ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚICâu 1: Văn minh Ai Cập cổ đại: - Cơ sở hình thành - Thành tựu chữ viết, văn học, kiến trúc – điêu khắc, khoa học tự nhiên, y học.. Câu 2: Văn minh Lưỡn
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Câu 1: Văn minh Ai Cập cổ đại:
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, kiến trúc – điêu khắc, khoa học tự nhiên, y học.
Câu 2: Văn minh Lưỡng Hà
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, khoa học tự nhiên, luật pháp
Câu 3: Văn minh Trung Quốc thời cổ trung đại
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, sử học, tư tưởng Nho gia, bốn phát minh lớn về kĩ thuật.
Câu 4: Văn minh Ấn Độ cổ trung đại
- Điều kiện tự nhiên
- Thành tựu: chữ viết, văn học, Phật giáo, khoa học tự nhiên
Câu 5: Văn minh Đông Nam Á cổ trung đại
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu: chữ viết, văn học, kiến trúc, tôn giáo
Câu 6: Văn minh Ả rập thời trung đại
- Thành tựu: văn học, nghệ thuật, khoa học tự nhiên, giáo dục, tôn giáo.
Câu 7: Văn minh Hi Lạp cổ đại
- Thành tựu chủ yếu: văn học, khoa học tự nhiên, kiến trúc – điêu khắc, triết học.
Câu 8: Văn minh La Mã:
- Thành tựu chủ yếu: chữ viết, kiến trúc – điêu khắc, luật pháp, khoa học tự nhiên.
Câu 9: So sánh văn minh phương Đông và văn minh phương Tây cổ đại: cơ sở hình thành (thiếu) Câu 10: Phong trào văn hóa Phục hưng ở Tây Âu thời hậu kì trung đại: thành tựu, nội dung tư tưởng
Câu 1: Văn minh Ai Cập cổ đại:
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, kiến trúc – điêu khắc, khoa học tự nhiên, y học.
TRẢ LỜI
Trang 2 Cơ sở hình thành
- Điều kiện tự nhiên
+) Vị trí: Lãnh thổ Ai Cập hầu như bị đóng kín, phía Tây giáp sa mạc Libi, phía Đông là Hồng Hải, phía Bắc
là Địa Trung Hải, phía Nam giáp sa mạc Nubi và Êtiôpia
+) Địa hình: Ai Cập được chia làm hai khu vực rõ rệt là thượng và hạ Ai Cập Thượng Ai Cập là dãy thung lũng dài và hẹp, có nhiều núi đá còn hạ Ai Cập là vùng châu thổ đồng bằng sông Nile
+) Sông Nile: là một trong những con sông lớn nhất thế giới (6.700km), phần chảy qua Ai Cập là 700km Sông Nile cung cấp phù sa màu mỡ, cung cấp nguồn nước cho đồng bằng châu thổ, thuận lợi cho trồng trọt, cung cấp nguồn thực phẩm thủy sản dồi dào, là huyết mạch giao thông quan trọng
Ai Cập chính là “tặng vật của sông Nile”
- Kinh tế: Nông nghiệp dựa trên hoạt động của S.Nile Sự thành công của nền văn minh AC cổ đại 1 phần đến từ khả năng thích ứng đối với các điều kiện của thung lũng S.Nile ban tặng cho sản xuất nông nghiệp
- Dân cư: Cách đây khoảng 12.000năm, trên lưu vực châu thổ sông Nile, đã có những nhóm người sinh sống Cư dân Ai Cập cổ bao gôm các bộ lạc từ Đông Bắc châu Phi và Tây Á đến Họ quần tụ lại cùng tồn tại và trở thành chủ nhân của nền văn minh rực rỡ ở phương Đông - văn minh Ai Cập
- Các thời kì lịch sử chính của Ai Cập cổ đại : Lịch sử Ai Cập cổ đại có thể chia ra làm 5 thời kì chính sau : +) Thời kì TảoVương quốc ( khoảng 3200 – 3000 năm TCN )
+) Thời kì Cổ Vương quốc ( khoảng 3000 – 2200 năm TCN )
+) Thời kì Trung Vương quốc ( khoảng 2200 – 1570 năm TCN )
+) Thời kì Tân Vương quốc ( khoảng 1570 – 1100 năm TCN )
+) Thời kì Hậu Vương quốc ( khoảng 1100 – 31 năm TCN )
Thành tựu:
* Chữ viết:
- Chữ viết của Ai Cập cổ đại lúc đầu là chữ tượng hình (hơn 3000 năm TCN) - tức là muốn viết chữ để
biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy
- Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì phải dùng phương pháp mượn ý.
- Dần dần xuất hiện hình vẽ biểu thị âm tiết và sau đó những chữ chỉ âm biết thành chữ cái Tổng số chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó có 24 chữ cái
- Chữ viết cổ của AC được viết trên gỗ, đá, đồ gốm, nhưng chất liệu phổ biến nhất là giấy papyrus
- Từ TK V – TK XIX, nhiều học giả đã tìm cách đọc chữ cổ ngày nhưng không thành công Đến năm 1822, một nhà ngôn ngữ học người Pháp đã tìm ra cách đọc thứ chữ này
* Văn học: có 1 kho tàng văn học khá phong phú
Trang 3- Truyện cổ tích: “Truyện hai anh em”, “Nói láo và nói thật”
- Thần thoại: “Thần thoại và sự hủy diệt loài người”
- Thơ ca
- Văn học quý tộc mang tính giáo huấn
* Kiến trúc điêu khắc
- Kim Tự Tháp: thành tựu nổi bật nhất của kiến trúc Ai Cập cổ đại
+) Kim tự tháp là các ngôi mộ của các Pharaông, được xây dựng ở vùng sa mạc phía tây nam Cairô +) Kim tự tháp gồm 2 loại
Kim tự tháp bậc thang: bắt đầu được xây dựng từ thời vua Gieede - vua đầu tiên của vương triều III
Đây là một ngôi tháp có bậc, cao 60m đáy là một hình chữ nhật 120m x106m Xung quanh tháp có đền thờ và mộ của các thành viên trong gia đình và những người thân cận
Kim tự tháp mặt phẳng nghiêng: Người đầu tiên xây dựng là vua Xnêphru (vương triều IV) Vương triều
này là thời kỳ Kim tự tháp được xây dựng nhiều nhất và đồ sộ nhất, với các kim tự tháp nổi tiếng như : Kêôp, Kêphren, Mikêrin
- Tượng Xphanh (Nhân sư)
+) Tượng và phù điêu của Ai Cập cổ là những thành tựu rất đáng chú ý của nghệ thuật điêu khắc +) Tượng thường được tạc trên đá, gỗ hoặc được đúc bằng đồng Bức tượng đẹp nhất là tượng nữ hoàng Nêféctiti
+) Độc đáo nhất trong nghệ thuật điêu khắc: tượng Xphanh (nhân sư) - những bức tượng mình sư tử đầu người hoặc dê Những tượng này thường được đặt trứơc cổng đền miếu
Các công trình kim tự tháp, điêu khắc, kiến trúcđều là kết quả của quá trình lao động và đỉnh cao sáng tạo của con người ở lưu vực sông Nile
tú và quy luật dâng nước của sông Nin Đây là một thứ lịch được phát minh rất sớm (vào khoảng thiện kỉ
IV TCN), tương đối chính xác và thuận tiện Tuy nhiên, lịch AC cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu ¼ ngày
do lúc bấy giờ họ chưa biết đặt ra năm nhuận
Trang 4- Toán học:
+) Do yêu cầu của việc xây dựng, sản xuất, người dân ở đây đã có khá nhiều hiểu biết về toán học từ rất sớm
+) Người Ai Cập cổ ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở
+) Họ chỉ mới biết phép cộng và phép trừ, chưa biết đến phép nhân và chia
+) Đến thời Trung Vương quốc, mầm mống của đại số học đã bắt đầu xuất hiện: ẩn số x, cấp số cộng, cấp số nhân
+) Về hình học,biết cách tính diện tích hình tam giác, diện tích hình cầu, biết được số pi là 3,16, biết tính thể tích hình tháp đáy vuông, biết vận dụng mầm mống của lượng giác học
* Y học :
- Người Ai Cập có những hiểu biết rất rõ về cấu tạo của cơ thể người do tục ướp xác xuất hiện từ rất sớm
Y học có cơ hội phát triển mạnh
- Họ đã đề cập đến nguyên nhân của bệnh tật, mối quan hệ giữa tim và mạch máu, các loại bệnh, khả năng chữa trị, phương pháp khám bệnh…
- Họ hiểu rằng nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật không phải là do ma quỷ hoặc phù thuỷ gây nên mà là
do sự không bình thường của mạch máu Người dân ở đây còn biết được tầm quan trọng của óc và tim đối với sức khoẻ con người
- Việc chữa bệnh đã được chuyên môn hoá rất tỉ mỉ Y học được chia thành nhiều chuyên môn Mỗi thầy thuốc có một chuyên môn riêng, chữa một loại bệnh riêng
Câu 2: Văn minh Lưỡng Hà
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, khoa học tự nhiên, luật pháp
TRẢ LỜI
Cơ sở hình thành
- Điều kiện tự nhiên:
+) Lưỡng Hà nằm trên lưu vực hai con sông: sông Tigrơ và Ơphơrat, phía Bắc của Lưỡng Hà ngăn cách với các bộ lạc người phương Bắc, bởi đường biên giới tự nhiên là dãy núi Acmênia, phía Tây là sa mạc Xiri, phía Đông giáp Ba Tư, phía Nam là vịnh Ba Tư
+) Lưỡng Hà là một đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu Sông Tigrơ và Ơphơrat hàng năm
trữ nước tưới mát cho dải đất mênh mông này… Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, nông
nghiệp phát triển, cư dân biết dùng bò để cày ruộng, làm đồ gốm bằng bàn xoay, làm hệ
Trang 5thống thủy nông tưới nước cho đồng ruộng Những cây trồng chính là nho, ô liu, đại mạch và nhiều loại hoa quả khác
- Kinh tế:
+) KT nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo do sự màu mỡ của đất đai từ đồng bằng do 2 con sông bồi đắp
Do điều kiện hình thành, nông nghiệp của LH kết hợp cả 2 hình thức: dẫn nước tưới tiêu ở phía B do ảnh hưởng của sa mạc khô hạn, thủy lợi ở phía N do phù sa bồi đắp
+) Do vị trí địa lý thuận lợi, kinh tế thương nghiệp là một nét đặc trưng trong sự phát triển của nền kinh
tế ở Lưỡng Hà
+) Chăn thả du mục cừu và dê sau đó là lạc đà được kết hợp đặc biệt là khu vực phía B gần sa mạc
- Dân cư: Đây còn là điệu kiện thuận lợi cho sự thiên di, cư tụ của cộng đồng dân cư Cư dân đầu tiên đến định cư ở Lưỡng Hà là người Xume (đến vào thiên niên kỉ IV) và người Xêmít (đến muộn hơn vào đầu thiên niên kỉ III) Ngoài ra còn có những bộ lạc xung quanh di cư đến Qua hàng ngàn năm lịch sử, họ
đã cùng lao động, đấu tranh, xây dựng nên một quốc gia mạnh nhất Tây Á
- Cơ sở lịch sử:
+) Ban đầu: TNK III TCN với những tài liệu chữ hình nêm về các vị vua Sơ kì triều đại
+) Kết thúc đế chế Achaemenes thôn tính vào cuối TK VI TCN hoặc tại thời điểm cuộc chinh phạt của người Hồi Giáo vào cuối TK VII TCN
Thành tựu
* Chữ viết
- Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng lập vào cuối thế kỷ IV TCN Trong thời kỳ đầu, chữ
viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình Ví dụ, muốn viết các chữ “chim, cá, lúa, nước” thì vẽ hình con
chim, con cá, bông lúa, làn sóng Dần dần, các hình vẽ được đơn giản hóa, không phải vẽ toàn bộ sự vật
mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu
- Trên cơ sở chữ tượng hình, để biểu thị các khái niệm, động tác, người ta dùng phương pháp biểu ý.
- Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình ngày càng ít đi Người ta đã dùng hình để mượn âm thanh
- Chữ tiết hình (chữ hình nêm) – do người Xume sáng tạo ra (TNK IV TCN) được viết trên các tấm đất sét
còn ướt và bằng những cái que vót nhọn
- Rất nhiều tộc người ở Tây Á thời cổ đại đã dùng loại chữ tiết hình để ghi lại tình hình kinh tế, xã hội, diễn biến chính trị thời đó
- Các học giả Grotephen người Đức (1802), nhà du lịch người Anh Rolinxon (1835) là những người đã đặt nền móng cho việc đọc chữ tiết hình Đến năm 1857, bốn độc giả đã cùng đọc được một đoạn minh văn chữ viết hình Atxiri Từ đó cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học…được dịch ra ngôn ngữ hiện đại Năm 1957, khoa Atxiri học ra đời
* Văn học: gồm 2 bộ phận chủ yếu là văn học dân gian và sử thi
Trang 6- Văn học dân gian gồm có cách ngôn, ca dao, truyện ngụ ngôn… Loại văn học này thường phản ánh cuộc sống lao động của nhân dân và cách cư xử ở đời Thường là văn học truyền miệng, vì thế ngày nay người
ta biết được không nhiều
- Sử thi ra đời từ thời Xume, đến thời Babilon chiếm một vị trí rất quan trọng Nó chịu ảnh hưởng của tôn giáo rất mạnh Chủ đề là thường ca ngợi các vị thần Thuộc về loại này, có các truyện như “Khai thiênlập địa”, “Nạn hồng thủy”…
-Ngoài hai nội dung chủ yếu trên, văn học thời kì này còn phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, tự nhiên và con người, cuộc đấu tranh vật lộn với thiên nhiên để bảo tồn sự sống, chống hạn hán,
lũ lụt để bảo vệ cuộc sống yên bình
Văn học Lưỡng Hà cổ đại đã đạt được những thành tựu đáng kể, có ảnh hưởng lớn với khu vực Tây Á
* Khoa học tự nhiên
- Toán học:
+) Phép đếm: lấy số 5 làm cơ sở của phép đếm
+) Về số học: biết cách làm 4 phép tính; biết phân số; lũy thừa; căn số bậc 2, bậc 3; giải ptrinh 3 ẩn +) Về hình học: do nhu cầu đo dạc ruộng đất -> biết tính diện tích hình chữ nhật, tam giác, hình thang, biết dùng số pi=3 để tính diện tích + chu vi hình tròn
- Thiên văn:
+) Người Babylon đã khám phá ra 5 hành tinh của mặt trời (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Hải vương tinh), biết gần đúng quỹ đạo của các hành tinh, nghiên cứu hiện tượng sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, động đất,
+) Tính lịch theo mặt trăng: một năm có 12 tháng, xen kẽ một tháng đủ, một tháng thiếu, tổng cộng là
354 ngày
+) Dùng ánh mặt trời và nước chảy để đoán giờ
- Y học:
+) Chữa nhiều bệnh về tiêu hóa, hô hấp, thần kinh, đau mắt
+) Hình thành nhiều ngành như nội khoa, ngoại khoa, giải phẫu
+) Tuy nhiên, họ còn chữa trị bằng ma thuật, bùa chú và dùng những thứ như lưỡi chuột, mắt gà, đuôi chó đặc biệt là không được chữa bệnh vào các ngày xấu và còn lưu lại ảnh thần bảo hộ y học, biểu tượng con rắn quấn quanh chiếc gậy
* Luật pháp
- Lưỡng Hà là khu vực có những bộ luật sớm nhất Từ thời vương triều III của thành bang Ua (thế kỷ XXI TCN), ở Lưỡng Hà đã ban hành bộ luật cổ nhất thế giới nhưng ngày nay chỉ còn lại một số đoạn: nói đến các vấn đề thừa kế tài sản, nuôi con nuôi, địa tô, bảo vệ vườn quả Trách nhiệm của người chăn nuôiđối với súc vật, sự trừng phạt đối với nô lệ bướng bỉnh và nô lệ chạy trốn
Trang 7XXII Vào khoảng thế XX TCN, nước Etnuna ở Đông Bắc Babilon cũng ban hành một bộ luật Bộ luật này viết trên hai tấm đất sét, được phát hiện ở Iraq, nay nguyên bản trưng bày ở viện bảo tàng Batda Nội dung
bộ luật đề cập đến các vấn đề như hệ thống đo lường giá cả, quan hệ nô lệ, việc vay nợ lãi…
- Bộ luật quan trọng nhất ở Lưỡng Hà cổ đại là luật Hammurabi Bộ luật này khắc trên một bia đá, đội khảo cổ học Pháp phát hiện ở Xuda (phía đông Lưỡng Hà), nay trưng bày ở viện bảo tàng Luvre (Pháp) Đây là bộ luật cổ sớm nhất hầu như còn nguyên vẹn mà ngày nay đã phát hiện được
- Bộ luật Hammurabi chia thành ba phần: mở đầu, các điều luật và kết luận
+) Phần mở đầu nói về sứ mạng thiêng liêng, uy quyền của Hammurabi và mục đích ban hành bộ luật:
“Vì hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, phát huy chính nghĩa ở đời, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu, làm cho trẫm giống như thần Samat sau xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp mặt đất”
+) Phần nội dung chính gồm 282 điều luật, đề cập đến các vấn đề như thủ tục kiện tụng các tội hình sự như trộm cắp, gây thương tích hoặc làm chết người, các vấn đề dân sự như hôn nhân, quyền sở hữu tài sản, thuê người làm, quyền lợi và nghĩa vụ của binh lính, chế độ ruộng đất, tô thuế, nô lệ…
+) Phần kết luận nhắc lại uy quyền, công đức của vua và tính hiệu lực của bộ luật
Câu 3: Văn minh Trung Quốc thời cổ trung đại
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, sử học, tư tưởng Nho gia, bốn phát minh lớn về kĩ thuật.
TRẢ LỜI
Cơ sở hình thành:
- Điều kiện tự nhiên:
+) Lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều.
Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp
+) Trong hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (Dương Tử) Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc
- Cư dân: Trung Quốc gồm nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ Người Hoa ngày nay tự cho
tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ) Trong gần 100 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng
Trang 8 Những điều kiện về địa hình và dân cư đó đã hình thành cho thế giới một nền văn minh mới, đó là văn minh Trung Quốc với rất nhiều thành tựu.
+) Thời kỳ cổ đại (khoảng thế kỷ XXI tr.CN – 221 tr.CN)
+) Thời kỳ trung đại ( 221 tr.CN – 1840)
Thành tựu
1) Chữ viết:
- Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi làGiáp cốt văn Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Chung đinh văn, Thạch cổ văn, Kim văn Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuôngđược gọi là chữ Tiểu triện
2) Văn học
- Kinh thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu
tập và chỉnh lí Kinh thi gồm 305 bài chia làm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng
- Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc Trong hàng ngàn tác giả nổi bật lên ba nhà
thơ lớn đó là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
- Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác giả - tác phẩm tiêu biểu như: “Tam quốc
chí diễn nghĩa” của La Quán Trung, “Thuỷ hử” của Thi Nại Am, “Tây du kí” của Ngô Thừa Ân, “Nho lâm ngoại sử” của Ngô Kính Tử, “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần trong đó “Hồng lâu mộng” được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất
Văn học TQ thời kì này phát triển rực rỡ và vô cùng phong phú với nhiều hình thức, thể loại
3) Sử học
TQ là một nước rất coi trọng lịch sử, bởi vậy sử học ở TQ phát triển rất sớm với một kho tàng sử sách phong phú:
- Thời Xuân-Thu: nhiều nước đã đặt các quan chép sử, có ý thức về biên soạn sử Trên cơ sở quyển sử
nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân Thu
Trang 9- Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại tác Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc
gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế
- Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của
Phạm Diệp
- Thời kỳ trung đại sử học trở thành một môn khoa học độc lập với các tác phẩm kiệt xuất: sử ký tư mã
thiên
- Bắt đầu từ thời Đường: nhà nước có riêng 1 cơ quan biên soạn lịch gọi là sử quan
- Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung
Quốc
4) Tư tưởng Nho gia
- Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người
- Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo
5) Bốn phát minh lớn về kĩ thuật
a) Kĩ thuật làm giấy:
– Thời Tây Hán, người Trung Quốc vẫn dung thẻ tre, lụa để ghi chép Đến khoảng thế kỷ II, mặc dù đã biết dung phương pháp xơ gai để làm giấy, tuy nhiên giấy thời kỳ này còn xấu, mặt không phẳng , khó viết nên chỉ dung để gói
– Đến thời Đông Hán, năm 105 một người tên Thái Luân đã dung vỏ cây, lưới cũ, rẻ rách…làm nguyên liệu, đồng thời đã cải tiến kỹ thuật, nên đã làm được loại giấy có chất lượng tốt Từ đó giấy được dung
để viết 1 cách phổ biến thay thế cho các vật liệu trước đó
– Từ thế kỷ III nghề làm giấy được truyền sang Việt Nam và sau đó được tryền đi hầu khắp các nước trên thế giới
– Từ khi ra đời kĩ thuật in cũng đã được truyền bá rộng rãi ra các nước khác trê thế giới Cho đến năm
1448, Gutenbe người Đức đã dùng chữ rời bằng kim loại, nó đã làm cơ sở cho việc in chữ rời bằng kim loại ngày nay
Trang 10c) Thuốc súng:
Thuốc súng là phát minh ngẫu nhiên của những người luyện đan, cho đến thế kỷ X thuốc súng bắt đầu được dùng làm vũ khí Sau đó qua quá trình sử dụng nó đã được cải tiến rất nhiều với nhiều tên gọi khácnhau Và trong quá trình tấn công Trung Quốc người Mông cổ đã học được cách làm thuốc súng và từ đólan truyền sang Tây Á rồi đến châu Âu
d) Kim chỉ nam:
Từ thế kỷ III TCN người Trung Quốc đã phát minh ra “Tư nam” đó là một dụng cụ chỉ hướng Sau đó các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam châm nhân tạo, đầu tiên la bàn được dùng để xem hướng đất rồi mới được sử dụng trong việc đi biển Nửa sau thế kỷ XII la bàn được truyền sang Arập ròi sang châu Âu
Ý nghĩa:
- Đối với trung quốc bốn phát minh trên ra đời không chỉ trực tiếp giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con người Trung Quốc, mà đó còn là những đóng góp không nhỏ của một nền văn minh cho toàn nhân loại
- Đối với thế giới sự ra đời của kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in, thuốc súng và kim chỉ nam đã nâng cao được
vị thế của loài người, đưa nhân loại tiến lên một bước trong quá trình chinh phục tự nhiên và tranh đấu với tự nhiên với chính con người để sinh tồn và phát triển
Câu 4: Văn minh Ấn Độ cổ trung đại
- Điều kiện tự nhiên
- Thành tựu: chữ viết, văn học, Phật giáo, khoa học tự nhiên
TRẢ LỜI
Điều kiện tự nhiên
- Ấn Độ là 1 “ tiểu lục địa” ở Nam Á không chỉ vì đông dân mà còn vì sự đa dạng về địa lý, chủng tộc, ngôn
ngữ, khoa học và văn hóa
- Đa dạng về địa lý: Ấn Độ thời cổ rộng hơn ngày nay và chia làm 3 vùng rõ rệt
+) Vùng núi phía B
+) Vùng đồng bằng Ấn- Hằng- khu vực hình thành văn minh sớm nhất Ấn Độ
+) Vùng cao nguyên Decan phía N
* Dãy núi Himalaya
- Tên gọi có nghĩa là nơi ngự trị của tuyết
- Đỉnh Everest đỉnh núi cao nhất TG 8848m, nằm ở biên giới giữa Nepal và Tây Tạng- TQ
- Tên gọi được đặt theo tên nhà địa lý học người Anh George Everest
* Sông Ấn
Trang 11- Lưu vực S.H là khu vực đông dân nhất, sản xuất nông nghiệp lớn nhất và rộng nhất ở Ấn Độ
- S.Hằng là 1 dòng sông linh thiêng Ganga là con gái của thần núi Himalaya
- Lễ hội S.Hằng là lễ hội tôn giáo lớn nhất của Ấn Độ và khi đến lễ hội, các tín đồ hành hương về thành phố Varanasi- thành đô văn hóa của Ấn Độ
* Cao nguyên Decan
- Ngăn cách với đồng bằng Ấn- Hằng bởi dãy núi Vindhya và Satpuras, ngăn cách Ấn Độ thành 2 miềm Bắc, Nam với 2 kiểu khí hậu khác nhau: Miền Bắc lạnh, Miền Nam nắng nóng và chỉ có mưa về mùa hè
Thành tựu văn minh
a) Chữ viết
- Chữ viết đầu tiên ở Ấn Độ được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa Tại các di chỉ thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn đã phát hiện được hơn 3.000 con dấu khắc chữ đồ họa Suốt nửa thế kỷ từ khi phát hiện lần đầu tiên vào năm 1921, nhiều tác giả của nhiều nước đã nghiên cứu cách đọc loại chữ này nhưng chưa thành công
- Mãi đến cách đây vài chục năm, một nhà khảo cổ học Ấn Độ là Tiến sĩ S.R Rao đã khám phá được sự bí
ẩn của loại chữ này: đây là một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần Trong số hơn 3.000 con dấu
ấy có 22 dấu cơ bản Loại chữ này chủ yếu viết từ phải sang trái Những con dấu đã phát hiện được là những con dấu dùng để đóng trên các kiện hàng để xác nhận hàng hóa và chỉ rõ xuất xứ của những hàng hóa đó
- Đến khoảng thế kỷ V TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi là chữ Kharosthi Đây là một loại chữphỏng theo chữ viết của vùng Lưỡng Hà Sau đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ được sử dụng rộngrãi Các văn bia của Axôca đều viết bằng loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, người Ấn Độ lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuận tiện hơn Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xanxcrit Đến nay ở Ấn
Độ và Nêpan vẫn dùng loại chữ này
Trang 12- Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Arya tràn vào
Ấn Độ, tình hình tan rã của chế độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt.Trong đó, Rích Vêđa với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất
- Còn Atácva Vêđa chủ yếu bao gồm các bài chú nhưng nội dung mà tập Vêđa này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu nữa
- Kế tiếp theo 4 tập Vêđa và có liên quan với Vêđa còn có các tác phẩm Bramana (Phạn thư), Araniaca (sách rừng rậm) Ypanisát (sách nghĩa sâu) v.v Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lý trong kinh Vêđa chứ về văn học thì không có giá trị gì đáng kể
* Sử thi
- Ấn Độ có hai bộ sử thi rất đồ sộ là Mahabharata và Ramayana Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỷ đầu công nguyên thì được dịch
ra tiếng Xanxcrit
- Mahabharata có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liệu, gồm 220.000 câu Đây là bộ sử thi dài nhất
thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của Hy Lạp cổ đại gộp lại còn dài hơn 8 lần Tương truyền rằng người soạn lại bộ sử thi này là Viasa Chủ đề của tác phẩm này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng
họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ Bởi vậy tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là “Cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata”
- Ramayana có VII chương, trong đó chương I và chương VII về sau mới thêm vào, gồm 48.000 câu
Tương truyền rằng tác giả là Vanmiki Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita
Hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana là những công trình sáng tác tập thể của nhân dân Ấn Độ trong nhiều thế kỷ và là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay Cho đến nay, các nhà văn nghệ sĩ Ấn Độ thuộc các ngành thơ kịch, họa, điêu khắc vẫn tìm được ở trong hai tác phẩm vĩ đại
ấy nhiều đề tài và cảm hứng để sáng tác
- Ngoài văn học tiếng Xanxcrít ra, còn có những tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết cần phải kể đến những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo
- Sơcuntla và Caliđaxa là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ Suốt 15 thế kỷ nay, Sơcuntla đã trở thành nguồn cảm hứng, nguồn đề tài của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau của Ấn Độ như kịch, điện ảnh, họa, nhạc, vũ v.v Không những ở Ấn Độ mà đối với thế giới, tác phẩm Sơcuntla cũng có một tiếng vang rất lớn
Trang 13* Các tác phẩm văn học viết bằng các phương ngữ
- Từ cuối thế kỷ X về sau, ngoài văn học tiếng Xanxcrít đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết bằng các loại phương ngữ khác nhau
- Vào thế kỷ XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chương trong bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng được phổ cập rộng rãi
- Đến thế kỷ XVI, XVII, dưới triều Môgôn, có một số nhà thơ đã sáng tác bằng tiếng Ba Tư Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác Thiên trường
ca Ramayana do Tunxi Đát viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng được nhân dân rất ưa thích
- Tập thơ Xuốc của nhà thơ mù Xuốc Đát viết bằng một loại phương ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và tình yêu cũng là một tác phẩm có giá trị
- Những bài ca du dương, gợi cảm ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ kiêm nhà thơ Tanxen cũng rất nổi tiếng Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có nhiều nhà thơ khác Đặc trưng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đình, đồng thời còn sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh được tâm tư nguyện vọng của quần chúng nên được nhân dân rất thích thú
+) Đạo đế: Chân lý về con đường diệt khổ Nghĩa là phương pháp thực hiện việc diệt khổ.Con đường đó gọi “bát chính đạo”
- Về giới luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới): không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu