Chương 2 Trường phái trọng thương Câu 1 Quan điểm về của cải Tư tưởng xuất phát của trường phái Trọng thương là sủng bái tiền tệ và đồng nhất tiền tệ với của cải, họ cho rằng tiền tệ mới là tài sản thực sự của một quốc gia, một nước càng có nhiều tiền thì càng giàu có, sự giàu có tích lũy dưới hình thái tiền tệ là sự giàu có muôn đời vĩnh viễn Đồng thời coi hàng hóa chỉ là phương tiện nhằm gia tăng khối lượng tiền tệ, mục đích của mọi chính sách kinh tế của một quốc gia là làm tăng khối lượng ti.
Trang 1Chương 2 : Trường phái trọng thương
Câu 1: Quan điểm về của cải
Tư tưởng xuất phát của trường phái Trọng thương là sủng bái tiền tệ và đồng nhất tiền tệ với của cải, họ cho rằng tiền tệ mới là tài sản thực sự của một
quốc gia, một nước càng có nhiều tiền thì càng giàu có, sự giàu có tích lũy dưới hình thái tiền tệ là sự giàu có muôn đời vĩnh viễn Đồng thời coi hàng hóa chỉ là phương tiện nhằm gia tăng khối lượng tiền tệ, mục đích của mọi chính sách kinh
tế của một quốc gia là làm tăng khối lượng tiền tệ
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái đầu tiên coi trọng vai trò của tiền tệ trong lịch sử kinh tế
Ho bị cuốn hút vào việc tích lũy các kim loại sản xuất tiền là vàng và bạc Vì nguồn cung cấp vàng, bạc có giới hạn nên những người trọng thương tin
rằng một quốc gia có thể cải thiện dự trữ vàng của mình từ sự thua thiệt của quốc gia khác, tạo nên của cải và quyền lực cho quốc gia đó
Chỉ chú ý đến xuất khẩu, họ cho rằng cần tập trung hoàn toàn vào xuất khẩu, vì xuất khẩu là nguồn mang lại kim loại quý Còn nhập khẩu thì rất hạn chế, đặc biệt là các sản phẩm đã hoàn chế và hàng hóa xa xỉ phẩm Họ
bảo vệ chính sách bảo hộ: khuyến khích xuất khẩu (thông qua trợ giá) và cản trở nhập khẩu (dựa vào thuế quan)
Ngoài ra, theo quan điểm của trường phái trọng thương thì muốn gia tăng xuất
khẩu để có nhiều kim quý thì phải có nhiều nhân công "Dân số là của cải và sức mạnh của quốc gia" "Quốc gia giàu có nhất phải chăng là quốc gia có nhiều nhân công nhất"
Câu 2: Quan điểm về thương mại
Các nhà trọng thương đã xác định rằng tiền tệ là tiêu chuẩn căn bản của của cải.Từ đó, quan niệm về thương mại được hình thành và tập trung phát triển hệ thống lí luận về thương mại chính là điểm đăc thù nhất của trường phái Trọng thương.Nhưng do tiền tệ được biểu hiện rõ nhất trong lưu thông,trong thương mại nên họ cho rằng thương mại mới chính là
nguồn gốc tạo ra của cải và khả năng tăng trưởng của một nền kinh tế chỉ có thể thông qua hoạt động thương mại.
Để tích lũy của cải,tích lũy tiền thông qua hoạt động thương mại,các nhà trọng thương đưa ra hàng loạt các chính sách điều tiết lưu thông,hướng tới xây dựng
một bảng cân đối thương mại thuận lợi.Trên thực tế,ban đầu các nhà trọng thương chỉ chú ý đến việc điều tiết lưu thông tiền tệ nhằm giữ khối lượng tiền tệ có ở trong nước.Nhưng về sau họ đã tập trung điều tiết cả lưu thông hàng hóa nhằm gia tăng chứ không chỉ giữ nguyên khối lượng tiền tệ trong nước.Để tạo ra cán cân thương mại thuận lợi,tức là cán cân
thương mại thuận lợi,tức là cán cân có thể đem lại nhiều tiền tệ về cho đất
nước,các nhà trọng thương đã khuyến khích xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.Về vấn đề này,các nhà trọng thương khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thô giá rẻ sau đó đưa vào chế biến và xuất khẩu thành phẩm.
Trang 2Theo các nhà trọng thương,để tích lũy tiền tệ thông qua hoạt động thương mại
mà trước hết là ngoại thương., Họ đặt nhiệm vụ của ngoại thương là xuất siêu vì chỉ như vậy mới có thể đạt được lợi ích kinh tế,làm tăng thêm khối lượng tiền tệ cho quốc gia.Ngoài ra,họ cho rằng việc tích lũy lũy tiền tệ thông qua thương mại là kết quả của quá trình trao đổi không ngang giá.Lợi nhuận thương mại là do việc mua rẻ bán đắt
Các nhà trọng thương cho rằng,thương mại là ngành duy nhất tạo ra của cải nhưng nhìn tổng thể,họ cũng không hề phủ nhận hoàn toàn vai trò của các ngành khác
Chủ nghĩa trọng thương chủ trương chính sách bảo hộ mậu dịch (chế độ thuế quan bảo hộ) nhằm bảo hộ cho giới doanh thương quốc nội trên thị trường nước ngoài và tạo ra những hạn chế đối với giới giao thương ngoại quốc trên thị
trường trong nước Chính sách bảo hộ mậu dịch làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia, ưu tiên mở rộng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu Kết quả khả quan của giao thương được đánh giá bằng sự vượt trội lượng hàng xuất đối với lượng hàng nhập, bằng lượng vàng ròng thu được, dẫn đến sự hình thành khái niệm cân đối thương mại chủ động.
Câu 3: Quan điểm về vai trò của nhà nước
Một quan điểm chủ đạo của chủ nghĩa trọng thương, cũng là sự thừa nhận truyền thống quân chủ từ thời kỳ tiền trung cổ, xem người cầm quyền
là tối cao, là phụ mẫu của dân tộc, người có quyền điều hành các chính sách
kinh tế với mục đích tạo nên sự hùng mạnh của quốc gia Chủ nghĩa trọng
thương là hệ tư tưởng đầu tiên xác định các chức năng lãnh đạo cho người đứng đầu nhà nước, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cổ xúy tinh thần dân tộc trong dân chúng.
Chủ nghĩa trọng thương chưa biết đến và không thừa nhận sự hoạt động của các
quy luật kinh tế khách quan do đó họ đánh giá rất cao vai trò của nhà nước,
sử dụng quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế vì tích luỹ tiền tệ chỉ thực hiện được nhờ sự giúp đỡ của nhà nước Họ đòi hỏi nhà nước phải
tham gia tích cực vào đời sống kinh tế để thu hút tiền tệ về nước mình càng nhiều càng tốt, tiền ra khỏi nước mình càng ít càng phát triển
Tuy nhiên,các nhà trong thương ít nhiều cũng cảm nhận được rằng ảnh hưởng bất lợi khi nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế.Họ cho
rằng,sự can thiệp của nhà nước không được bừa bãi và không được làm phức tạp
thêm các lý thuyết kinh tế cơ bản.Khi các biện pháp can thiệp của nhà nước
tỏ ra bất hợp lí,các thương nhân sẽ tìm cách gạt bỏ những can thiệp vô
lí này bằng mọi cách.
Câu 4: Vị trí lịch sử của trường phái Trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, ra đời trước hết ở Anh vào khoảng những năm 1450, phát triển tới giữa thế kỷ thứ XVII
Trang 3và sau đó bị suy đồi Có thể nói, nó ra đời trong bối cảnh hết sức thuận lợi khi
mà phương thức sản xuất phong kiến bắt đầu tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời:
Đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng, tức là thời kỳ tước đoạt bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích luỹ tiền tệ ngoài phạm
vi các nước Châu Âu, bằng cách cướp bóc và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương
Câu 5: Quan điểm của trường phái Trọng thương trong giai đoạn I (đầu TK XV – giữa TK XVI)
Giai đoạn đầu với những đại biểu như William Stafford (1554-1612, người Anh), Thomas Gresham (1519-1579, người Anh) và Gasparo Scaruffi (1519-1584, người Ý) với lý thuyết cân đối tiền tệ, tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh
tế là “Bảng cân đối tiền tệ”.Các nhà trọng thương trong giai đoạn này đã
đồng nhất tiền tệ với của cải nói chung.Họ chưa hiểu quan hệ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ.
Ở giai đoạn này,các nhà trọng thương yêu cầu cấm xuất khẩu tiền,phải tích lũy tiền,hạn chế nhập khẩu hàng hóa để giữ vững khối lượng tiền tệ trong nước,yêu cầu nhà nước phải tích cực điều tiết lưu thông tiền tệ,phải lập
hàng rào thuế quan cao,quản lí chặt chẽ hoạt động ngoại thương(đặc biệt là nhập khẩu)
Friedrich Engels nhận xét về trường phái trọng thương trong giai đoạn này:”Các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn,hai tay ôm giữ túi tiền quý báu,nhìn sang người láng giềng bằng con mắt ghen tị đa nghi”
Câu 6: Quan điểm của trường phái Trọng thương trong giai đoạn II (giữa TK XVI – giữa TK XVII)
Giai đoạn sau phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 17 với những người đại diện là Thomas Mun (1571-1641, người Anh) và Antoine de Montchrétien (1576-1621,
người Pháp) với tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tế “Bảng cân đối thương mại”.Các nhà trọng thương ở giai đoạn này đã hiểu tiền không phải
là của cải nói chung mà là tiền thu do bán số sản phẩm dư thừa được sản xuất ra thông qua ngoại thương sau khi đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước đó.Các nhà trọng thương lúc này không chỉ chú trọng đến lưu
thông tiền tệ mà còn chú trọng đến cả lưu thông hàng hóa.Họ đã hiểu,việc tăng thêm tiền tệ trong nước không chỉ dừng lại ở lưu thông tiền tệ,trong buôn bán thương mại phải đảm bảo xuất siêu để có chênh lệch,tăng tiền quỹ cho ngân khố quốc gia
Trang 4Học thuyết trọng thương trong giai đoạn này đã đưa ra hàng loạt biện pháp mới
thay thế cho các biện pháp trước đó như:phát triển nội thương không hạn chế,mở rộng xuất khẩu,tán thành nhập khẩu hàng hóa với quy mô
lớn,tự do lưu thông tiền tệ,chế tạo các sản phẩm xuất khẩu,cấm xuất khẩu nguyên liệu chỉ được xuất khẩu thành phẩm
Nguyên tắc nổi tiếng trong giai đoạn này là:”bán nhiều,mua ít” có như vậy
tiền sẽ tự chảy vào trong nước mà không cần đến biện pháp hành chính của nhà nước
Câu 7: So sánh trường phái Trọng thương trong giai đoạn I và giai đoạn II
Giống nhau:
-Đều coi tiền là nội dung căn bản của của cải là tài sản thực sự của quốc gia,coi hàng hóa là phương tiện làm tăng thêm khối lượng tiền tệ.
-Cả hai giai đoạn này đều coi trọng thương mại(đặc biệt là ngoại
thương).Đều có chung các quan điểm kinh tế
Khác nhau:
-Giai đoạn đầu: Tư tưởng trung tâm của trọng thương là bảng “Cân đối tiền tệ”
“Cân đối tiền tệ” chính là ngăn chặn không cho tiền ra nước ngoài, cấm xuất khẩu tiền, vàng và bạc; tăng cường tích trữ tiền, hạn chế nhập khẩu hàng nước ngoài, lập hàng rào thuế quan cao, giảm lợi tức của tư bản cho
vay, giám sát chặt chẽ thương nhân nước ngoài
-Giai đoạn sau:
+Nội dung trọng tâm của trọng thương là "Bảng cân đối thương mại", đây là giai
đoạn thật sự của chủ nghĩa trọng thương Họ coi trọng cân đối thương mại, không cấm đem tiền ra nước ngoài, không buộc thương nhân nước ngoài mua hết số tiền có được do mang hàng hóa vào bán, nhưng hoạt động thương mại phải hướng tới sự cân đối giữa xuất và nhập.
+Giai đoạn này đòi hỏi phát triển nội thương không hạn chế, mở rộng xuất khẩu, tán thành nhập khẩu hàng hóa nước ngoài với qui mô lớn; cho tự do lưu thông tiền tệ, không cấm xuất khẩu vàng và bạc, lên án việc tích trữ tiền; khuyến khích phát triển công nghiệp chế tạo, nhất là những ngành xuất khẩu với khẩu hiệu: “bán nhiều, mua ít”, từ đó bản thân vàng tự nó sẽ chạy vào trong nước, không cần biện pháp hành chính nào cả
_
Chương 3:Kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Câu 1: W.Petty:Lý luận giá trị lao động,lý luận tiền tệ,quan điểm
về của cải
Trang 5A,Lý luận giá trị lao động:
Trong lĩnh vực kinh tế chính trị học,W.Petty đã có những cống hiến quan
trọng,ông đã đưa ra những nguyên lý đầu tiên trong lý luận về “giá trị lao động”
và khẳng định rằng lao động tạo ra giá trị.Nhờ cống hiến này mà K.Marx gọi ông
là cha đẻ của kinh tế chính trị học
Trong tác phẩm “Bàn về thuế khóa và lệ phí” ,W.Petty đã đưa ra ba phạm trù về
giá cả là giá cả tự nhiên,giá cả nhân tạo và giá cả chính trị.Theo đó, giá cả tự
nhiên được quyết định bởi lượng lao động hao phí để sản xuất ra nó ; giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hóa,phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và
giá cả tự nhiên ; giá cả chính trị là một dạng đặc biệt của giá cả tự nhiên trong
điều kiện chính trị không thuận lợi
Tuy nhiên,W.Petty cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng,bạc giữ vai trò tiền tệ mới tạo ra giá trị.Những hoạt động lao động khác đơn giản chỉ tạo ra của cải,không mang giá trị.Theo ông,giá cả tự nhiên của hàng hóa
chỉ là sự phản ánh giá trị của tiền tệ.Ở thời của ông,những người tôn sùng
thương nghiệp luôn coi hoạt động này là hoạt động sản xuất ra của cải,tương
ứng với nó,giá trị chỉ được tính bằng tiền.Ông cũng sai lầm khi cho rằng lao động và đất đai là nguồn gốc của giá trị,ông coi lao động là cha,đất đai
là mẹ của mọi của cải và giá trị trong khi hai yếu tố này chỉ là các thành phần của quá trình lao động sản xuất tạo ra của cải hàng hóa.
W.Petty còn áp dụng phương pháp định lượng đơn giản theo cách so sánh diện tích đất và lượng dân số để suy ra cần chừng nào đất đai để sản xuất số lượng thực cho một người/ngày.Suy luận này không mấy thuyết phục khi ông cố quy lao động và đất đai theo một chuẩn giá trị đồng nhất.Đó là hạn chế của W.Petty
B,Lý luận về tiền tệ:
Lí thuyết tiền tệ của W.Petty được chia ra thành 2 giai đoạn:
-Giai đoạn đầu, ông chịu ảnh hưởng của trường phái Trọng thương và đề cao vai trò của tiền.Ông đánh giá cao vai trò của tiền tệ ,không phải của cải nói chung mà là vàng bạc mới là của cải của quốc gia.Ông cho
rằng:”Của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mới là của cải đích
thực”.Chịu ảnh hưởng của trường phái Trọng thương,W.Petty nhấn mạnh vai trò của thương nghiệp(đặc biệt là ngoại thương) khi cho rằng:của cải của một quốc gia chủ yếu ở ngoại thương,rằng thương nghiệp có lợi hơn công nghiệp,còn công nghiệp có lợi hơn nông nghiệp
-Giai đoạn sau,xuất phát từ định nghĩa đúng về giá trị để nghiên cứu tiền tệ
cho nên ông đã có sự nhìn nhận sát hơn về bản chất và vai trò của tiền
tệ và thoát ra khỏi tư tưởng của trường phái Trọng thương.Ông quan
niệm tiền không phải lúc nào cũng là của cải,tiền chỉ là 1% của của cải do vậy
Trang 6nếu quá đề cao vai trò của tiền sẽ là sai lầm.Ông là người đầu tiên đưa ra
quy luật lưu thông tiền tệ và đã đề cập một cách cơ bản quy luật này.Ông ví tiền
như mỡ trong cơ thể chính trị bởi vậy việc thừa tiền hay thiếu tiền đều
không tốt.Thiếu tiền có hại cho thương nghiệp,công nghiệp và hệ thống tài
chính.Ngược lại sự thừa thãi tiền có thể có hại giống như một loại mỡ của cơ thể chính trị
Tuy vậy,cũng như nhiều tác giả khác của trường phái Cổ điển,W.Petty chỉ biết được một hình thái nổi bật nhất của giá trị tiền.Vì vậy,khi nghiên cứu về tiền tệ ông không giải thích được sự ra đời và bản chất của tiền tệ
C,Quan điểm về của cải:
Câu 2:Adam Smith:Lí luận giá trị,lí luận tiền tệ,lí thuyết bàn tay
vô hình
A,Lí luận giá trị:
-Tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị chứ không chỉ có lao động khai thác vàng bạc.Lao động là thước đo cuối cùng của giá trị
-Phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi,giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi,giá trị trao đổi là do hao phí lao động quyết định
Trang 7-Lượng giá trị của hàng hóa là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định
-Lao động giản đơn và lao động phức tạp ảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị của hàng hóa
-Lí thuyết giá trị lao động có hạn chế:cùng lúc đưa ra 2 định nghĩa về giá trị.Giá trị là do các nguồn thu nhập tạo thành
B,Lí luận về tiền tệ:
-Tiền là thứ hàng hóa tách ra
-Tiền là công cụ thuận tiện cho lưu thông và trao đổi hàng hóa
-Việc thay thế tiền vàng và tiền bạc bằng tiền giấy và phát hành tiền giấy cần phải do ngân hàng đảm nhiệm;đồng thời đánh giá cao vai trò của tín dụng vì nó
là phương tiện làm cho tư bản năng động hơn
C,Lí thuyết “bàn tay vô hình”:
Điểm xuất phát trong quá trình nghiên cứu kinh tế của A.Smith là “con người kinh tế”-tức là những chủ thế tham gia vào hoạt động kinh tế
+ Bản chất của con người kinh tế là:lợi ích kinh tế
+ Nguyên tắc hoạt động của con người kinh tế là:đôi bên cùng có lợi
Bàn tay vô hình chính là quy luật kinh tế khách quan chi phối hoạt động lao động của con người
Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế,chỉ tập trung vào những chức năng cơ bản như sau:
+ Duy trì hòa bình để phát triển kinh tế
+Làm tốt vai trò của “người bảo hộ”(chính là bảo hộ quyền tư sở hữu tư sản,quyền tự do kinh doanh )
+Phát triển những của cải công cộng,tức là tạo ra và duy trì những thể chế công cộng,những tòa nhà công trình công cộng những thứ này rất có ích cho xã hội nhưng không thu được lợi nhuận
Câu 3:D.Ricardo:Lí luận giá trị,lí luận tiền tệ,khủng hoảng kinh tế:
A,Lí luận giá trị:
-D.Ricardo phê phán,kế thừa và phát triển lí luận giá trị của A.Smith,ông
đã gạt bỏ những chỗ thừa và mâu thuẫn:
+Cũng giống như A.Smith,ông phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.Giá trị sử dụng là điều kiện của giá trị nhưng không quyết định
Trang 8giá trị,trừ những hàng hóa khan hiếm.Còn giá trị trao đổi là do hai yếu tố quyết định:Một là,số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng và hai là,tính khan hiếm của nó
+Cơ cấu giá trị của hàng hóa gồm 3 bộ phận là c+v+m chứ không thể loại c ra khỏi giá trị sản phẩm như trước đó A.Smith từng quan niệm
-D.Ricardo cho rằng,lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hóa song lao động xã hội cần thiết do điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định
B,Lí luận tiền tệ:
Trong lí thuyết tiền tệ của D.Ricardo là nó mang tính 2 mặt:
+Một mặt,dựa trên cơ sở lí thuyết giá trị lao động,ông đã đề ra các
nguyên lí về tiền.Ông coi giá trị của tiền là do giá trị vật liệu làm ra tiền quyết định và giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị.Ông cũng ủng hộ quy luật lưu thông tiền tệ mà W.Petty và A.Smith đã đưa ra trước đó
+Mặt khác,ông theo lập trường số lượng tiền tệ-giá trị của tiền phụ thuộc vào số lượng của nó.Nếu số lượng tiền càng nhiều thì giá trị của tiền tệ càng ít và ngược lại.Bane thân tiền tệ không có giá trị nội tại
C,Khủng hoảng kinh tế:
Có thể nói D.Ricardo là người đầu tiên nghiên cứu về khủng hoảng kinh
tế,nhưng ông lại phủ nhận khủng hoảng kinh tế.Ông cho rằng trong chủ nghĩa tư bản không có khả năng sản xuất thừa.Vì ông cho rằng lượng cầu thường là có khả năng thanh toán,và nó được tăng thêm bằng lượng cung hàng hóa và “sản phẩm bao giờ cũng được mua bằng sản phẩm hay bằng những sản phẩm phục vụ”
Luận điểm sai lầm của D.Ricardo về khủng hoảng kinh tế cũng một phần
là do ông không được chứng kiến cuộc khủng hoảng sản xuất thừa đầu tiên của chủ nghĩa tư bản Anh năm 1825
Câu 4:J.B.Say:Lí luận giá trị,khủng hoảng kinh tế
A,Lí luận giá trị:
Lí luận giá trị của J.B.Say là lí luận giá trị lợi ích,ích lợi khách quan(giá trị
sử dụng).Ông cho rằng sản xuất tạo ra công dụng của vật,còn công dụng
Trang 9của vật lại truyền giá trị cho vật”.Ông đã đồng nhất giá trị với giá trị
sử dụng.Theo ông tính có ích của vật càng lớn thì giá trị của vật càng cao.Ông khẳng định:”giá cả là thước đo của giá trị,còn giá trị là
thước đo của ích lợi”
J.B.Say đã xuất phát từ 2 mệnh đề rất khoa học:sản xuất tạo ra ích lợi
và giá cả là biểu hiện của giá trị để đưa ra hai kết luận rất sai:ích lợi quyết định giá trị và giá trị là biểu hiện của ích lợi
J.B.Say đã chia ích lợi thành làm hai loại:Một loại là “ích lợi không mất tiền mua” như nước,không khí -ích lợi mà tự nhiên ban tặng nên không phải trả tiền do đó không có giá trị; Một loại khác là “ích lợi mất tiền mua” ,tự nhiên không ban tặng nên phải trả tiền do đó có giá trị
B,Lí thuyết kinh hoảng kinh tế:
J.B.Say phủ nhận sản xuất thừa trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.Trong lí thuyết quy luật thị trường ông khẳng định tính chất nhịp nhàng cân đối của sản xuất là do sản xuất tự tìm ra nơi tiêu thụ hàng hóa,khối lượng hàng hóa bán ra bằng khối lượng hàng hóa mua vào,hoặc tổng cung bằng tổng cầu.Trong trường hợp sản xuất ra không bán được thì ông giải thích là do tình trạng sản xuất không đủ ở một ngành nào đó,cho nên ở ngành khác có sản xuất thừa.Việc mất cân đối này chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên,nhất thời.J.B.Say cho rằng những cuộc khủng hoảng thương nghiệp xảy ra là do sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.Ông tin tưởng vào khả năng tự cân bằng của thị
trường và phê phán sự can thiệp của nhà nước
Câu 5:Trường phái trọng nông:biểu hiện kinh tế(giả định,các hành
vi thực hiện sản phẩm,đóng góp,hạn chế của biểu hiện kinh tế):
Trang 101.Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận:
-Trường phái Trọng nông xuất hiện đầu TK XVIII ở nước Pháp
-Chính sách tài chính của nước Pháp thời kì Trọng thương làm nền nông nghiệp rơi vào đình đốn,nông dân gặp nhiều khó khăn
-Trường phái Trọng nông chuyển đối tượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp,đánh giá cao vai trò của nông nghiệp;đồng thời ủng hộ tư
tưởng tự do kinh doanh
2.Đặc điểm chung của trường phái Trọng nông:
-Thứ nhất,các nhà Trọng nông cũng chuyển đối tượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp;đề cao vai trò của nông nghiệp và coi nó là lĩnh vực duy nhất trong xã hội tạo ra của cải
-Thứ hai,họ đã phê phán trường phái Trọng thương và đưa ra cương lĩnh kinh tế của mình:
+ Phê phán trường phái Trọng thương về một số điểm:Một là,lợi nhuận thương nghiệp là do cạnh tranh và tiết kiệm chi phí lưu thông.Hai là,hạ thấp vai trò của
tiền và phê phán chủ nghĩa Trọng thương vì quá đề cao vai trò của
tiền.Ba là,chủ trương tự do lưu thông,chống lại những đặc quyền về thuế,đánh
giá lại vai trò của thương mại,ngoại thương.Bốn là,đề cao vai trò của sản xuất nông nghiệp,chủ trương tự do hành động chống lại “nhà nước toàn năng”
+ Cương lĩnh kinh tế của trường phái Trọng nông: đề ra những biện pháp khuyến khích nông nghiệp phát triển như kiến nghị nhà nước khuyến khích đầu
tư vào nông nghiệp,cho phép chủ trại tự do lựa chọn ngành kinh doanh,đề nghị sửa chữa những chính sách nông nghiệp như giảm thuế,miễn thuế,đề nghị mở mang giao thông,đầu tư sửa chữa đường xá
-Thứ ba,các nhà Trọng nông tích cực sử dụng nhiều phương pháp khoa học trong nghiên cứu kinh tế như phương pháp khoa học tự nhiên,trừu tượng hóa Tuy
vậy,phương pháp họ đưa ra có hạn chế lớn:siêu hình,phi lịch sử,đặc biệt còn
mang tính hẹp hòi,phiến diện
-Thứ tư,trường phái Trọng nông ủng hộ tư tưởng tự do kinh doanh
3.Các lí thuyết kinh tế Trọng nông:
a.Lí thuyết trật tự tự nhiên:
- Theo F.Quesnay,có 2 loại quy luật tự nhiên:quy luật vật lí tác động trong lĩnh vực tự nhiên và quy luật luận lý tác động trong lĩnh vực kinh tế-xã hội