1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bướu tuyến thượng thận phát hiện tình cờ tại Bệnh viện Chợ Rẫy

5 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 297,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bướu tuyến thượng thận phát hiện tình cờ tại bệnh viện Chợ Rẫy. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, tất cả các trường hợp được phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận, chọn những trường hợp bướu tuyến thượng thận được phát hiện tình cờ tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/01/2008 đến 31/12/2012.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN

PHÁT HIỆN TÌNH CỜ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Thái Kinh Luân * , Ngô Xuân Thái*, Thái Minh Sâm**, Châu Quý Thuận**, Trần Ngọc Sinh*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bướu tuyến thượng thận (TTT) phát hiện tình cờ tại bệnh

viện Chợ Rẫy

Đ ối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, tất cả các trường hợp

(TH) được phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận (TTT), chọn những TH bướu TTT được phát hiện tình cờ tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/01/2008 đến 31/12/2012

Kết quả: Nghiên cứu có 62 trường hợp (TH) Tuổi trung bình 47 (nhỏ nhất 17, lớn nhất 82); tỷ lệ

nam/nữ: 25/37; kích thước bướu 52,2 mm(15-150), bướu bên phải 48/62, bên trái 14/62; bướu tăng tiết aldosterone 21,0% (13/62), cortisol 25,8% (16/62), catecholamine 27,8% (17/62); bướu tăng tiết nội tiết

tố 56,5%(35/62) Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt bướu 79% (49/62); phẫu thuật mổ mở 21% (13/62), không có TH nào tử vong Giải phẫu bệnh sau mổ: bướu sắc bào tủy thượng thận (pheochromocytoma) 29% (18/62), bướu lành tính vỏ TTT 29% (18/62), carcinoma vỏ TTT 12,9% (8/62) và các loại khác 29% (18/62)

Kết luận: Bướu TTT phát hiện tình cờ cần phải xét nghiệm nội tiết tố, khảo sát kích thước và đặc tính của

bướu Xét nghiệm nội tiết tố TTT, kích thước và đặc tính của bướu quyết định chỉ định điều trị phẫu thuật

Từ khoá: bướu tuyến thượng thận, bướu phát hiện tình cờ, phẫu thuật nội soi, nội tiết tố

ABSTRACT

STUDYING CHARACTERISTICS OF ADRENAL INCIDENTALOMAS

AT CHO RAY HOSPITAL

Thai Kinh Luan, Ngo Xuan Thai, Thai Minh Sam, Chau Quy Thuan, Tran Ngoc Sinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 54 - 58

Objective: To study the characteristics of adrenal incidentalomas at Cho Ray Hospital.

Materials and Methods: A case series study, all case of adrenal incidentalomas chosen from all

case of adrenal gland tumors that operated at Cho Ray Hospital from 01/01/2008 to 31/12/2012.

Results: Total of 62 cases Mean age 47 years old (17-82), ratio of male female 25/37, mean tumor

size 52.2 mm (15-150), right tumor 48/62, left tumor 14/62, hyper secretion of aldosterone 21.0% (13/62), cortisol 25.8% (16/62), catecholamine 27.8% (17/62), hyper secretion of hormone 56,5% (35/62) Retroperitoneal laparoscopic adrenalectomy 79% (49/62), open adrenalectomy 21% (13/62), no case for mortality Pathology: pheochromocytoma 29% (18/62), adrenocortical adenoma 29% (18/62), adrenocortical carcinoma 12.9% (8/62), and others 29% (18/62)

Conclusions: Adrenal incidentalomas must be done hormonal evaluation and evaluated size and

Tác giả liên lạc: BS Thái Kinh Luân ĐT: 0908424344 Email: thaikinhluan@gmail.com

Trang 2

characteristics of tumor Indications for adrenalectomy based on hormonal evaluation, size and characteristics of tumor

Keywords: adrenal gland tumor, incidentaloma, laparoscopic surgery, hormonal evaluation

ĐĂ ̣T VẤN ĐỀ

Thuật ngữ “bướu tuyến thương thận (TTT)

phát hiện tình cờ” được định nghĩa là bướu TTT

phát hiện bất ngờ khi bệnh nhân làm các xét

nghiệm hình ảnh học mà không liên quan hoặc

không nghĩ đến các rối loạn chức năng của TTT(2)

Ngày nay với sự tiến bộ của y học, tỷ lệ bướu

TTT phát hiện tình cờ ngày càng tăng do có các

phương tiện hình ảnh học: siêu âm, chụp cắt lớp

điện toán (CT-Scan) và chụp cộng hưởng từ

(MRI) Chẩn đoán bệnh lý, theo dõi và điều trị

bướu TTT phát hiện tình cờ còn nhiều tranh

luận(2) Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu

này để mô tả một số đặc điểm bệnh lý về bướu

TTT phát hiện tình cờ tại Bệnh viện Chợ Rẫy

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, tất cả các

trường hợp (TH) được phẫu thuật cắt bướu

TTT, chọn những TH bướu TTT được phát

hiện tình cờ tại bệnh viện Chợ Rẫy từ

01/01/2008 đến 31/12/2012 Phân tích đặc điểm

của mẫu nghiên cứu

KẾTQUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian 05 năm từ tháng

01/01/2012 đến 31/12/2012, tại Bệnh viện Chợ

Rẫy có 311 TH được chẩn đoán bướu TTT và

được phẫu thuật cắt bướu TTT, trong 311 TH

này có 62 TH bướu TTT phát hiện tình cờ, tỷ lệ

19,9% (62/311) (bảng 1)

Bảng 1: Số TH theo từng năm

Tuổi trung bình 47 (nhỏ nhất 17, lớn nhất

82); tỷ lệ nam/nữ: 25/37; kích thước bướu 55,3

mm(15-150), bướu bên phải 48/62, bên trái

14/62 (bảng 1)

Bảng 2: Đặc điểm của 62 TH nhóm được mổ

(mm)

(17 - 82)

(11 – 120)

Nhóm tuổi từ 20 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 38,7% (24/62), nhóm tuổi nhỏ hơn 20 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,6% (1/62) (bảng 3)

Bảng 3: Phân tầng theo nhóm tuổi

Kích thước bướu từ 40 đến 60 mm chiếm tỷ

lệ cao nhất 38,7%, kích thước bướu nhỏ hơn 20

mm chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,6% (bảng 4)

Bảng 4: Phân tầng theo kích thước bướu

Xét nghiệm nội tiết tố: tăng aldosterone 21,0% (13/62), cortisol 25,8% (16/62), catecholamine 27,8% (17/62) Bướu TTT phát hiện tình cờ có tăng tiết nội tiết tố 56,5% (35TH), không có tăng tiết nội tiết tố 43,5% (27TH) Dựa trên hình ảnh học: 09 TH nghi ngờ ung thư Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt bướu 79% (49/62), phẫu thuật mổ mở 21% (13/62), có

01 TH chuyển từ phẫu thuật nội soi sang mổ mở, không có TH nào tử vong trong cả hai nhóm phẫu thuật

Giải phẫu bệnh sau mổ: bướu sắc bào tủy thượng thận (pheochromocytoma) 29% (18/62), bướu lành tính vỏ TTT 29% (18/62), carcinoma

vỏ TTT 12,9% (8/62) và các loại khác 29% (18/62)

Trang 3

(carcinoma di căn TTT, bướu hạch thần kinh,

bướu mỡ tủy thượng thận, bướu tế bào sợi thần

kinh, nang tuyến thượng thận…) (bảng 5)

Bảng 5: Giải phẫu bệnh sau mổ

Bướu hạch thần kinh ở TTT

(Ganglioneuroma)

Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi, kích thước

và kết quả giải phẫu bệnh sau mổ

Biểu đồ 1: Biểu đồ phân bố kích thước bướu, tuổi

theo giải phẫu bệnh

Ghi chú: GPB (Giải phẫu bệnh)

1: Pheochromocytoma

2: Bướu lành tính vỏ TTT

4: Carcinoma vỏ TTT

BÀN LUẬN

Trong 5 năm từ 2008 đến 2012, tỷ lệ bướu

TTT phát hiện tình cờ được phẫu thuật là 19,9%

trong tổng số 311 TH được chẩn đoán và phẫu

thuật cắt bướu TTT tại Bệnh viện Chợ Rẫy Tác

giả Ngô Xuân Thái ghi nhận từ 2003-2008 tại

Bệnh viện Chợ Rẫy tỷ lệ này là 12,7% (31/244 TH)(6) Tỷ lệ bướu TTT phát hiện tình cờ tăng lên trong những năm gần đây David Aron (2012) tỷ

lệ bướu TTT qua tử thiết 1,4 – 2,9%, qua siêu âm

ở người có sức khỏe bình thường 0,4 – 1,9%(2) Đặc tính mẫu nghiên cứu: giới, vị trí bên

có bướu đều tương đồng với mẫu nghiên cứu của các tác giả khác trong nước, ghi nhận nữ gặp nhiều hơn nam, bên phải gặp nhiều hơn bên trái(6,10) Nhóm tuổi trung bình của BN bướu TTT tập trung chủ yếu ở 2 nhóm tuổi 20-40 tuổi 38,7%

và 40-60 tuổi 35,5%

Phân tích đặc điểm kích thước bướu, tuổi, giới, vị trí bên có bướu với 3 nhóm bệnh lý: bướu sắc bào tủy TTT, bướu lành tính vỏ TTT, carcinoma vỏ TTT, chỉ có kích thước bướu là khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm bệnh lý (p=0,001) (bảng 6)

Bảng 6: Đặc điểm từng nhóm bệnh lý của bướu

TTT phát hiện tình cờ

khác

Tổng cộng

Giá trị

p

Kích thước bướu (mm)

Ghi chú:

-PCC: Pheochromocytoma (bướu sắc bào tủy TTT) -AA: adrenocortical adenoma (bướu lành tính vỏ TTT) -ACC: adrenocortical carcinoma (carcinoma vỏ TTT)

Bác sĩ lâm sàng cần phải trả lời 2 câu hỏi khi gặp TH bệnh nhân có bướu TTT phát hiện tình cờ?

Bướu TTT phát hiện tình cờ có chức năng hay không có chức năng? Bướu có chức năng là bướu có tăng tiết nội tiết tố, ngược lại bướu không có chức năng là bướu không có tăng tiết nội tiết tố Nghiên cứu này, tăng aldosterone 21,0% (13/62), cortisol 25,8% (16/62), catecholamine 27,8% (17/62) Trong đó có một số

TH có tăng cả aldosterone và hoặc cortisol và

Trang 4

hoặc catecholamine, nên tổng số TH có tăng nội

tiết tố chỉ chiếm 56,5% (35TH) Tác giả Giorgio

Arnaldi phân tích 320 TH bướu TTT phát hiện

tình cờ, 63% bướu không có chức năng(1)

Bướu TTT phát hiện tình cờ có khả năng là

bướu lành tính hay ác tính? Dựa trên hình ảnh

học, chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ cho

thấy có 9 TH bướu giới hạn bờ không rõ, tăng

bắt thuốc cản quang trong lòng bướu, đây là

những TH cần phải chỉ định phẫu thuật vì nghi

ngờ ung thư(5) Phân tầng tuổi, kích thước bướu

với 3 nhóm bệnh lý bướu sắc bào tủy TTT, bướu

lành tính vỏ TTT, carcinoma vỏ TTT, cho thấy

bướu TTT phát hiện tình cờ thường tập trung ở

nhóm tuổi từ 20-60 tuổi, kích thước bướu tập

trung khoảng từ 40-60 mm và gặp nhiều ở 2

nhóm bệnh lý bướu sắc bào tủy TTT, bướu lành

tính vỏ TTT Carcinoma vỏ TTT ít gặp hơn

nhưng đây là nhóm bệnh lý ung thư, tiên lượng

xấu hơn 2 nhóm bướu sắc bào tủy TTT, bướu

lành tính vỏ TTT (biểu đồ 1)

Chỉ định phẫu thuật: bướu TTT phát hiện

tình cờ có tăng tiết hormone hoặc bướu phát

hiện tình cờ kích thước bướu trên 40 mm có hoặc

không tăng tiết hormone hoặc dựa trên hình ảnh

nghi ngờ ung thư(4,3,5,9,8) Đối với bướu TTT phát

hiện tình cờ không tăng tiết hormone, một số tác

giả đề nghị phẫu thuật cắt bướu khi bướu có kích thước trên 50mm, một số tác giả khác lại chọn trên 30mm Raymon báo cáo 81 TH bướu TTT phát hiện tình cờ, chỉ định cắt bướu khi kích thước bướu >30 mm ở những TH bệnh nhân trẻ (nhỏ hơn 50 tuổi) và >50mm ở những TH bệnh nhân già (lớn hơn 50 tuổi)(7) Tỷ lệ carinoma vỏ TTT ở những bướu kích thước dưới 40 mm là 2%, từ 40-60 mm là 6%(2) Tỷ lệ carcinoma vỏ TTT tăng theo kích thước bướu, bướu càng lớn, tỷ lệ carcinoma vỏ TTT càng cao(5) Bệnh nhân có tiền

sử bệnh ung thư và có bướu TTT hai bên thì tỷ lệ ung thư di căn tuyến TTT 32-73%(5) Nghiên cứu này có 03 TH carcinoma di căn TTT: 02 TH bướu TTT 2 bên và có tiền sử ung thư đã phẫu thuật,

01 TH còn lại carcinoma tuyến di căn TTT nghi

từ đường tiêu hóa

Chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ: kết quả giải phẫu bệnh sau mổ của nghiên cứu này so với một số tác giả khác tổng kết báo cáo từ năm

1998 đến 2009 Tỷ lệ bướu sắc bào tủy thượng thận (29%) và carcinoma vỏ TTT (12,9%) của nghiên cứu này cao hơn so với các nghiên cứu của các tác giả khác (bảng 7)

Bảng 7: Tần suất các loại bướu TTT phát hiện tình cờ

Ghi chú: PCC: Pheochromocytoma (bướu sắc bào tủy TTT); AA: adrenocortical adenoma (bướu lành tính vỏ TTT); ACC: adrenocortical carcinoma (carcinoma vỏ TTT

KẾT LUẬN

Bướu TTT phát hiện tình cờ cần phải xét

nghiệm nội tiết tố và khảo sát kích thước và đặc

tính của bướu Xét nghiệm nội tiết tố TTT, kích

thước và đặc tính của bướu quyết định chỉ định

điều trị phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arnaldi G (2012), “Adrenal incidentaloma”, Best Practice &

Research Clinical Endocrinology & Metabolism, 26, pp 405–419

2 Aron D (2012), “Adrenal incidentalomas”, Best Practice &

Research Clinical Endocrinology & Metabolism, 26, pp 69-82

3 Eichhorn-Wharry LI, Talpos GB, Rubinfeld I (2012),

“Laparoscopic versus open adrenalectomy: Another look at

outcome using the Clavien classification system”, Surgery, vol

152, n o 6: 1090-1095

Trang 5

4 Jeffrey I.M (2010), “American Association of Clinical

Endocrinologists and American Association of Endocrine

Surgeons medical guidelines for the management of adrenal

incidentalomas”, AACE/AAES Adrenal Incidentaloma guidelines,

Endocr Pract; 15 Supply 1

5 Massimo T (2009), “Management of adrenal incidentaloma”,

Best Practice & Research Clinical Endocrinology & Metabolism, 23,

pp 233–243

6 Ngô Xuân Thái (2010), “Nghiên cứu phẫu thuật cắt bướu

tuyến thượng thận”, Luận án Tiến sĩ y hoc, Đại học Y dược TP

HCM

7 Raymon H.G (2010), “Adrenal incidentaloma: Does an

adequate workup rule out surprises?”, Surgery, 148:392-7

8 Sohaib S.A (2005), “Imaging functional adrenal disorders”,

Best Practice & Research Clinical Endocrinology & Metabolism,

vol 19, n o 2, pp 293–310

9 Sukor N (2011), “Endocrine hypertension - Current understanding and comprehensive management review”,

European Journal of Internal Medicine, 22, pp 433–440

10 Thái Kinh Luân, Ngô Xuân Thái, Trần Ngọc Sinh (2013),

“Tình hình chẩn đoán và điều trị bướu tuyến thượng thận tại

Bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2012”, Y học TP.HCM, Tập 18

Phụ bản số 1, tr 62-66

Ngày nhận bài báo: 01/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/5/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/7/2014

Ngày đăng: 22/01/2020, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w