1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Benh ly mieng ve tuyen mang tai

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 33,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Phân biệt VTNB mang tai do vi khuẩn và virus? Viêm tuyến cấp tính do tạp trùng Quai bị Nguyên nhân thường do tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu Virus Rubulavirus thuộc họ Paramyxoviridae Dịch tễ Thường gặp ở người lớn tuổi (50 60 tuổi) Xuất hiện quanh năm Không có miễn dịch dặc hiệu Không lây nhiễm Trẻ em, thiếu niên ( trẻ trai nhiều hơn trẻ gái) Xảy ra mùa Xuân và mùa hè Có miễn dịch dặc hiệu Có tính chất lây nhiễm qua đường hô hấp Yếu tố nguy cơ + Yếu tố làm giảm tiết nước bọt ở các lệch cắt dạ.

Trang 1

1 Phân biệt VTNB mang tai do vi khuẩn và virus?

Viêm tuyến cấp tính do tạp trùng: Quai bị

Nguyên nhân thường do tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu Virus: Rubulavirus thuộc họ Paramyxoviridae

Dịch tễ Thường gặp ở người lớn tuổi (50-60 tuổi)

Xuất hiện quanh năm Không có miễn dịch dặc hiệu Không lây nhiễm

Trẻ em, thiếu niên ( trẻ trai nhiều hơn trẻ gái) Xảy ra mùa Xuân và mùa hè

Có miễn dịch dặc hiệu

Có tính chất lây nhiễm qua đường hô hấp

Yếu tố nguy

+ Yếu tố làm giảm tiết nước bọt ở các lệch cắt dạ dày tá tràng, đại tràng, nhiễm trùng nặng

như: cúm, thương hàn, lỵ, tả, ure máu cao

+ Thuốc làm giảm tiết nước bọt, tắt ống tiết do sỏi, u chèn ép.

+ Thay đổi tính chất nước bọt: làm thay đổi môi trường miệng

+ Do thăm khám, làm thủ thuật

+Tiếp xúc với người bị bệnh quai bị

Cơ chế bệnh

sinh + Tổn thương xâm nhập vào tuyến+ VK theo ống Stenon đi vào thường gặp trong

viêm ngược dòng hoặc các đường khác: nhiễm trùng máu, viêm nhiễm vùng lân cận

Truyền bệnh trực tiếp qua trung gian nước bọt, nhất là thời kì đầu của bệnh

Vị trí tổn

thuơng Khu trú ở tuyến nước bọt mang tai, thường mộtbên

Thường ở tuyến nước bọt 2 bên

Lâm sàng + Thời kỳ đầu: đột nhiên sốt, sưng tuyến to 2

bên, ăn uống khó

+ Toàn phát: sốt cao dữ dội, không ăn uống được

+ Thời kỳ đầu (ủ bệnh): ít có biểu hiện LS, kéo dài 2-3 tuần

+ Thời kỳ xâm nhập tiến triển từ 12 đến 36 giờ, với nhiệt độ tăng dần, khô mồm, đau miệng, đau tai, với ba điểm đau: vùng khớp TDH, mõm chủm và góc hàm

+ Thời kỳ phát bệnh: có sôt, rét run, đau vùng trước ống tai ngoài 1 bên, 1-3 ngày sau lan sang cả 2 bên, viêm nề với da trắng,bóng làm biến dạng mặt Mới đầu biến dạng chỉ che lấp sau rãnh góc hàm, đẩy dái tai ra ngoài, sau có thể lan tới vùng dưới hàm và cả mi mắt

Khám +Ngoài mặt: sưng vùng mang tai lan ra sau góc

hàm, ra gò má làm biến dạng dáy tai, bề ngoài

da căng đỏ, ấn vào lõm đau, đè ép gây nghe

kém, miệng há khó

+Trong miệng: lỗ ống Stenon cương nề, đỏ, ấn

có mũ lẫn nước bọt

+ Ngoài mặt : tuyến mang tai 2 bên sưng to

làm biến dạng miệng, khối gồ sờ chắc,không

đỏ, ấn vào đau

+ Trong miệng: Niêm mạc miệng khô, đỏ, lỗ

Stenon gồ, nề,đỏ và nước bọt trong( không

có mủ)

Trang 2

Chẩn đoán + Dựa vào LS chủ yếu

+ Sưng, Golden (+) + Xét nghiệm BCĐNTT tăng + Cấy mủ

+ Yếu tố dịch tễ Sưng tuyến mang tai hai bên, không mưng mủ

+ Xét nghiệm bạch cầu lympho, amylase trong máu tăng ( trung bình amylase máu là 50-100 đơn vị Somogyi)

Điều trị + GĐ đầu: điều trị kịp thời kết quả tốt với kháng

sinh liều cao, kháng viêm, VSRM, nâng cao thể trạng Kích thích tiết nước bọt bằng thuốc lợi tiết, uống nhiều nước, xoa ép tuyến, cho nhai kẹo gôm

+ GĐ 2: chích thoát mủ bằng chọc dò, xẻ dẫn lưu.

+ Điều trị thông thường: VSRM; cách ly và

nghỉ ngơi; thuốc an thần, giảm đau; đắp nóng

và dịu lên mang tai

+ KS, kích thích tố khi viêm tinh hoàn, buồng trứng

Tiên lượng dựa vào thể trạng BN

+ Khỏe: tốt – dễ khỏi + Suy nhược – nặng: cần khám xét cụ thể Theo dõi sát, điều trị kịp thời

kéo dài 7-10 ngày và giảm dần, hết đau, không sốt, sức khỏe trở lại bình thường Biến chứng xa: hay gặp nhất là viêm tinh hoàn, sau đó đến viêm buồng trứng, viêm tuy, viêm tuyến giáp, viêm màng não

2 Khái niệm, cơ chế của loạn năng KTDH?

a Định nghĩa:

Rối loạn thái dương hàm là một thuật ngữ chung để chỉ những rối loạn liên quan đến

các cơ nhai, đến khớp thái dương hàm hoặc cả hai

Theo Hiệp Hội Nha khoa Hoa kỳ (ADA), RLTDH bao gồm nhiều thể bệnh trên lâm

sàng liên quan đến hệ thống các cơ nhai và khớp thái dương hàm RLTDH là một

phân nhóm của rối loạn hệ thống cơ xương khớp đối với cơ thể.

Những nghiên cứu gần đây xem RLTDH là một tập hợp các rối loạn của hệ thống

nhai với nhiều đặc điểm chung Triệu chứng chung phổ bếin nhất là đau, thường

đau ở cơ nhai, ở vùng trước tai hay ở khớp thái dương hàm, hoặc cả hai Đau thường tăng lên khi ăn nhai hoặc khi vận động hàm Bệnh nhân có thể bị đau đầu, đau tai, đau

hàm và đau mặt Các triệu chứng loạn năng khác có thể đi kèm như giới hạn vận

động hàm, tiếng kêu ở khớp thái dương hàm khi há ngậm miệng

b Cơ chế bệnh sinh:

Cơ chế bệnh sinh trong rối loạn khớp thái dương hàm là cơ chế đa yếu tố, bao gồm:

Bất thường cấu trúc và hình thái khớp: lồi cầu nhỏ, lồi cầu hai thuỳ, trục dọc lồi cầu

hướng ra sau, hõm khớp sâu, lỏng khớp ảnh hưởng đến sự phân tán lực lên khớp gây loạn năng,

Trang 3

Tổn thương khớp do phản ứng miễn dịch: tổn thương khớp có thể viêm khớp phản

ứng do vi khuẩn hoặc phản ứng miễn dịch với phức hợp kháng nguyên kháng thể ảnh hưởng đa khớp

Rối loạn nội tiết tố : tỉ lệ RLKTDH ở nữ cao hơn nam, với tỉ lệ 2:1 đến 4:1 tùy theo

nghiên cứu Nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm giải thích sự khác biệt này và cho rằng nội tiết tố có thể là yếu tố bệnh sinh Hormon Estrogen được cho là nguyền nhân (tăng tình trạng giãn dây chằng khớp và rối loạn chuyển hoá mô sụn sợi, giảm ngưỡng đau)

Chấn thương khớp trực tiếp hay gián tiếp: như té ngã đập cằm xuống đất, chấn

thương giật cổ trong tai nạn ô tô Gây tổn thương mô sau đĩa hoặc lồi cầu dẫn đến rối loạn cấu trúc

Vi chấn thương khớp do bất thường hoạt động cơ nhai :được xem là cơ chế

bệnh sinh chính trong RLKTDH Tình trạng tăng trương lực cơ quá mức kéo dài gây ảnh hưởng lên khả năng bôi trơn rỉ khớp thái dương hàm dẫn đến tổn thương đĩa

khớp và phức hợp đĩa lồi cầu Bất thường hoạt động cơ nhai có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như mất khớp cắn chức năng (tăng co cơ kéo dài), lệch lạc khớp cắn hạng II (hướng lực của cơ cắn bị thay đổi gây ảnh hưởng mô sau đĩa), stress (tăng trương lực cơ kéo dài ảnh hưởng lên cấu trúc khớp), nghiến răng (lực co cơ rất mạnh) hay rối loạn tư thế đầu (tư thế đầu ra trước gây thay đổi vị trí XHD, vị trí lưỡi

và căng các cơ nhai)

3 Biến chứng sau phẫu thuật tuyến mang tai?

a Biến chứng sớm (7)

-Chảy máu:

Do cầm máu không kỹ trong lúc mổ Máu chảy đọng lại tạo khối mãu tụ nên cần phẩu thuật để cầm máu và dẫn lưu

-Liệt mặt:

Liệt mặt tạm thời và nhẹ không được coi là biến chứng thực sự BN phải được báo

trước về khả năng này trước PT Thời gian hồi phục thông thường vào khoảng 1-3 tháng sau Tuy nhiên, có trường hợp hồi phục hoàn toàn chậm sau 6 tháng

Trên thực tế chỉ nghi ngờ liệt thực thụ khi liệt hoàn toàn hay một phần gây méo miệng, mắt đóng không kín một bên mà nguyên nhân thường là do 1 chấn thương nghiêm trọng trong quá trình phẫu tích

-Rối loại cảm giác:

Vành tai bị mất cảm giác liên tục, kéo dài và hoàn toàn như “chết” do tổn thương dây thần kinh tai lớn Khả năng hồi phục cảm giác khá cao Tư vấn bệnh nhân để tránh bỏng vùng này khi mất

cảm giác (sấy tóc, uốn tóc )

-Cứng khít hàm: do chấn thương hoặc phản ứng viêm sau mổ của vùng khớp TDH (động tác kéo pharabớp ra trước) , chấn thương cơ cắn Tự hồi phục sau một thời gian.

Trang 4

-Dò tuyến nước bọt: hay gặp, do nước bọt tiết ra từ nhu mô tuyến còn sót lại dò qua vết mổ Lau

rửa vết dò và băng ép thường đưa tới kết quả tốt

-Hoại tử da vết mổ: vùng da sau dái tai do vết khâu quá chặt gây thiếu máu, thường thấy ở

người hút thuốc lá

-Biến dạng lõm vùng sau hàm:

Thấy rõ nhất sau khi cắt toàn bộ tuyến và trông rất mất thẩm mỹ nếu BN còn trẻ Có nhiều phương pháp đã được đề xướng để tránh di chứng này như:

+ Ghép mỡ

+ Vạt quay hay vạt trượt cơ ức đòn chum

+ Vạt cơ – màng xương sau tai của Champy

+ Sử dụng hệ thống cân – cơ nông ở mặt (SMAS) theo nguyên tắt của phẫu thuật căng

da mặt (Pech và Cannomi)

b.Biến chứng muộn(3)

-HC Frey:

HC Frey có thể xảy ra sau bất kỳ PT cắt tuyến mang tai nào hoặc chấn thương vùng mang

tai Tuy nhiên, thường nhất là sau PT cắt toàn bộ tuyến Khi đó, một kích thích vị giác sẽ dẫn đến kích thích tuyến mồ hôi và các mạch máu ở da, gây nên tam chứng kinh điển: da trên vùng

tuyến mang tai đổ mồ hôi, nóng, đỏ

Xảy ra khoảng 1-2 tháng sau phẩu thuật, có khi tới vài năm nhưng thường nhất là sau 6 tháng

-Thẩm mỹ: do mất chất vùng mang tai, sẹo lồi (ít gặp).

-Tái phát: tùy vào từng loại khối u mà có tỉ lệ tái phát khác nhau

4 Mô tả triệu chứng đau của HC TDH?

- Đau ở khớp TDH:

+Đau khớp TDH được cảm nhận và đau ở vùng trước tai (ngay vị trí của khớp) thường đau ở một bên, có thể đau cả 2 bên

+ Đau có liên quan trực tiếp đến vận động của khớp, tức vận động của hàm dưới Khi hàm dưới vận động, đau tăng lên Khi hàm dưới được nghỉ ngơi, cơn đau nhanh chóng giảm hoặc biến mất

+Đau có thể liên quan đến thời gian Có bệnh nhân sẽ đau nhiều vào buổi sáng (thường là bệnh nhân nghiến răng) hoặc đau nhiều vào lúc chiều tối (thường có ở bệnh nhân stress, căng thẳng)

Trang 5

+ Đau có thể nguồn gốc từ bao khớp, dây chằng bao khớp, mô sau đĩa hay từ xương hoặc

kết hợp nhiều cấu trúc khác nhau của khớp Trường hợp đau có nguồn gốc từ xương, có thể do sự

phá hủy bề mặt các diện khớp (như trong thoái hoá khớp) làm biến đổi cấu trúc bình thường của khớp thái dương hàm hoặc do hoại tử vô mạch đầu lồi cầu Đau có nguồn gốc từ xương thường đau liên tục, ngay cả khi không vận động hàm, và tăng lên khi có vận động hàm Đặc

biệt đau trong hoại từ vô mạch đầu lồi cầu thường rất dữ dội, trầm trọng không đáp ứng với các loại thuốc giảm đau

- Đau ở cơ:

+Triệu chứng biểu hiện ở cơ có nhiều mức độ, thay đổi từ cảm giác khó chịu, căng

cơ, mỏi cơ cho đến cảm giác đau thật sự Đôi khi trong một thời gian dài chỉ có biểu hiện của sự căng hay mỏi cơ mà không có đau

+Vị trí đau phụ thuộc vào vị trí của cơ

+Đau thường ở một bên, ít khi đau cả hai bên

+Có thể đau ở một hoặc nhiều cơ

+Đau có thể tự phát hoặc liên quan đến hoạt động chức năng (như khi ăn nhai), hoặc chỉ đau khi há lớn

+Đôi khi đau nhiều vào buổi sáng khi thức dậy, kèm theo há miệng hạn chế, đặc biệt xuất hiện ở nhẽng người có nghiến răng về đêm

+Đôi khi bệnh nhân có cảm giác mỏi và đau ở vùng vai gáy (thường 1 bên) do co

thắt cơ thang Đau khu trú ở vùng cổ sau, vùng cổ bên và ở sau vai Trong những trường hợp này,

cần khám kỹ vùng đốt sống cổ vì nguyên nhân có thể do rối loạn đốt sống cổ Những bệnh nhân

này thường sẽ có tư thế đầu ra trước

Câu 5: Bệnh nhân nam 22 tuổi đến khám và được chẩn đoán rối loạn khớp TDH, tư vấn các phương pháp điều trị.

Điều trị rối loạn TDH gồm điều trị triệu chứng và điều trị nguyên nhân công việc điều trị gồm 3 loại có thể riêng lẽ hay phối hợp:

+ Điều trị không can thiệp

+ Điều trị can thiệp khớp cắn

+ Điều trị can thiệp khớp thái dương hàm

1 điều trị không can thiệp (không xâm lấn)

Chế độ ăn: ăn thức ăn mềm, cắt nhỏ thức ăn, không nhai kẹo cao su.

Điều trị nội khoa : chủ yếu là điều trị triệu chứng như kháng viêm (khi xác định là có tình trạng viêm gây đau, thường là dấu hiệu đau khớp), giảm đau (có thể kết hợp với kháng viêm trong những trường hợp đau trầm trọng mà kháng viêm đơn thuần không đáp ứng), giãn cơ (khi có dấu hiệu co cơ, đau thắt cơ), an thần (khi bệnh nhân căng thẳng lo lắng, thuốc chống trầm cảm (khi bệnh nhân có dấu hiệu trầm cảm), bổ khớp.

Vật lý trị liệu: giúp tăng tuần hoàn vùng khớp, giúp cải thiện triệu chứng đau.

Trang 6

+ Tại nhà: những thói quen xấu khi ăn nhai phải được điều trị bằng những bài tập vận động Xoa bóp tại chỗ, chườm nóng lạnh

+ Tại bệnh viện: sóng siêu âm, kích thích điện cơ qua da, vận động dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, kỹ thuật viên, châm cứu

Điều trị nắn khớp: khi bệnh nhân bị dời đĩa khớp không hồi phục cấp ( không quá 1 tuần) Trừ các trường hợp bị biến dạng dĩa , rách dĩa hay mô sau đĩa thì không nắn chỉnh được.

Điều trị tâm lý: trấn an, giải thích cho bệnh nhân hiểu rõ căn bệnh của mình

Điều trị bằng giả dược

Máng nhai:

Máng nhai phía trước: mang liên tục trong 3 ngày trước khi làm máng nhai thư giãn

nhằm làm giảm áp lực lên khớp TDH

Máng thư giãn: nhằm phục hồi tạm thời khớp cắn chức năng, qua đó tác động giãn cơ các

cơ nhai vừa là điều trị triệu chứng, vừa là điều trị nguyên nhân, thường mang vào ban đêm khi đi

ngủ trong thời gian 3 – 6 tháng.

Máng nhai định vị ra trước: trong trường hợp di dời đĩa ra trước không hồi phục gây kẹt

hàm sau khi đã được nắn khớp Mang liên tục 24/24 trong thời gian 3 ngày, sau đó chỉ mang vào ban đêm trong thời gian 3 tháng Trường hợp không nắn khớp được thì không chỉ định

máng định vị ra trước

Máng chống nghiến: chỉ định trong trường hợp bệnh nhân có nghiến răng

2 Điều trị can thiệp khớp cắn

Mài điều chỉnh khớp cắn: khi hai hàm răng có sự tiếp xúc k hài hòa, có những điểm

vướng cộm gây cản trở trong quá trình ăn nhai, nuốt

Tái tạo hướng dẫn răng nanh

Phục hình răng: Trường hợp rối loạn khớp cắn trầm trọng, không thể điều trị bằng mài

chỉnh khớp cắn, nhưng có nhiều răng mất chất, hoặc đã làm phục hình có thể dùng giải pháp phục hồi toàn bộ khớp cắn bằng phục hình Trước khi thực hiện phục hình vĩnh viễn, cần cho bệnh nhân mang phục hình tạm cho đến khi cải thiện hoàn toàn các triệu chứng của RLKTDH

Chỉnh nha: rối loạn khớp cắn trầm trọng không thể điều trị bằng mài chỉnh hay phục

hình răng

Nhổ răng: nhổ các răng gây cản trở khớp cắn mà không thể mài chỉnh, phục hình hay

chỉnh nha

Phẫu thuật chỉnh hình xương: Những trường hợp lệch lạc khớp cắn trầm trọng mà

chỉnh nha đơn thuần không thể mang lại khớp cắn chức năng (Lệch lạc khớp cắn hạng II, hạng III trầm trọng)

3 Điều trị can thiệp khớp thái dương hàm : khi điều trị can thiệp khớp cắn không đáp ứng

Gồm: Rửa khớp, phẩu thuật khớp nội soi, phẩu thuật khớp hở

Trang 7

Câu 6: Bệnh nhân nam 55 tuổi vào viện vì sưng đau vùng dưới hàm trái khi ăn, sau đó 30 phút thì hết Chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị

1 Chẩn đoán:

Bệnh nhân nam 55 tuổi vào viện vì sưng đau vùng dưới hàm trái khi ăn, sau đó 30 phút thì hết Em hướng đến chẩn đoán sỏi tuyến nước bọt dưới hàm (T) ,vì:

+ Vị trí tương ứng với tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi nhưng tỉ lệ gặp sỏi tuyến nước bọt dưới hàm cao hơn (85%)

+ Tiền sử có cơn đau nước bọt: giữa bữa ăn bệnh nhân cảm thấy đau chói ở vùng lưỡi và sàn miệng Đồng thời thấy phồng khá to và rất nhanh vùng dưới hàm trên xương móng đẩy cao niêm mạc dưới lưỡi, đau dịu dần và hết hẳn sau ăn

((Thoát vị nước bọt: trong khi ăn tuyến dưới hàm sung phồng, do sỏi làm tắc nước bọt

tự nhiên nước bọt lại thoát ra được, chảy tự nhiên và hết sưng (Không gây đau )).

Chẩn đoán phân biệt trong trường hợp này:

1 Viêm do phản xạ giãn ống: chụp Xquang có lipiodon không thấy sỏi, mà chỉ thấy ống Wharton bị giãn đều

2 Sỏi dưới lưỡi:

 Hiếm gặp hơn (5%)

 Xquang không chuẩn bị thấy 1 sỏi hoặc mấy sỏi nhỏ không nằm thẳng hàng như trong ống Wharton, hình tam giác hoặc hình san hô

 Xquang có bơm lipiodon thấy rõ sỏi ở ngoài ống Tuy nhiên để chẩn đoán và đánh giá vị trí cũng như kích thước sỏi, em cần thêm xét

nghiệm cận lâm sàng là chụp Xquang không chuẩn bị:

o Phim Belot: phim cắn giữa hai hàm răng, tia thẳng góc 90 độ thấy rõ sỏi ống Whorton nhất là ở phần trước ống

o Tư thế Bonneau: đầu ngả sau bên lành, tia từ sau vai bên sỏi lướt mặt trong góc hàm thấy cả tuyến và đầu sau ống

2.Kế hoạch điêu trị:

Chụp phim Belot để chẩn đoán và đánh giá sơ bộ kích thước sỏi Nếu kích thước sỏi

lớn có khả năng phẩu thuật thì cho làm thêm siêu âm và CT Scan để chuẩn bị cho phẩu thuật

 Làm vệ sinh răng miệng tốt

 Nội khoa:

+ Thuốc lợi tiết nước bọt (nếu sỏi nhỏ nằm gần miệng ống Wharton thì có thể được tống ra):

o Pilocarpin 20 giọt x 2-3 lần/ ngày

o Sulfarlem S25

o jaborandi 30 giọt x 3 lần/ ngày

Trang 8

+ Cho kháng sinh nếu có viêm nhiễm.

 Ngoại khoa: Phụ thuộc vào vị trí, số lượng,tuổi bệnh nhân và tình trạng chức năng tuyến

o Sỏi ở ống Whorton: tốt nhất dung phẫu thuật theo đường trong miệng có gây tê hoặc gây mê Phải khu trú được sỏi và khi rạch niêm mạc và lách bóc, đừng để sỏi

di chuyển và chìm mất trong đám tổ chức mô lỏng lẻo đang bị viêm nhiễm dưới sàn miệng.Kỹ thuật:dùng kim tiêm khu trú sỏi, sau đó dùng 2 kẹp cầm máu nhỏ loại Leriche, kẹp sau 2 đầu sỏi, ngang ống Wharton để cổ định sỏi không cho di chuyển vào sau ống Sau đó gây tê, rồi rạch ngang hoặc dọc ống, trên hòn sỏi, rạch thẳng một nhát ngọt, tới sỏi và lấy ra Có thể không cần khâu phục hồi ống

o Sỏi ở sâu, chỉ nên cắt tuyến nước bọt mang tai khi sỏi nằm trong tuyến, tuyến đã

bị viêm nhiễm nhiều lần và có xơ hóa rõ rệt

o Trong trường hợp viêm cấp sàn miệng do sỏi, có khi phải can thiệp như cấp cứu Lúc này (dễ dàng hơn, chỉ cần rạch tháo mủ ở sàn miệng, có thể sỏi theo đó ra luôn, kết quả tốt rõ rệt tức thì

Câu 7: Biểu hiện loạn năng và các triệu chứng khác trong rồi loạn khớp TDH (tự thêm)

Tiếng kêu khớp thái dương hàm

Có nhiều loại tiếng kêu khác nhau được ghi nhận tại khớp:

+ Tiếng lụp cụp đơn (single click): do lồi cầu trượt trên đĩa biến dạng, nhưng chưa trượt qua mô

sau đĩa Cường độ có thể thay đổi từ mức độ kêu nhỏ (chỉ cảm nhận được bằng tay hơn là nghe thấy) cho đến tiếng kêu “cắc” rất lớn có thể nghe thấy được từ xa Tiếng lụp cụp đơn đa số xảy ra

thỉnh thoảng, không liên tục khi há ngậm Âm thanh tiếng lụp cụp đơn thường sắc, gọn

+ Tiếng lụp cụp đôi (double click): do lồi cầu trượt từ đĩa khớp qua mô sau đĩa trong trường hợp

dời đĩa ra trước có hồi phục Lụp cụp đôi xảy ra liên tục trong động tác há ngậm, một ở thì há và

một ở thì ngậm miệng Âm thanh tiếng lụp cụp đôi thường đục so với lụp cụp đơn và cường độ

nhỏ hơn

+ Tiếng lạo xạo (crepitus): do hai mặt khớp thoái hoá ma sát lên nhau trong vận động hàm, gồm

nhiều tiếng kêu nhỏ, kéo dài trong suốt vận động hàm, thường được mô tả như tiếng bước chân

đi trên sỏi Tiếng lạo xạo xảy ra khi đĩa đã di dời ra trước không hồi phục và RLKTDH đã ở giai đoạn viêm xương khớp

Rối loạn vận động

Rối loạn vận động chức năng của khớp thái dương hàm được thể hiện qua các dấu hiệu:

giới hạn vận động hàm dưới, há miệng zig zag và há lệch hàm

+ Giới hạn vận động hàm: bệnh nhân cảm thấy khó khăn khi há, đưa hàm sang bên (trong khi

nhai) hoặc đưa hàm ra trước (để cắn xé thức ăn) Biên độ vận động của hàm dưới bị giới hạn (4cm) Há miệng hạn chế xảy ra chủ yếu trong những trường hợp dời đĩa không hồi phục, hay còn gọi là khoá hàm hoặc do tình trạng dính đĩa

+ Há miệng zig zag: trong vận động há miệng, đầu tiên có sự lệch hàm dưới sang một bên giữa

thì há, nhưng sau đó hàm dưới trở về lại đường giữa khi há tối đa

Trang 9

+ Há lệch hàm: hàm dưới lệch hẳn về một bên khi há và càng há càng lệch Dấu hiệu này thường

kèm theo há miệng hạn chế và nguyên nhân do dời đĩa không hồi phục hoặc dính đĩa một bên

Rối loạn khớp cắn

Khớp cắn thường có các dấu hiệu mất khớp cắn chức năng như vướng cộm bên thăng bằng, không nhả khớp trong vận động ra trước, không có chức năng răng nanh Rối loạn khớp cắn có thể vừa là yếu tố nguyên nhân vừa là hậu quả của rối loạn khớp thái dương hàm

Các biểu hiện khác

Ngoài các triệu chứng chính kể trên, bệnh nhân có thể có những triệu chứng ở các cơ quan khác như:

 Nhức đầu

 Đau trong tai, ù tai, giảm thính lực, rối loạn thăng bằng

 Sưng tuyến nước bọt dưới hàm một bên

 Chảy nước mắt, đau sau hốc mắt

 Cảm giác nóng bỏng, châm chích vùng mũi - hầu

Các biểu hiện này thường thấy ở những bệnh nhân có vấn đề về tâm lý nhiều hơn (như lo

âu, xúc cảm, thần kinh không ổn định…)

Ngày đăng: 22/04/2022, 08:41

w