1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG LỊCH sử các học THUYẾT KINH tế

6 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương lịch sử các học thuyết kinh tế
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Lịch sử và lý luận kinh tế
Thể loại Tổng luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 23,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ PHẦN THỨ HAI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ BIẾN ĐỔI CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ CỔ ĐIỂN Câu 1 Lý luận về tiền tệ của W Petty So sánh với lý thuyết về tiền tệ c.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ PHẦN THỨ HAI: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

VÀ BIẾN ĐỔI CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ CỔ ĐIỂN

Câu 1: Lý luận về tiền tệ của W.Petty So sánh với lý thuyết về tiền tệ của chủ nghĩa trọng thương

1 Lý luân về tiền tệ của W.Petty:

- Thứ nhất, tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, W.Petty là người đầu tiên trong lịch

sử tư tưởng kinh tế coi giá trị của tiền giống như các hàng hoá khác, không phải do ai quyết định giá trị của nó, giá trị của tiền là thời gian lao động tích luỹ lại trong tiền, cũng do thời gian lao động sản xuất ra tiền quyết định

- Thứ hai, chế độ hai bản vị vàng và bạc mâu thuẫn với thước đo thống nhất của giá

trị

- Thứ ba, giá trị của tiền lẻ là do giá trị của tiền đầy đủ quy định.

- Thứ tư, W.Petty là người đầu tiên phát hiện ra tính khách quan của số lượng tiền

cần trong lưu thông, trên cơ sở tổng số giá cả hàng hoá chia cho tốc độ chu chuyển của tiền, thời hạn thanh toán ảnh hưởng tới lượng tiền cần thiết trong lưu thông

Theo W.Petty, sự thừa thãi tiền có hại cho nền kinh tế Số lượng tiền cần cho lưu thông tuân theo tính khách quan, người ta không thể muốn nhiều hay ít được, những

tư tưởng này tự phát chống lại những nguyên lý của chủ nghĩa trọng thương là phái quan niệm càng nhiều tiền càng tốt Những nét co bản trong lý luận tiền tệ của Petty

đã được nhiều nhà khoa học kinh tế kế thừa cho tới nay

2 So sánh với lý thuyết tiền tệ của chủ nghĩa trọng thương:

Những lý luận của W.Petty đã chống lại quan điểm của chủ nghĩa trọng thương – phái quan niệm càng nhiều tiền càng tốt

Phái trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ (vàng bạc) là tiêu chuẩn

cơ bản của của cải, đồng nhất với sự giàu có Theo họ, “một xã hội giàu có là có được nhiều tiền”, “Sự giàu có tích lũy được dưới dạng hình thái tiền tệ là sự giàu có muôn đời vĩnh viễn” Họ coi quốc gia càng nhiều tiền thì càng giàu, hàng hóa chỉ là phương tiện làm tăng khối lượng tiền tệ

Điều này khác với quan điểm của W.Petty khi ông coi tiền tệ chỉ là một loại hàng hóa đặc biệt Theo Petty, số lượng tiền cần cho lưu thông tuân theo tính khách quan, người

ta không thể muốn nhiều hay ít được Từ đó, ông phê phán những người trọng thương

về tích trữ tiền không hạn độ Ông cho rằng không phải lúc nào tiền tệ cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có, tiền tệ chỉ là công cụ của lưu thông hàng hoá, vì thế không cần phải tăng số lượng tiền tệ quá mức cần thiết W Petty là người đầu tiên nghiên cứu số lượng tiền tệ cấn thiết trong lưu thông trên cơ sở thiết lập mối quan hệ giữa khối lượng hàng hoá trong lưu thông và tốc độ chu chuyển của tiền tệ

Trang 2

Câu 2: Quan niệm về chính sách kinh tế và thuế khoá của D.Ricardo Đánh giá ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn

1 Quan niệm về chính sách kinh tế và thuế khoá của David Ricardo:

- Dựa trên lý thuyết giá trị lao động, nhân danh quy luật, lợi ích của sự phát triển sản xuất mà đại biểu là lợi ích của giai cấp tư sản công nghiệp

- Sức mạnh kinh tế của nước Anh không phải ở nông nghiệp mà ở nền công nghiệp hùng mạnh Cần xóa bỏ rào cản cản trở sự phát triển công nghiệp, không nên cày cấy

ở đất đai kém màu mỡ vì sẽ làm cho giá nông phẩm tăng lên, chỉ có lợi cho giai cấp chủ đất và giảm tích lũy TB Cần hạ giá nông phẩm mới hạ thấp được tiền công và giá thành sản phẩm, lợi nhuận tăng sẽ làm tăng tích lũy Nếu giá nông phẩm sản xuất trong nước cao hơn giá nông phẩm nhập khẩu thì nên nhập khẩu Ông đòi hỏi tháo bỏ chính sách bảo hộ nông nghiệp

- Thuế là 1 phần trong sản phẩm đất đai và lao động của 1 quốc gia Thuế sẽ lấy vào

tư bản hoặc thu nhập Thuế đánh vào TB làm giảm quy mô sx, sẽ làm cho sản lượng của đất nước suy giảm Thuế đánh vào thu nhập làm giảm tích lũy Không có loại thuế nào không làm giảm khả năng tích lũy Nếu không có thuế, TB tăng lên rất nhiều Thuế đánh vào thừa kế giống như thuế đánh vào TB Bổ sung các loại thuế đánh vào địa tô, vào lãi tiền cho vay vì những thứ thuế đó hoàn toàn rơi vào địa chủ, kông thể chuyên cho các giai cấp khác Đánh thuế vào ruộng đất giống như đánh thuế vào địa tô

2 Đánh giá ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn:

- Ý nghĩa về mặt lý luận:

+ Ricardo là nhà kinh tế đầu tiên thảo luận về ý tưởng cho thuế

+ Làm cho hệ thống quy luật và phạm trù kinh tế được thống nhất trên một cơ sở + Làm cho KTCT trở thành một khối thống nhất và kết thúc KTCT cổ điển Anh

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Sự phân tích về thuế của D.Ricardo đã vạch rõ sự đối lập lợi ích giữa gc tư sản và gc địa chủ Đồng thời, ông cũng làm rõ mâu thuẫn của gc địa chủ với sự pt của sx, của tiến bộ xh

Câu 3: Quan niệm về nguồn gốc và bản chất của tiền tệ của Adam Smith.

So sánh với quan niệm của Petty.

1 Quan niệm về nguồn gốc và bản chất của tiền tệ của A.Smith:

- Nguồn gốc của tiền tệ được sinh ra từ trao đổi Ông cho rằng: trao đổi thuộc bản chất con người và sinh ra toàn bộ các hoạt động kinh tế

- Tiền tệ là 1 bánh xe lưu thông khổng lồ và là 1 công cụ thương mại sắc bén Tiền giấy không làm tăng số lượng tiền đang lưu hành Tiền giấy chỉ thuần túy đóng vai trò

là phương tiện lưu thông, giá trị của nó phụ thuộc vào số lượng vàng hay bạc mà nó thay thế Thực chất là hàng trao đổi lấy hàng, tiền (kể cả vàng và bạc) chỉ thoáng qua trg trao đổi, là chất dầu mỡ bôi trơn cỗ xe kte

- A.Smith cho rằng tiền có 3 chức năng:

Trang 3

+ Một là, thước đo giá trị của hàng hoá Tiền cx là hh và tiền cx do lđ tạo ra, giá trị của tiền cx giống như các loại hh khác, nhưng tiền đóng vai trò giá trị danh nghĩa của

hh hay thước đo bên ngoài của gía trị hàng hoá

+ Hai là, tiền đóng vai trò phương tiện lưu thông Lượng tiền cần thiết trg lưu thông

có qhệ mật thất với tổng giá cả

+ Ba là, tiền đóng vai trò phương tiện cất trữ và làm 1 số đồ dùng của các gđ hoàng thân Vì tiền cx là 1 bộ phận của cải

+ Ngoài ra, tiền còn có chức năng vốn hay chức năng là tư bản

2 So sánh với quan niệm của Petty:

- W.Petty:

+ W Petty là người đầu tiên nghiên cứu số lượng tiền tệ cấn thiết trong lưu thông trên cơ sở thiết lập mối quan hệ giữa khối lượng hàng hoá trong lưu thông và tốc độ chu chuyển của tiền tệ Chẳng hạn ông xác định (tính toán tùy tiện) số lượng tiền cần thiết cho lưu thông như sau: Số lượng tiền để lưu thông chỉ cần 1/10 số tiền chi phí trong một năm là hoàn toàn đủ cho nước Anh Trong cuốn bàn về tiền tệ, ông tính toán nước Anh cần 1 số lượng tiền tệ để lưu thông đủ để trả ½ địa tô, ¼ tiền thuê nhà, toàn

bộ chi tiêu hàng tuần của dân số và khoảng 25% giá trị xuất khẩu

+ Ông còn nghiên cứu ảnh hưởng của thời hạn thanh toán vs số lượng tiền cần thiết cho lưu thông Ông cho rằng thời gian thanh toán càng dài thì số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông càng lớn

+ Ông chống lại tư tưởng trọng thương về tích lũy tiền không hạn độ, và cho rằng không cần thiết tăng số lượng tiền tệ đến mức vô tận

- A.Smith:

+ A.Smith cho rằng không phải số lượng tiền tệ quyết định giá cả hàng hóa mà chính giá cả hàng hóa quy định số lượng tiền tệ

+ Số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông đc xác định bởi giá trị của khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường Giá trị hàng hóa mua vào bán ra trên thị trường hàng năm đòi hỏi 1 lượng tiền tệ nhất định lưu thông và phân hàng hóa đó đến tay ng tiêu dùng và không dùng quá số lượng đó được Con kênh lưu thông chỉ thu hút một cách tất yếu số lượng thích đáng cho đầy đủ và không thể chứa đựng hơn nữa

Câu 4: Quy luật nhân khẩu của Malthus Đánh giá ý nghĩa

1 Quy luật nhân khẩu của Malthus:

- Con người phải tuân theo quy luật của tự nhiên Ông rút ra: nếu không có trở ngại nào thì cứ 25 năm dân số tăng lên gấp đôi, dân số được tăng theo cấp số nhân Sự gia tăng tư liệu sinh hoạt vấp phải những giới hạn, của cải không thể tăng nhanh hơn quá cấp số cộng Tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng tư liệu sinh hoạt dẫn đến số dân vượt quá số tư liệu sinh hoạt và làm cho một số người thừa

- Sự khốn cùng, nghèo khổ của những tầng lớp nghèo trong xã hội là do sự keo kiệt của tự nhiên sinh ra, do sự sinh sôi nảy nở quá nhanh của con người Nhân dân buộc tội bản thân mình là chủ yếu về sự đau khổ của mình

Trang 4

- Tự nhiên sinh ra những biện pháp để điều tiết việc dân số tăng nhanh quá mức Đó

là thói hư tật xấu, đói rét, bần cùng, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,

- Mục đích: chống lại “các học thuyết độc ác về sự cần thiết phải phá vỡ toàn bộ chế

độ xã hội” hay chống lại khuynh hướng xã hội chủ nghĩa

2 Đánh giá ý nghĩa:

- Mang quy luật của loài vật áp đặt vào xã hội loài người, phủ nhận vai trò của tiến

bộ kĩ thuật

- Rung lên hồi chuông báo động về vấn đề gia tăng dân số quá mức

- Lấy số liệu thống kê của nước Mỹ ở thế kỷ XVI, XVII Ông đã bỏ qua sự kiện tăng dân số cơ học do di dân Vì vậy, quy luật nhân khẩu của ông là một quy luật thống kê, chỉ có ý nghĩa trong những điều kiện nhất định

- Chỉ dựa vào số liệu thống kê để rút ra quy luật thống kê, chỉ tin vào quy luật thống

kê Malthus đã mở ra một hướng mới trong khoa học kinh tế khuynh hướng thực chứng trong kinh tế học

Gây ra sự tranh cãi và đánh gía trái ngược: “Nhà bác học vĩ đại”, “Cuốn sách phỉ báng loài người, chống lại tự nhiên và nhân loại”,

PHẦN 3: HỌC THUYẾT KINH TẾ KARL MARX VÀ MÁCXÍT Câu 1: Lý luận về tiền tệ của Karl Marx (điểm mới so với các nhà tư tưởng trước)

- Karl Marx rút ra bản chất của tiền tệ: tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung, biểu hiện giá trị trao đổi của các hàng hóa khác Karl Marx là người đầu tiên giải thích tiền tệ được ra đời là do sự phát triển của các hình thái giá trị, biểu hiện sự phát triển của sản xuất hàng hóa

- Tiền tệ có chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới

- Ông là người đầu tiên giải thích tiền ra đời từ hàng hóa và hệ thống các chức năng của tiền khá đầy đủ Đây là 1 cống hiến của Karl Marx Việc hiểu rõ bản chất và nguồn gốc của tiền tệ là bước tiến trong khoa học kinh tế, nó là điều kiện giúp cho con người có thể điều khiển nền kinh tế thông qua quan hệ tiền tệ

- Các nhà tư tưởng kinh tế trước Karl Marx đã có những nhận thức nhất định về tiền Tuy nhiên, không có nhà tư tưởng kinh tế nào trước Karl Marx nhìn thấy được sự ra đời của tiền tệ là do sự phát triển của các hình thái của giá trị gắn liền với sự phát triển của nền sxhh

Câu 2: Trình bày khái quát về 2 phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư theo quan điểm của Marx

Ông nghiên cứu 2 phương pháp:

- PP sx ra GTTD tuyệt đối: sx ra GTTD bằng cách kéo dài ngày lao động

- PP sx ra GTTD tương đối: sx ra GTTD bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong một ngày lao động cố định, tức là thay đổi tỷ lệ thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư

Trang 5

Câu 3: Lý luận giá trị lao động của Karl Marx (điểm mới) So sánh với những người đã đi trước (W.Petty, A.Smith, D.Ricardo)

-Về mặt hình thức, Mác đã kế thừa và tiếp tục những tư tưởng trong lý thuyết giá trị lao động của trường phái cổ điển

-Thực chất Mác đã có những đóng góp cách mạng cho lý thuyết giá trị lao động, làm cho lý thuyết giá trị có những bước tiến lớn lao,trở thành lý thuyết giá trị Các Mác Theo ông, việc nghiên cứu hàng hóa mà thực chất là giá trị hàng hóa chính là điểm xuất phát và là tiền đề cho việc nghiên cứu phương thức sx TBCN

-Trong nghiên cứu về chất của giá trị, Các Mác đã phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, đây không phải là 2 loại lao động mà là 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa: lao động cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụ thể tạo

ra giá trị sử dụng, còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị trao đổi của hàng hóa Đây là một phát minh mới của Các Mác, là phát minh làm cơ sở cho học thuyết giá trị của Các Mác Phát minh này khác hẳn với học thuyết giá trị của những người đi trước ở chỗ những người đi trước (thậm chí khoa kinh tế chính trị xoay xung quanh vấn đề lao động nào tạo ra giá trị hàng hóa?)đều bế tắc trong việc giải thích lao động nào tạo ra giá trị trao đổi

A.S cũng quan niệm rằng lao động nào tạo ra giá trị nhưng lao động nào tạo ra giá trị? Ông có 2 cách định nghĩa khác nhau, có 2 loại lao động tạo ra giá trị hàng hóa : lao động kết tinh trong hàng hóa và lao động có thể chi phối, mua bán được Ri thừa nhận một định nghĩa giá trị ở A.S, đó là thời gian lao động kết tinh trong hàng hóa quy định giá trị của hàng hóa và gạt bỏ định nghĩa còn lại, nhưng ông chưa giải quyết được vấn đề mà A.S đặt ra, hay chưa nhận thấy được tính hợp lý nhất định của định nghĩa 2

Các Mác, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng kinh tế thế giới đã phát hiện ra tính 2 mặt của lao động sx hàng hóa, lao động sx ra hàng hóa vừa tạo ra giá trị sử dụng lại vừa tạo ra giá trị trao dổi Đây là bước ngoặt của ông so với những người đi trước, bởi

vì ông đã giải quyết được vấn đề mà khoa kinh tế chính trị trước ông đã bế tắc

-Mác khẳng định rằng chỉ có thời gian lao động kết tinh, kết đọng trong hàng hóa là giá trị của hàng hóa và chi phí lao động này là chi phí lao động trừu tượng, là sự hao phí lao động thần kinh và sức lực của con người, là lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa, đó cũng là lao động xã hội, tạo ra

-Về mặt lượng của giá trị: Ri đã quan niệm rằng,giá trị xã hội của hàng hóa là giá trị

cá biệt của hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện sản xuất xấu nhất(do ông nghiên cứu địa tô trong khi nghiên cứu giá trị) Mác cho rằng, thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động trung bình,trong điều kiện trung bình của xã hội với cường

độ trung bình Mác đã hệ thống hóa và phân định lao động giản đơn, và lao động phức tạp

-Ông cũng là người đầu tiên phân tích sự phát triển của các hình thái của giá trị của hàng hóa Các nhà kinh tế học trước Mác chỉ biết đến một hình thái duy nhất của giá

Trang 6

trị là hình thái tiền.Vì vậy, họ đều hiểu tiền là hàng hóa.Nhưng hàng hóa chuyển hóa thành tiền ntn?Tại sao?Các nhà kinh tế học cổ điển đã bế tắc trong việc giải thích vấn

đề này Theo Mác,hình thái giá trị giản đơn, ngẫu nhiên là hình thái cơ bản,từ đó nảy sinh ra các hình thái giá trị khác, tiếp đến là hình thái mở rộng, hình thái chung và hình thái tiền Phân tích sự phát triển của các hình thái giá trị, thực chất là phân tích nguồn gốc, và bản chất của tiền tệ

-Mác là người đầu tiên đã nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất của tiền tệ Trước đây, chỉ tồn tại một thế giới hàng hóa Do sự phát triển đến mức nào đó thế giới này tách thành hai thế giới riêng- thế giới tiền tệ và thế giới hàng hóa Quy luật về hàng hóa cũng quy định sự vận động của tiền tệ, tiền tệ không chỉ bị quy định bởi những quy luật về hàng hóa mà nó còn bị quy định bởi những quy luật riêng của tiền tệ Việc vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào kinh tế đã giúp Mác phân tích những phạm trù kinh tế có hai mặt đối lập, thí dụ như, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, lao động xã hội và lao động tư nhân, lao động cụ thể và lao động trừu tượng Mác là người đầu tiên phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của lao động sx hàng hóa Đó là mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội, đó cũng là những bước tiến trong lý thuyết về giá trị của Mác so với trường phái cổ điển, hay so với những người đi trước

Câu 4: Quan điểm về TB bất biến và TB khả biến

Karl Marx đã phân chia TB thành TB bất biến và TB khả biến để có thể phân tích rõ vai trò của từng loại TB đối với quá trình làm tăng giá trị

- TB bất biến là bộ phận TB biến thành TLSX (máy móc, nguyên vật liệu, tư liệu lao động), không thay đổi đại lượng giá trị của nó trong qtsx

- TB khả biến là bộ phận TB biến thành sức lao động , thay đổi giá trị của nó trong qtsx Nó tái sx ra vật ngang giá với bản thân nó, ngoài ra còn tạo ra GTTD

=> Như vậy:

- Xét trên phương diện quá trình lao động, các bộ phận TB đó được phân biệt thành TLSX và sức lao động

- Xét trên phương diện làm tăng quá giá trị các bộ phận TB đó được phân biệt thành

TB bất biến và TB khả biến (liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra GTTD)

Ngày đăng: 26/12/2022, 18:24

w