt hơn cho quá trình thực hiện nhiệm
vụ chuyên môn của mình
Trang 2PHẦN HAI: CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI PHẠM TỘI
I Khái niệm hành vi phạm tội
Khi nói đến tội phạm, theo Điều 8- Bộ Luật hình sự 2015: “Tội phạm là hành
vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại tiếc hành ”
Như vậy, dưới khía cạnh khoa học tâm lý khái niệm hành vi phạm tội được hiểu là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự tiến hành một cách cố ý hoặc vô ý và được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức hành động hoặc không hành động
Những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của hành vi phạm tội là:
- Tính nguy hiểm cho xã hội: Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở chỗ nó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
- Tính có lỗi: Lỗi là thái độ của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện: một là, hành vi đó trái luật hình sự; hai là, hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử
sự khác không trái luật hình sự
- Hành vi phạm tội được thể hiện dưới hai hình thức: hành động phạm tội và không hành động phạm tội Hành động phạm tội là khái niệm dùng để chỉ những việc làm mà pháp luật hình sự cấm, qua đó làm thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Hành động phạm tội là một dạng của hành vi phạm tội, có thể chỉ là một động tác đơn giản hoặc tập hợp nhiều động tác khác nhau, xảy ra một lần trong khoảng thời gian ngắn hoặc được thực hiện lặp đi lặp lại trong một thời gian dài Hành động phạm tội được biểu hiện bằng việc làm hoặc lời nói trực tiếp hoặc thông qua công
cụ, phương tiện phạm tội tác động lên đối tượng của tội phạm Đó là hành động nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và bị trừng phạt; dấu hiệu của nó được quy định trong
Bộ luật hình sự Trong các loại tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có những tội chỉ có thể thực hiện bằng hành động, như: hoạt động gián điệp, tội hiếp dâm ; có tội chỉ có thể được thực hiện bằng việc không hành động phạm tội, như: tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; tội không tố giác tội phạm ; có những tội vừa
có thể được thực hiện bằng hành động vừa có thể được thực hiện bằng không hành
Trang 3động, như: tội giết người, tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
II Cấu trúc tội phạm
Phân tích cấu trúc tâm lý hành vi phạm tội chính là việc chỉ ra nội dung tâm lý các thành phần bên trong của hành động phạm tội; các yếu tố liên quan đến hành động phạm tội như: động cơ, mục đích cũng như diễn biến và hậu quả tâm lý ở cá nhân khi thực hiện hành động phạm tội
2.1 Động cơ phạm tội
Động cơ, đó là các yếu tố chi phối hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân, là tập hợp các kích thích gây ra tính tích cực của cá nhân và quy định xu hướng của tính tích cực đó Động cơ chính là những nguyên nhân tâm lý bên trong quy định việc lựa chọn hoạt động của cá nhân, thúc đẩy và định hướng cho cá nhân theo hoạt động đó Trong hoạt động phạm tội, hành vi phạm tội được thúc đẩy bởi động cơ phạm tội Đó là yếu tố bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Chẳng hạn, sự ghen tuông, thù oán có thể thúc đẩy một người nào đó thực hiện hành vi giết người, cố ý gây thương tích
Sự xuất hiện động cơ phạm tội: Nhân tố nòng cốt của tội phạm là hệ thống các động cơ trong nhân cách người phạm tội Động cơ phạm tội được hình thành từ nhu cầu của người phạm tội và chịu sự tác động bởi các yếu tố tâm lý tiêu cực bên trong cũng như sự tác động của điều kiện khách quan bên ngoài của người phạm tội Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng Mọi hành vi phạm tội đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu của người phạm tội Nhu cầu của người phạm tội được hình thành và phát triển trong hoạt động của họ Đầu tiên nhu cầu của con người xuất hiện chưa rõ ràng, cá nhân chưa nhận thức được mình thiếu hụt cái gì (A.N Leonchiev gọi là một trạng thái có tính chất nhu cầu), sau đó nhu cầu được nhận thức ngày càng đầy đủ về đối tượng cũng như cách thức thỏa mãn nó (một nhu cầu thực sự) Khi đó, nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy cá nhân hoạt động chiếm lĩnh đối tượng Khi nghiên cứu về nhu cầu của người phạm tội, G.G Bôcarieva và L.I Bôrovich đã chỉ ra những nét đặc trưng là: Hệ thống nhu cầu của người phạm tội có tính nghèo nàn, hạn hẹp; có sự đòi hỏi quá cao của nhu cầu vật chất và nhu cầu sinh lý; có tính suy đồi trong việc thỏa mãn nhu cầu Chính những đặc điểm nhu cầu này khi gặp những điều kiện thuận lợi về mặt khách quan đã trở thành động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm
Như vậy, động cơ phạm tội được hình thành trên cơ sở người phạm tội nhận thức được đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu của bản thân
Trang 4Động cơ phạm tội là một yếu tố tâm lý phức tạp, nó không chỉ xuất hiện ở người phạm tội trên cơ sở các nhu cầu cấp bách mà cả những nhu cầu tiềm tàng Trong thực tế, hoạt động phạm tội thường do các động cơ sau thúc đẩy:
- Động cơ vụ lợi: Đây là động cơ gắn liền với những ham muốn vật chất, mong muốn có tiền để thỏa mãn những nguyện vọng ích kỷ, mong muốn tích lũy làm giàu bất chính Đó còn là những động cơ được nảy sinh bởi các ham muốn thái quá, phi đạo đức mà việc thoả mãn chúng dễ dàng gắn với nguy cơ phạm tội Chẳng hạn: nghiện ma tuý, say mê cờ bạc hoặc các nhu cầu giải trí có tính chất phi đạo đức
- Động cơ tình cảm: Đó là những động cơ được sinh ra và định hình do việc thường xuyên không thoả mãn các nhu cầu xã hội đơn giản, trước hết là nhu cầu được bảo vệ về thân thể và tinh thần, cũng như do tác động không thuận lợi có hệ thống từ môi trường xã hội gần gũi bên ngoài Các động cơ tình cảm có ý nghĩa phát sinh tội phạm như: các trạng thái xúc cảm tiêu cực kéo dài: cảm giác cô đơn, lo
âu, bực bội, ghen tỵ và sâu sắc hơn là lòng căm hận, sự thù oán, ghen tuông,
- Động cơ chính trị: Những động cơ này được hình thành từ nhận thức sai lầm,
ảo tưởng, từ mâu thuẫn, bất mãn của các phần tử chống đối chế độ, chống đối Nhà nước, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Nó cũng xuất phát từ sự thay đổi địa vị xã hội, liên quan đến lợi ích giai cấp của một số người vốn có quan hệ chặt chẽ với chế độ cũ cả về chính trị và kinh tế Động cơ mang tính chính trị thể hiện ở những toan tính phản động; ý thức chính trị, quan điểm chống đối; lý tưởng phản cách mạng; lòng hận thù giai cấp
Đối với các hành động phạm tội cố ý, động cơ là một yếu tố có tính chất bắt buộc trong việc xác định tính chất tội phạm Nghiên cứu động cơ phạm tội sẽ cho phép chúng ta xác định mức độ nguy hiểm của tội phạm, phân loại tội phạm, dự báo khả năng tái phạm và có căn cứ để thực hiện chính sách hình sự đối với người phạm tội như: xác định khung hình phạt, áp dụng các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
2.2 Mục đích phạm tội
Khác với động cơ, mục đích hành động là biểu tượng, hình ảnh về kết quả sẽ đạt được khi thực hiện hành động Mục đích phạm tội là sự hình dung trong đầu óc
về những gì sẽ đạt được qua hành động phạm tội sắp tới của cá nhân (Ví dụ như giết người để chiếm đoạt tài sản) Mục đích phạm tội được đặt ra trước khi chủ thể thực hiện hành động phạm tội Người phạm tội khi thực hiện hành động phạm tội cố ý đều nhằm tới những mục đích nhất định Nhưng chỉ có thể nói đến mục đích phạm tội của những hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì chỉ trong trường hợp này
Trang 5người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt được mục đích nhất định
Động cơ phạm tội là nhân tố nòng cốt, thúc đẩy và kiểm soát toàn bộ hoạt động phạm tội của người phạm tội, mục đích phạm tội là sự nhận thức được tính tất yếu và khả năng cụ thể của kết quả hành động phạm tội Nó xuất hiện trên cơ sở những động cơ nhất định thúc đẩy, gắn liền với sự phân tích, đánh giá cụ thể của cá nhân người phạm tội Động cơ phản ánh cái mà vì nó chủ thể thực hiện hành động, chẳng hạn như để thoả mãn nhu cầu nào đó Trong khi đó mục đích lại quy định trước cách thức và kết quả trực tiếp của các hành động, chẳng hạn như đi làm thuê kiếm tiền hay trộm cắp để thoả mãn nhu cầu tiền bạc của mình
Sự nảy sinh mục đích phạm tội: Cùng với việc xuất hiện động cơ phạm tội, ở người phạm tội cũng dần dần nảy sinh mục đích phạm tội Mục đích hành động được người phạm tội xác định và nhận thức như một yếu tố cần thiết và có khả năng thực hiện trong các điều kiện nhất định Nhận thức được nhu cầu, lợi ích của bản thân, người phạm tội phân tích hoàn cảnh thực tế và hình dung ra các khả năng phạm tội nhằm đạt được mục đích cụ thể
Ban đầu, mục đích phạm tội xuất hiện còn mơ hồ do chủ thể chưa xác định được đối tượng của nhu cầu của bản thân Dần dần nó xuất hiện rõ ràng hơn khi chủ thể xác định được đối tượng cũng như phương thức thỏa mãn nhu cầu đó Lúc này, mục đích phạm tội trở thành ý định phạm tội với những tính toán bước đầu về cách thức, biện pháp, kế hoạch hành động
Trong quá trình nảy sinh mục đích phạm tội, ở người phạm tội thường có sự cân nhắc, tính toán các khả năng đạt được mục đích bằng các biện pháp, phương tiện, trong các điều kiện, hoàn cảnh nhất định Nói cách khác, bên trong tư tưởng người phạm tội đã diễn ra quá trình phân tích, sàng lọc, suy nghĩ, tính toán để quyết định lựa chọn mục đích hành động phạm tội phù hợp
Đây là quá trình đấu tranh giữa các động cơ có tính chất trái ngược nhau nhằm giúp cá nhân tìm ra lý do để bênh vực cho mục đích phạm tội mà mình đã lựa chọn Trong các hành động phạm tội cố ý, đấu tranh động cơ là vấn đề có tính tất yếu, là quy luật bên trong của quá trình xác định mục đích phạm tội Đấu tranh động
cơ để quyết định mục đích phạm tội thường diễn ra gay gắt, quyết liệt và căng thẳng Tính chất quyết liệt, căng thẳng của quá trình đấu tranh động cơ phụ thuộc vào:
- Tầm quan trọng của mục đích phạm tội mà cá nhân đang lựa chọn
- Tính cấp thiết của nhu cầu thúc đẩy cá nhân
Trang 6- Sự khẩn trương của hoàn cảnh, tình huống phạm tội.
- Kinh nghiệm, thói quen, vốn sống, nhất là kinh nghiệm phạm tội, sự từng trải
và bản lĩnh hành động của chính người phạm tội
- Trình độ nhận thức, ý thức pháp luật của cá nhân Đây cũng là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đấu tranh động cơ thông qua quyết định hành động ở người phạm tội Nhiều người vì thiếu hiểu biết về pháp luật, không phân biệt được đúng, sai, không thấy được nguy cơ bị pháp luật trừng trị, không ý thức được hoặc đánh giá thấp khả năng của người bị hại, của những người xung quanh hoặc đứng trước tình huống bị khiêu khích từ phía người khác, chịu áp lực của những tên cầm đầu, chỉ huy hay từ phía đồng bọn mà thiếu suy nghĩ chín chắn, đầy đủ khi lựa chọn mục đích phạm tội Quá trình đấu tranh động cơ chỉ kết thúc khi người phạm tội chính thức lựa chọn mục đích phạm tội Vào thời điểm này, mục đích phạm tội
đã xuất hiện rõ ràng trong đầu người phạm tội và đồng thời họ cũng đã có quyết tâm hành động để đạt mục đích cụ thể Mục đích phạm tội có quan hệ chặt chẽ với điều kiện thực hiện tội phạm, bởi vậy khi hoàn cảnh bên ngoài không phù hợp, có thể làm thay đổi mục đích hoặc làm xuất hiện ở cá nhân mục đích phạm tội mới
Sau khi chính thức quyết định mục đích phạm tội, trên cơ sở phân tích các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, người phạm tội bắt đầu suy nghĩ đến các phương án cụ thể phù hợp với khả năng của bản thân mình để thực hiện hành động phạm tội Họ tính toán kế hoạch hành động: thực hiện bằng cách nào, bằng phương tiện gì; ai cùng thực hiện; thời gian thuận lợi, địa điểm hợp lý để thực hiện tội phạm? Trên
cơ sở đó, người phạm tội lựa chọn cho mình phương án hành động tối ưu nhất Việc nảy sinh động cơ, mục đích phạm tội là một quá trình tâm lý phức tạp có quan hệ chặt chẽ với nhân cách của người phạm tội cũng như các điều kiện khách quan khác Sự xuất hiện hoặc thay đổi động cơ, mục đích phạm tội tùy thuộc vào tính cấp bách của các nhu cầu, năng lực đánh giá tình huống cũng như các đặc điểm tính cách, ý chí của người phạm tội
Khi điều kiện bên ngoài thay đổi, có thể người phạm tội sẽ điều chỉnh, thay đổi động cơ, mục đích hoặc xuất hiện động cơ, mục đích mới Người phạm tội cũng
có thể hủy bỏ toàn bộ động cơ, mục đích phạm tội khi thấy rằng điều kiện khách quan là bất lợi cho quá trình phạm tội và trốn tránh pháp luật hoặc cho rằng việc từ
bỏ, không hành động phạm tội nữa là khôn ngoan, là có lợi nhất cho mình Trong hoạt động phạm tội không phải hành vi phạm tội nào cũng có mục đích phạm tội Những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và
Trang 7mong muốn hậu quả xảy ra”, nói cách khác, người phạm tội đã cân nhắc xác định rõ mục đích trước khi thực hiện hành vi đó, vì vậy luôn tồn tại mục đích phạm tội Nó thể hiện khuynh hướng, ý chí của người phạm tội
Mục đích phạm tội biểu hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Những hành vi phạm tội giống nhau về mặt khách quan nhưng khác nhau về mục đích, thì mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau
2.3 Quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Trong những hành vi phạm tội với lỗi cố ý, sau khi xuất hiện động cơ, mục đích và lập kế hoạch thực hiện, người phạm tội thường cân nhắc một lần nữa: có thực hiện hành động để đạt mục đích đã định hay không? Vì vậy quyết định thực hiện hành vi phạm tội là sự lựa chọn cuối cùng của người phạm tội về mục đích, phương án, phương tiện phạm tội, thể hiện ý chí và lý trí của người phạm tội, thái
độ của họ đối với hành vi phạm tội và hậu quả của nó
Quyết định thực hiện hành vi phạm tội có thể được đưa ra trong chốc lát dưới tác động trực tiếp của tình huống, hoặc xuất phát từ những khuôn mẫu hành động đã
có trong quá khứ, hoặc là kết quả của một quá trình đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn Quyết định thực hiện hành vi phạm tội có thể là quyết định có cơ sở, hợp lý, tối ưu hoặc là quyết định nông nổi, manh động, thiếu cơ sở Điều này phụ thuộc vào nhận thức và các đặc điểm tâm lý khác của người phạm tội Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ của các chuẩn mực xã hội, thì chúng luôn là quyết định sai lầm, đáng lên án
và người phạm tội thường là người có những lệch lạc về nhân cách, người thiển cận,
vì cái trước mắt mà bỏ qua cái lâu dài
2.4 Phương thức thực hiện tội phạm
Phương thức thực hiện tội phạm là cách thức mà người phạm tội lựa chọn để tác động đến đối tượng nhằm đạt được mục đích phạm tội của mình Phương thức thực hiện tội phạm được hình thành trên cơ sở mục đích phạm tội Phương thức thực hiện tội phạm thể hiện vốn sống, tri thức, kinh nghiệm phạm tội của người phạm tội
2.5 Điều kiện, hoàn cảnh phạm tội
Mỗi hành vi phạm tội luôn được thực hiện trong một tình huống nhất định với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian và những sự kiện có liên quan xảy ra trong tình huống đó Chúng là mặt khách quan của tội phạm Khi phân tích tâm lý hành vi phạm tội, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố này Chính sự tác động qua lại giữa điều kiện, hoàn cảnh của tình huống bên ngoài với đặc điểm nhân
Trang 8cách bên trong đã đưa đến phản ứng trả lời của con người, đó là những hành vi, kể
cả hành vi phạm tội Chính những tác động từ bên ngoài môi trường sống lên cá nhân đã làm cho nhu cầu chưa được thoả mãn ở họ trở thành động cơ thúc đẩy họ hành động Cũng chính điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện hành vi phạm tội Khi xác định mục đích, lập kế hoạch, lựa chọn công cụ, phương tiện phạm tội, khi đưa ra quyết định thực hiện, con người không những cân nhắc, đánh giá năng lực của bản thân, mà còn phân tích tình huống, dự đoán hậu quả của hành vi Sự nhận thức đánh giá tình huống không đúng
có thể đưa con người đến với những hành vi lệch chuẩn, hành vi phạm pháp và phạm tội Chẳng hạn như phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết Nguyên nhân của sự phản ánh tình huống một cách sai lệch có thể do một
số yếu tố khách quan của tình huống đã cản trở nhận thức của con người, nhưng cơ bản vẫn là do những khiếm khuyết trong tâm lý, nhân cách của họ: do hiểu biết hạn chế, do nông nổi, cẩu thả, do tự tin thái quá Điều này được biểu hiện rất rõ trong những hành vi phạm tội với lỗi vô ý Trong những hành vi phạm tội với lỗi cố ý sự phản ánh tình huống thường có ý nghĩa hạn chế hơn, bởi vì ở đây người phạm tội nhận thức được hành vi của mình, hậu quả của nó nhưng vẫn quyết định thực hiện
Trang 9PHẦN BA: KẾT LUẬN
Hành vi phạm tội là kết quả của sự tác động qua lại giữa các đặc điểm tâm
lý, nhân cách bên trong con người với điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài Vai trò của điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài thể hiện ở chỗ: chúng là những yếu tố hoặc kích thích hoặc cản trở con người thực hiện hành vi phạm tội Sự thay đổi của điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài có thể làm thay đổi ý đồ của người phạm tội và làm xuất hiện
ý đồ mới
Thông qua phân tích cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội, bản thân thấy được không phải bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng có đầy đủ 05 thành phần cấu trúc gồm: động cơ phạm tội; mục đích phạm tội; quyết định thực hiện hành vi phạm tội; phương thức thực hiện hành vi phạm tội; điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Chỉ có hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đặc biệt là cố ý trực tiếp thì mới có đầy đủ cả 05 yếu
tố nêu trên
Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc tâm lý hành động phạm tội có ý nghĩa quan trọng, giúp cho cơ quan điều tra, xét xử nắm bắt được tâm lý của kẻ phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là trạng thái tâm lý lo lắng, run sợ, hoảng loạn sau khi gây án, dù kẻ phạm tội đã tìm mọi cách che dấu hành vi phạm tội Từ đó không chỉ có thể giúp nhanh chóng tìm ra được kẻ phạm tội và giúp việc xét xử được công bằng, nghiêm minh, mà còn đem lại lợi ích cho việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm có kết quả./
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quốc hội (2017), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số
100/2015/QH13, Hà Nội.
2 Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự Việt Nam, Hà Nội.
3 TS Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2018), Tâm lý học tư pháp (tập bài
giảng), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
4 Tạp chí cộng sản (2018), Tình hình tội phạm vẫn ở mức độ nghiêm trọng,
bạo lực gia tăng.
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thoi_su/2018/52153/Tinh-hinh-toi-pham-van-o-muc-do-nghiem-trong-bao-luc.aspx