TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Một số bệnh răng miệng hay gặp ở trẻ em 1.1.1. Bệnh sâu răng Sâu răng là bệnh lý phổ biến nhất trong các bệnh về răng miệng ở trẻ em. Thực chất đây là sự tiêu huỷ cấu trúc vôi hoá chất vô cơ (tinh thể canxi) của men răng và ngà răng, tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng do vi khuẩn gây ra. Sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp xe quanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng, sâu răng làm giảm thẩm mỹ, gây hôi miệng, ảnh hưởng đến giao tiếp. Nguyên nhân của sâu răng là do trẻ chưa vệ sinh răng miệng sạch sẽ, do đó ngay từ khi còn bé, các bậc phụ hunh nên chủ động phòng chống sâu răng và hướng dẫn trẻ cách đánh răng cũng như chủ động bảo vệ răng. Hãy cho bé tập làm quen với nha sĩ trong những lần đi nhổ thay răng để bé không sợ mỗi khi khám răng. Đặc biệt không nên cho trẻ em ăn các loại thức ăn chứa nhiều đường. Sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp xe quanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng. 1.1.2. Bệnh viêm lợi Song hành cùng với bệnh sâu răng thì viêm lợi là các bệnh về răng miệng ở trẻ em phổ biến thứ 2. Đây là 2 bệnh có quan hệ với nhau. Khi lợi bị viêm sẽ đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu, miệng có mùi hôi. Vì lợi bị đau nên nhiều trẻ không chịu đánh răng thường xuyên làm cho tình trạng viêm tiếp tục nặng hơn và tạo điều kiện cho sâu răng phát triển, nếu đã có sâu răng rồi thì càng nặng hơn. Viêm lợi còn là giai đoạn đầu của quá trình viêm quanh răng, khi bệnh đã nặng thì lợi sẽ không còn bám chắc vào răng nữa mà hình thành các túi lợi, các dây chằng của răng và xương bị vi khuẩn xâm nhập, phá hủy. Trong các túi lợi chứa đầy mảng bám cao răng và vi khuẩn. Quá trình này diễn ra lâu và không được điều trị sẽ làm lung lay và rụng răng. 1.1.3. Bệnh viêm loét miệng Những chấn thương nhỏ từ miệng (do trẻ đánh răng quá nhiều), ăn nhiều thực phẩm nhiều gia vị, có tính axit, tai nạn do cắn; các rối loạn đường ruột nghiêm trọng; suy giảm hệ thống miễn dịch…dễ khiến trẻ bị viêm loét miệng. Viêm loét miệng là những tổn thương phát sinh ở vùng niêm mạc miệng và cổ họng gây đau đớn, rất khó chịu khi trẻ ăn, nói hoặc cử động. Đặc biệt khi ăn uống những thực phẩm nóng, lạnh có chất kích thích thì bé càng bị đau hơn tại những vết loét và phần xung huyết xung quanh. Thông thường, triệu chứng viêm loét miệng sẽ biến mất sau 1 – 2 tuần, nhưng có thể tái phát. Viêm loét miệng ảnh hưởng đến việc ăn uống của trẻ, khiến trẻ sụt kí. 1.1.4. Nấm miệng Khi hệ thống miễn dịch của trẻ suy yếu hoặc trẻ phải chịu tác động từ những yếu tố bên ngoài, miệng trẻ sẽ có những mảng màu trắng xuất hiện trên lưỡi và những vết loét đỏ trên môi, trên vòm miệng, niêm mạc miệng, gọi là nấm miệng. Khi bị nấm miệng, trẻ có thể cảm thấy rát trong miệng hoặc cổ họng. Những bệnh này làm tăng lượng vi khuẩn trú ngụ trong miệng nên hoàn toàn có thể gây ra triệu chứng kèm theo là hôi miệng. Điều này không những khiến trẻ khó chịu vì bệnh mà còn mặc cảm và ngại ngùng trong giao tiếp. 1.2. Chương trình nha học đường tại Việt Nam Một trong những căn bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi và chiếm một tỷ lệ rất cao đó là bệnh RM đã làm cho sức khoẻ bị giảm sút, tổn hại về kinh tế và mất đi vẻ đẹp tự nhiên của mỗi con người. Đối với trẻ em, bệnh RM đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và thẩm mỹ. Muốn cho trẻ phát triển toàn diện và có hàm răng khoẻ, đẹp thì trẻ phải được chăm sóc răng miệng từ nhỏ, đặc biệt là lứa tuổi học đường. Để trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về chăm sóc SKRM, phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh RM, thì việc xây dựng cho mỗi trường học 01 phòng nha khoa dưới sự chỉ đạo của phòng giáo dục, phòng y tế và chịu sự quản lý trực tiếp của Hiệu trưởng các trường là việc làm đúng đắn, tiện lợi nhất. Như vậy, NHĐ là công tác chăm sóc SKRM cho trẻ em, được thực hiện tại cơ sở trường học nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Chăm sóc SKRM cho trẻ em tại trường học đó chính là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, của ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho mọi người, mà ở đó có chăm sóc SKRM ban đầu. Chăm sóc SKRM ban đầu là những hoạt động chi phí để giúp đỡ, giữ gìn và tái lập SKRM trong cộng đồng. Với tầm quan trọng và sự cần thiết là đáp yêu cầu y tế cộng đồng, lại sức khoẻ cho toàn dân với nguồn tài chính giới hạn, đây là chương trình căn bản về chăm sóc SKRM ở mọi mức độ xã hội cho các nước phát triển.Hơn thế nữa, chăm sóc SKRM ban đầu là chương trình hợp lý được Bộ Y tế và ngành RHM Việt Nam nhận. Các hoạt động chăm sóc SKRM ban đầu nếu không có con người tham gia thì sẽ thất bại. Sự tham gia trong cộng đồng là sự quan tâm giữa các thành viên trong cộng đồng với các hoạt động của chương trình chăm sóc SKRM của cộng đồng. Nội dung công tác nha học đường Thực hiện chỉ thị công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Bộ Y tế, ngành RHM đã đưa ra 8 nội dung của chăm sóc RM ban đầu tại Việt Nam: GDSK phòng ngừa sâu răng và ung thư. Ăn uống cân bằng và hợp lý (giảm thức ăn đường bột, hạn chế ăn ngoàicác bữa chính). Sử dụng rộng rãi Fluor để phòng ngừa sâu răng: Nước uống có Fluor, dung dịch súc miệng có Fluor, kem đánh răng có Fluor. Dạy chải răng cho HS mẫu giáo, tiểu học, nhà trẻ. Chữa các bệnh RM thông thường, hàn răng sâu ngà, lấy cao răng, đánh bóng răng, nhổ răng lung lay đến tuổi thay, cấp cứu hàm mặt. Đảm bảo thuốc men tối thiểu ở các cơ sở như thuốc cấp cứu. Cải tạo môi trường nước uống có Fluor. Khám răng định kỳ, lập hồ sơ nha bạ hoặc phiếu theo dõi SKRM ở các cơ sở NHĐ, lập kế hoạch điều trị đối với người lớn, phát hiện sớm ung thư niêm mạc miệng và hàm mặt. 1.3. Thực trạng bệnh răng miệng 1.3.1. Trên thế giới Bệnh RM là bệnh thường gặp ở tất cả các nước trên thế giới. Trước đây bệnh RM rất phổ biến ở những nước phát triển vì chế độ ăn nhiều đường, đạm. Theo W.R. Hume cuộc cách mạng công nghiệp đã đem lại sự thay đổi dạng thức ăn truyền thống của phần lớn dân số, sự giàu có và nhàn rỗi của những cộng đồng giàu có, rồi đến các tầng lớp kinh tế khác có cơ hội và thời gian tiêu thụ đường thường xuyên hơn, chính điều này đã tạo ra một bệnh dịch mới đó là sâu răng (SR). Những nước nghèo tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng do không được fluor hoá nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng. Những nước giàu tỷ lệ sâu răng giảm do Nhà nước coi trọng chương trình fluor hoá nước uống, thuốc chải răng có fluor, trám bít hố rãnh, coi giáo dục nha khoa là quốc sách. Trong vài thập kỷ gần đây, các nước này đã dành 5 11% ngân sách của y tế cho phòng bệnh RM 5, 13, 28. Trong những năm từ 1946 đến 1975, ở hầu hết các nước phát triển, chỉ số sâu, mất, trám (SMT) của trẻ em lứa tuổi 12 nằm trong khoảng 7,4 10,7 có nghĩa là trung bình mỗi trẻ em sâu từ 7,4 đến 10,7 răng. Từ 1979 đến 1982 chỉ số SMT của lứa tuổi 12 đã giảm hẳn còn khoảng 1,7 3,0 35. Ở Singapo năm 1960 trẻ 12 tuổi có chỉ số SMT > 4 và hiện nay còn < 0,5 38, 40.
Trang 1NGUYỄN TRỌNG VIỆT
THỰC TRẠNG MẮC VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH
VỀ BỆNH RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH
TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN
PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI BÌNH – 2018
Trang 2NGUYỄN TRỌNG VIỆT
THỰC TRẠNG MẮC VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH
VỀ BỆNH RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH
ĐIỆN BIÊN NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cán bộ hướng dẫn:TS LÊ ĐỨC CƯỜNG
THÁI BÌNH - 2018
Trang 3CI-S Calculus Index Simplified
(Chỉ số cao răng)
DMFT Decay missing filling tooth
(Chỉ số sâu, mất, trám răng vĩnh viễn)
DI-S Debris Simplifed Index
(Chỉ số mảng bám)
(Răng vĩnh viễn sâu)
OHI-S Oral Hygiene Index-Simplified
(Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản)
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số bệnh răng miệng hay gặp ở trẻ em 3
1.2 Chương trình nha học đường tại Việt Nam 4
1.3 Thực trạng bệnh răng miệng 6
1.4 Kiến thức thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng 13
1.5 Hệ thống chăm sóc y tế tại Điện Biên 16
CHƯƠNG 2 21
2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3 Các chỉ số và biến số trong nghiên cứu 23
2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 25
2.5 Các tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu 26
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.7 Hạn chế sai số 29
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 31
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 59
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1 6
PHỤ LỤC 2 11
Trang 5Bảng 3.3: Tỷ lệ học sinh bị sâu răng theo trường và khối lớp 32
Bảng 3.4: Tình trạng nha chu của học sinh 33
Bảng 3.5: Tình trạng viêm lợi của học sinh 34
Bảng 3.6: Tình trạng cao răng của học sinh 35
Bảng 3.7: Tình trạng cặn bám răng của học sinh 35
Bảng 3.8: Tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh 36
Bảng 3.9: Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân sâu răng 37
Bảng 3.10: Kiến thức của đối tượng về biểu hiện của sâu răng 39
Bảng 3.11: Kiến thức của đối tượng về tác hại của sâu răng 39
Bảng 3.12: Kiến thức của đối tượng về cách chải răng 41
Bảng 3.13: Kiến thức của đối tượng về thời gian khám răng định kỳ 43
Bảng 3.14: Thái độ của đối tượng về việc khám răng định kỳ vả chải răng hàng ngày 44
Bảng 3.15: Tỷ lệ đối tượng có bàn chải đánh răng riêng và khoảng thời gian thay bàn chải 46
Bảng 3.16: Số lần chải răng trong ngày của học sinh theo trường 46
Bảng 3.17: Thời điểm chải răng của đối tượng 47
Bảng 3.18: Thực hành chải răng của đối tượng 48
Bảng 3.19: Số lần khám răng của học sinh trong năm qua 49
Bảng 3.20: Mức độ ăn, uống đồ ngọt của đối tượng 50
Bảng 3.21: Liên quan giữa trình trạng bệnh răng miệng và chải răng hàng ngày của đối tượng (n=381) 52
Bảng 3.22: Liên quan giữa trình trạng bệnh răng miệng và khám răng trong năm (n=381) 52
Bảng 3.23: Liên quan giữa trình trạng bệnh răng miệng và mức độ thường xuyên ăn đồ ngọt của đối tượng (n=381) 53
Trang 7Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ đối tượng cho rằng sâu răng có thể phòng được (n=376) 40 Biểu đồ 3.4: Kiến thức của đối tượng về cách phòng tránh bệnh sâu răng (n=376).42 Biểu đồ 3.5: Thái độ của học sinh về việc súc miệng sau khi ăn xong (n=381) 45 Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ đối tượng có sử dụng nước súc miệng hàng ngày 49 Biểu đồ 3.7: Tần suất sử dụng đồ ngọt của học sinh (n=253) 51
Trang 855 Hộp 3.3 Ý kiến về những thuận lợi, khó khăn trong công tác nha học đường tại nhà trường 56 Hộp 3.4 Những giải pháp cải thiện công tác quản lý, chăm sóc răng miệng của học sinh hiện nay 57
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh răng miệng đang là vấn đề được quan tâm của toàn xã hội khi
tỷ lệ người mắc ngày một tăng Theo số liệu từ Viện Răng Hàm Mặt Việt Namvừa công bố, cả nước có trên 60% dân số mắc bệnh sâu răng, trong đó lứatuổi từ 6 - 12 tuổi chiếm trên 85% (trung bình mỗi trẻ em lứa tuổi học đườngthường có 5-6 răng sâu) Tỷ lệ sâu răng ở Việt Nam có xu hướng tăng dầntheo tuổi, tuổi càng nhiều, tỷ lệ sâu răng càng cao Đặc biệt từ độ tuổi 45 trở
đi có trên 90% số người bị sâu răng (trung bình mỗi người có trên 8 chiếcrăng sâu) Ngoài sâu răng, tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến răng như viêmlợi, viêm chân răng, viêm nha chu ở trẻ từ 15-17 tuổi là 47%, ở người trên 45tuổi là 85% Tỷ lệ có bệnh quanh răng chiếm gần 97% Số liệu Viện RăngHàm Mặt đưa ra cũng cho thấy, cả nước có trên 60% trẻ em và trên 50%người lớn chưa từng được đi khám răng miệng ,
Theo thống kê từ các nghiên cứu cho thấy trên 80% học sinh tiểu họcViệt Nam mắc các bệnh răng miệng như sâu răng, viêm quanh răng, ở lứa tuổilớn hơn tỉ lệ này cũng lên đến 60-70% và có xu hướng tăng dần trong thờigian gần đây Tỷ lệ mắc bệnh răng miệng của trẻ em ở khu vực thành phố, đôthị cao hơn hẳn so với các khu vực khác Vì đây là nhóm trẻ được vệ sinhrăng miệng tốt hơn, nhưng lại là khu vực sử dụng nhiều thức ăn ngọt nhưbánh kẹo các loại, đường , ,
Vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng học đường ở Việt Nam chưađược đầu tư đúng mức khi cơ sở hạ tầng phục vụ cho chăm sóc sức khỏe răngmiệng cho học sinh còn rất hạn chế, nhiều trường tiểu học chưa có phòng nhahọc đường
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học có hệ răng hỗn hợp (vừa có răng sữa vừa córăng vĩnh viễn) nên việc chăm sóc, giữ gìn vệ sinh răng miệng là hết sức cần
Trang 10thiết Vì trong giai đoạn này răng vĩnh viễn lần lượt mọc thay thế cho răngsữa Răng sữa rụng đúng ngày, không bị sâu hay nhổ sớm thì răng vĩnh viễn
sẽ mọc lên đúng chỗ, đều và đẹp Do đó, để tránh bệnh sâu răng và viêm nướucho học sinh ở lứa tuổi này việc chăm sóc giữ gìn sức khỏe răng miệng là rấtquan trọng
Phòng bệnh răng miệng không phức tạp, không đòi hỏi trang thiết bịđắt tiền, không đòi hỏi cán bộ kỹ thuật chuyên môn cao, chi phí thấp và dễthực hiện tại cộng đồng, đặc biệt tại các trường học đã đem lại hiệu quảcao Do đó, phòng bệnh răng miệng sớm ngay ở lứa tuổi học sinh là chiếnlược khả thi nhất đã được WHO khuyến cáo triển khai Để góp phần giảm bớt
tỷ lệ mắc các bệnh về răng miệng, cần điều trị sớm các trường hợp mắc bệnh
và tuyên truyền giáo dục các biện pháp vệ sinh răng miệng cho trẻ em Để tìmhiểu về vấn đề này tại thành phố Điện Biên Phủ, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Thực trạng mắc và kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh răng miệng của học sinh hai trường tiểu học Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2018” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng bệnh răng miệng và một số yếu tố liên quan của học sinh hai trường tiểu học Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2018.
2 Đánh giá kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh răng miệng của học sinh tiểu học và công tác quản lý chăm sóc bệnh răng miệng học sinh tại địa bàn nghiên cứu.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số bệnh răng miệng hay gặp ở trẻ em
1.1.1 Bệnh sâu răng
Sâu răng là bệnh lý phổ biến nhất trong các bệnh về răng miệng ở trẻ em.Thực chất đây là sự tiêu huỷ cấu trúc vôi hoá chất vô cơ (tinh thể can-xi) củamen răng và ngà răng, tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng do vi khuẩn gây ra.Sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp xequanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng, sâu răng làm giảm thẩm mỹ,gây hôi miệng, ảnh hưởng đến giao tiếp
Nguyên nhân của sâu răng là do trẻ chưa vệ sinh răng miệng sạch sẽ, do
đó ngay từ khi còn bé, các bậc phụ hunh nên chủ động phòng chống sâu răng
và hướng dẫn trẻ cách đánh răng cũng như chủ động bảo vệ răng Hãy cho bétập làm quen với nha sĩ trong những lần đi nhổ thay răng để bé không sợ mỗikhi khám răng Đặc biệt không nên cho trẻ em ăn các loại thức ăn chứa nhiềuđường Sâu răng dẫn đến viêm tủy răng, tủy chết, viêm quanh cuống răng, áp
xe quanh cuống răng, sâu răng có thể làm vỡ răng
1.1.2 Bệnh viêm lợi
Song hành cùng với bệnh sâu răng thì viêm lợi là các bệnh về răngmiệng ở trẻ em phổ biến thứ 2 Đây là 2 bệnh có quan hệ với nhau Khi lợi bịviêm sẽ đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu, miệng có mùi hôi Vì lợi bị đau nênnhiều trẻ không chịu đánh răng thường xuyên làm cho tình trạng viêm tiếp tụcnặng hơn và tạo điều kiện cho sâu răng phát triển, nếu đã có sâu răng rồi thìcàng nặng hơn
Viêm lợi còn là giai đoạn đầu của quá trình viêm quanh răng, khi bệnh
đã nặng thì lợi sẽ không còn bám chắc vào răng nữa mà hình thành các túi lợi,
Trang 12các dây chằng của răng và xương bị vi khuẩn xâm nhập, phá hủy Trong cáctúi lợi chứa đầy mảng bám cao răng và vi khuẩn Quá trình này diễn ra lâu vàkhông được điều trị sẽ làm lung lay và rụng răng.
1.1.3 Bệnh viêm loét miệng
Những chấn thương nhỏ từ miệng (do trẻ đánh răng quá nhiều), ăn nhiềuthực phẩm nhiều gia vị, có tính axit, tai nạn do cắn; các rối loạn đường ruộtnghiêm trọng; suy giảm hệ thống miễn dịch…dễ khiến trẻ bị viêm loét miệng.Viêm loét miệng là những tổn thương phát sinh ở vùng niêm mạc miệng và cổhọng gây đau đớn, rất khó chịu khi trẻ ăn, nói hoặc cử động Đặc biệt khi ănuống những thực phẩm nóng, lạnh có chất kích thích thì bé càng bị đau hơntại những vết loét và phần xung huyết xung quanh Thông thường, triệu chứngviêm loét miệng sẽ biến mất sau 1 – 2 tuần, nhưng có thể tái phát Viêm loétmiệng ảnh hưởng đến việc ăn uống của trẻ, khiến trẻ sụt kí
1.1.4 Nấm miệng
Khi hệ thống miễn dịch của trẻ suy yếu hoặc trẻ phải chịu tác động từnhững yếu tố bên ngoài, miệng trẻ sẽ có những mảng màu trắng xuất hiện trênlưỡi và những vết loét đỏ trên môi, trên vòm miệng, niêm mạc miệng, gọi lànấm miệng Khi bị nấm miệng, trẻ có thể cảm thấy rát trong miệng hoặc cổhọng Những bệnh này làm tăng lượng vi khuẩn trú ngụ trong miệng nên hoàntoàn có thể gây ra triệu chứng kèm theo là hôi miệng Điều này không nhữngkhiến trẻ khó chịu vì bệnh mà còn mặc cảm và ngại ngùng trong giao tiếp
1.2 Chương trình nha học đường tại Việt Nam
Một trong những căn bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi và chiếm một tỷ lệrất cao đó là bệnh RM đã làm cho sức khoẻ bị giảm sút, tổn hại về kinh tế và
mất đi vẻ đẹp tự nhiên của mỗi con người Đối với trẻ em, bệnh RM đã làm
ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và thẩm mỹ Muốn cho trẻ
Trang 13phát triển toàn diện và có hàm răng khoẻ, đẹp thì trẻ phải được chăm sóc răng
miệng từ nhỏ, đặc biệt là lứa tuổi học đường.
Để trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về chăm sóc SKRM, phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh RM, thì việc xây dựng cho mỗi trường học
01 phòng nha khoa dưới sự chỉ đạo của phòng giáo dục, phòng y tế và chịu sựquản lý trực tiếp của Hiệu trưởng các trường là việc làm đúng đắn, tiện lợinhất Như vậy, NHĐ là công tác chăm sóc SKRM cho trẻ em, được thực hiệntại cơ sở trường học nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ Chăm sócSKRM cho trẻ em tại trường học đó chính là chủ trương, chính sách lớn củaĐảng và Nhà nước, của ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầucho mọi người, mà ở đó có chăm sóc SKRM ban đầu Chăm sóc SKRM banđầu là những hoạt động chi phí để giúp đỡ, giữ gìn và tái lập SKRM trongcộng đồng Với tầm quan trọng và sự cần thiết là đáp yêu cầu y tế cộng đồng,lại sức khoẻ cho toàn dân với nguồn tài chính giới hạn, đây là chương trình căn bản về chăm sóc SKRM ở mọi mức độ xã hội cho các nước pháttriển.Hơn thế nữa, chăm sóc SKRM ban đầu là chương trình hợp lý được Bộ
Y tế và ngành RHM Việt Nam nhận Các hoạt động chăm sóc SKRM ban đầunếu không có con người tham gia thì sẽ thất bại Sự tham gia trong cộng đồng
là sự quan tâm giữa các thành viên trong cộng đồng với các hoạt động củachương trình chăm sóc SKRM của cộng đồng
Nội dung công tác nha học đường
Thực hiện chỉ thị công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Bộ Y tế,ngành RHM đã đưa ra 8 nội dung của chăm sóc RM ban đầu tại Việt Nam: GDSK phòng ngừa sâu răng và ung thư
Ăn uống cân bằng và hợp lý (giảm thức ăn đường bột, hạn chế ănngoàicác bữa chính)
Trang 14Sử dụng rộng rãi Fluor để phòng ngừa sâu răng: Nước uống có Fluor,dung dịch súc miệng có Fluor, kem đánh răng có Fluor
Dạy chải răng cho HS mẫu giáo, tiểu học, nhà trẻ
Chữa các bệnh RM thông thường, hàn răng sâu ngà, lấy cao răng, đánh bóng răng, nhổ răng lung lay đến tuổi thay, cấp cứu hàm mặt
Đảm bảo thuốc men tối thiểu ở các cơ sở như thuốc cấp cứu
Cải tạo môi trường nước uống có Fluor
Khám răng định kỳ, lập hồ sơ nha bạ hoặc phiếu theo dõi SKRM ở các
cơ sở NHĐ, lập kế hoạch điều trị đối với người lớn, phát hiện sớm ung thưniêm mạc miệng và hàm mặt
1.3 Thực trạng bệnh răng miệng
1.3.1 Trên thế giới
Bệnh RM là bệnh thường gặp ở tất cả các nước trên thế giới Trước đâybệnh RM rất phổ biến ở những nước phát triển vì chế độ ăn nhiều đường,đạm Theo W.R Hume cuộc cách mạng công nghiệp đã đem lại sự thay đổidạng thức ăn truyền thống của phần lớn dân số, sự giàu có và nhàn rỗi củanhững cộng đồng giàu có, rồi đến các tầng lớp kinh tế khác có cơ hội và thờigian tiêu thụ đường thường xuyên hơn, chính điều này đã tạo ra một bệnh dịchmới đó là sâu răng (SR) Những nước nghèo tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng dokhông được fluor hoá nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ănđường không đúng Những nước giàu tỷ lệ sâu răng giảm do Nhà nước coitrọng chương trình fluor hoá nước uống, thuốc chải răng có fluor, trám bít hốrãnh, coi giáo dục nha khoa là quốc sách Trong vài thập kỷ gần đây, các nướcnày đã dành 5 - 11% ngân sách của y tế cho phòng bệnh RM , ,
Trong những năm từ 1946 đến 1975, ở hầu hết các nước phát triển,
chỉ số sâu, mất, trám (SMT) của trẻ em lứa tuổi 12 nằm trong khoảng 7,4
-10,7 có nghĩa là trung bình mỗi trẻ em sâu từ 7,4 đến -10,7 răng Từ 1979
Trang 15đến 1982 chỉ số SMT của lứa tuổi 12 đã giảm hẳn còn khoảng 1,7 - 3,0 ỞSingapo năm 1960 trẻ 12 tuổi có chỉ số SMT > 4 và hiện nay còn < 0,5 ,
Nghiên cứu tại các trường phổ thông ở Italia cho thấy: ở lứa tuổi 6tuổi tỷ lệ sâu răng chiếm 52,9%; lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chiếm52% và lứa tuổi 15 có tới 68,8% bị sâu răng vĩnh viễn
Tại Thái Lan, năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12 là 58-80%
Nhìn chung ở các nước này bệnh sâu răng đều có xu hướng tăng rõ rệt
So với các nước phát triển ở thời điểm những năm 1960 - 1970, sâu răng ởcác nước đang phát triển ở mức thấp hơn nhiều (SMT lứa tuổi 12 từ 0,2-2,6) nhưng tới những năm 1970 trở đi chỉ số này tăng lên nhanh (từ 1,0 -6,3) ,
Từ 1908, Liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã quan tâm đến dựphòng sâu răng và tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa Tại các hội nghị củaFDI năm 1951, 1960 và 1966 đều đưa ra khuyến nghị về việc fluor hoá nướcuống là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả và ít tốn kém nhất Tuy nhiên vàonhững năm 60 -70 ngành Nha khoa của hầu hết các nước đều tập trung vàochữa, phục hồi SR và viêm quanh răng, công việc tốn kém, ít hiệu quả
Theo báo cáo của WHO năm 1978 hàng năm Mỹ tốn 100 triệu giờcông lao động, 9 tỷ USD cho việc chữa răng, phí tổn điều trị hơn 10 USD chomột răng ở trẻ em Chi phí cho điều trị răng một năm ở Anh là 180 triệu bảngAnh, còn ở Pháp là 8 tỷ france và 25 triệu giờ công lao động
Sau đó các nước phát triển tập trung vào phòng bệnh, coi như mộtchính sách lớn của Nhà nước và của ngành y tế Kết quả là 20 năm trở lạiđây, tỷ lệ sâu răng ở các nước Bắc Âu, Anh, Mỹ đã giảm đi một nửa Đây làmột thành tựu lớn từ đó WHO đã kêu gọi các nước chậm phát triển đẩy mạnhcông tác phòng bệnh RM như các nước phát triển đã làm Như vậy vai trò củacông tác chăm sóc răng miệng (CSRM) tại cộng đồng rất lớn
Tại Australia 50% thời gian của BS nha khoa là làm công tác phòngbệnh Kem đánh răng có fluor là biện pháp cá nhân hàng đầu, fluor hoá
Trang 16nước là biện pháp cộng đồng tốt nhất, có tác dụng ở mọi giai đoạn của sâurăng Cả hai biện pháp trên là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệ sâu răng ởAustralia
- Năm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp dự phòng sâu răng và viêmquanh răng như sau :
+ Dự phòng SR: fluor hoá nước uống, đưa fluor vào muối, súcmiệng bằng dung dịch fluor cho trẻ em, dùng kem đánh răng có fluor, trámbít hố rãnh răng, chế độ ăn dự phòng, hướng dẫn vệ sinh RM, phát hiện sớm
và điều trị dự phòng
+ Dự phòng bệnh quanh răng: Làm sạch mảng bám răng là biệnpháp can thiệp phòng chống bệnh quanh răng Đánh răng là việc làmquan trọng để làm sạch mảng bám răng
Với biện pháp dự phòng SR bằng fluor là làm tăng sức đề khángcủa răng nhờ fluor Người ta đồng ý là việc sử dụng rộng rãi các dạngfluor đã làm giảm sâu răng rõ rệt ở Mỹ và nhiều quốc gia khác Fluor hoánước uống cộng đồng giữ vai trò quan trọng do hiệu quả lâm sàng và kinh tếcủa nó Các chất bổ sung trong chế độ ăn và fluor hoá nước uống trongtrường học là các hình thức sử dụng fluor ở những nơi fluor hoá nước uốngkhông thực hiện được Fluor hoá muối ăn đang trở nên phổ biến hơn ở một
số nước như ở Mỹ, các nước tây Âu
Hiện nay fluor được công nhận là có hiệu quả đối với mọi lứa tuổi
và ngày càng trở nên quan trọng trong cộng đồng và đối với các lứa tuổi,bệnh sâu răng giảm theo nhiều hướng khác nhau Nghiên cứu trên trẻ 12 tuổi
ở Hà Lan, sự giảm sâu răng được tóm tắt như sau: “Chỉ số SMT/MR trungbình giảm đều đặn từ 8 vào năm 1965 xuống còn 1 vào năm 1993”, cho thấymức fluor trong nước là yếu tố chính quyết định tỷ lệ sâu răng ,
Những năm 1996 và 1998 chỉ số Sâu-Mất-Trám/mặt răng ở răngvĩnh viễn (SMT/MR) của trẻ lứa tuổi 12 có điều kiện kinh tế xã hội cao ởĐan Mạch rất thấp: giữa 0,4 và 0,1 Ở trẻ em có điều kiện kinh tế xã hội
Trang 17thấp, SMT/MR giữa 1,6 và 2,0, nhưng gần đây nhất, năm 2002 chỉ còn0,6 ,
Ở Tây Âu thành phần “Trám” nhiều hơn thành phần “Sâu” và “Mất”
Ở các nước công nghiệp phát triển, với mức sâu răng rất thấp, khó nhận diệnđược những thay đổi trong tỷ lệ sâu răng
Nhưng việc sử dụng fluor để phòng SR như thế nào là thích hợp cũngcần phải đặt ra Hơn hai thập niên qua, tỷ lệ toàn bộ và tỷ lệ mắc mới bệnhsâu răng giảm ở các nước phát triển, phần lớn là do sử dụng fluor rộng rãi.Song song với tỷ lệ sâu răng giảm là tỷ lệ răng nhiễm fluor tăng Các nghiêncứu về nhiễm fluor được thực hiện trong những vùng có và không có fluorhoá, đã nhận dạng được 4 yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm fluor là: sử dụngnước uống có fluor, viên fluor, kem đánh răng có fluor, và sữa đóng hộp cófluor trước 8 tuổi
Hiện nay, tại Singapore 100% dân số được fluor hoá nước uống vàgiáo dục nha khoa, 100% học sinh tiểu học và trung học cơ sở được chămsóc sức khoẻ RM thường xuyên tại trường trong chương trình NHĐ
Từ năm 1950, Trung Quốc đã có hoạt động NHĐ với nội dung giáodục chăm sóc sức khoẻ RM, khám và chữa sớm Năm 1970 thêm một sốchương trình sử dụng fluor Năm 1980 có dự án về NHĐ tại một số khu vực.Kết quả là sau 5 năm tỷ lệ sâu răng đã giảm 54% ở khu vực này Năm 1990NHĐ đã triển khai ở hầu hết các tỉnh, thành phố Năm 1988 thành lập Uỷ banQuốc gia về sức khoẻ RM, tổ chức chiến dịch truyền thông phòng bệnh trong
cả nước với sự tham gia của hàng ngàn bác sỹ
Jurate Pauraite (2003) nghiên cứu ở học sinh lứa tuổi 12-14 thấy46,7% SR bị viêm lợi Sudha P và cộng sự (2005) nghiên cứu ở học sinh 11-
13 tuổi ở Mangalore - Ấn Độ thấy 82,5% viêm lợi Cũng tỷ lệ này, theo kếtquả điều tra bệnh răng miệng của Trung Quốc, học sinh lứa tuổi 12 có tỷ lệviêm lợi là 80,0% (CPI1: 38,0%, CPI2: 52,0%)
Trang 181.3.2 Tại Việt Nam
Từ những năm của thập kỷ 60 đến 90 đã có những nghiên cứu tìnhtrạng sâu răng ở Việt Nam nói chung và ở trẻ em nói riêng cho thấy tỷ lệbệnh RM tăng dần theo lứa tuổi và tăng dần theo thời gian
Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội đã điều tra bệnh răng miệng ở Việt Namtrong 3 năm 2002 - 2005 cho thấy tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT của răng vĩnhviễn cũng tăng dần theo lứa tuổi Như vậy có sự phù hợp giữa thời gian phơinhiễm với các yếu tố nguy cơ càng dài thì tỷ lệ sâu răng càng cao
Ở lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT tăng dần theo thời gian,năm 2001 cao hơn năm 1991, năm 1991 lại cao hơn năm 1983 Chứng tỏbệnh răng miệng đang tăng dần lên ở Việt Nam điều đó cũng phù hợp vớinhận xét của WHO bệnh răng miệng đang tăng dần ở các nước đang pháttriển Hiện nay, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, họ sử dụngnhiều đường, nước ngọt, công tác phòng bệnh chưa tốt nên tỷ lệ bệnh RMtăng cao
Năm 2003, theo số liệu của Sở Y tế Hà Nội, tỷ lệ bệnh răng miệng củahọc sinh tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học là 36%, năm 2004
là 36,66%, như vậy, tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học, phổ thông
cơ sở và phổ thông trung học vẫn tăng theo thời gian
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 của Trần VănTrường, Lâm Ngọc Ấn và Trịnh Đình Hải tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ 9-
11 tuổi là 54,6% và chỉ số DMFT là 1,19 trong đó DT= 1,15; MT= 0,02;FT= 0,02 Tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12 là 56,6% và chỉ số DMFT là 1,87trong đó DT= 1,83; MT= 0,01; FT= 0,03
Năm 2004, Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh đãthông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội, có80,95% em sâu răng sữa, 30,95% em sâu răng vĩnh viễn
Năm 2006, theo kết quả nghiên cứu Bùi Thị Tuyết Anh trên trẻ 25- 60tháng tuổi tại thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản cho thấy tỷ lệ sâu răng
Trang 19chung là 55,3%; Chỉ số sâu mất trám của thành phố Nam Định là 1,65 vàhuyện Vụ Bản là 3,23
Theo nghiên cứu thực trạng mắc bệnh răng miệng và một số yếu tố liênquan ở học sinh trường Trung học Y tế Thái Bình tại tỉnh Thái Bình củaGiang Thị Thu Hà năm 2008 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh sâu răng là 59,5%, vớichỉ số DMFT = 1,24; trong đó DT = 1,13; MT = 0,07; FT = 0,04
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Đàn (2010) trên 450 học sinh, sinhviên trường Cao đẳng Y tế tỉnh Hà Nam cho thấy chỉ số sâu, mất, trám ở mứctrung bình DMFT = 1,39; trong đó DT = 1,33; MT = 0,03; FT= 0,03
Năm 1999, Nguyễn Lê Thanh đã thông báo kết quả điều tra răng miệngcủa học sinh lứa tuổi 12 tại các trường trung học cơ sở quận cầu giấy, có77,9% bị bệnh quanh răng
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc 2001, bệnh quanh răng
ở trẻ em 6- 8 tuổi là 42,7%; ở 9- 11 tuổi là 69,2%; ở 12-14 tuổi là 71,4% và15- 17 tuổi là 66,9% Như vậy, tỷ lệ bệnh quanh răng nhìn chung có chiềuhướng tăng theo độ tuổi tăng dần
Năm 2004, Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh đãthông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội, có4,76% em mắc bệnh quanh răng
Năm 2004, Nguyễn Lê Thanh công bố kết quả khảo sát bệnh răngmiệng của học sinh tiểu học từ 7-11 tuổi tại thị xã Bắc Cạn có 78,5% em
bị bệnh quanh răng
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh và Hổ Văn Dzi trênđối tượng học sinh 12 và 15 tuổi tại thị xã Thủ Dầu Một- Bình Dương chothấy tỷ lệ chảy máu lợi là 26,85% ở học sinh 12 tuổi và 27,34% ở học sinh 15tuổi; tỷ lệ có cao răng lần lượt là 59,7% và 61,7% Chỉ số nha chu (CPI 1):chảy máu lợi lần lượt là 0,78 và 0,48; (CPI 2): cao răng là 1,74 và 1,89
Trang 20Tỷ lệ răng sâu bị biến chứng của học sinh THCS là 15,1%, trong đóviêm quanh răng chiếm tỷ lệ cao nhất (13,5%) Tỷ lệ răng sâu bị biến chứng ởcác nhóm tuổi không có sự chênh lệch nhiều, cao nhất ở nhóm 12 tuổi(17,0%), thấp nhất nhóm 14 tuổi (14,4%) Sự khác biệt không có ý nghĩathống kê với p>0,05
Sau khi thăm khám lâm sàng cho 690 trẻ mầm non xã Vân Xuân, huyệnVĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi phát hiện ra 492 trường hợp trẻ bị sâurăng chiếm 71,3 % Theo phân loại mức độ sâu răng của tổ chức y tế thế giới(WHO), tỷ lệ sâu răng trên 80% được đánh giá ở mức cao, từ 50% đến 80%
là mức trung bình và dưới 50% là mức thấp, thì tỷ lệ sâu răng trong nghiêncứu của chúng tôi thuộc mức trung bình Tỷ lệ sâu răng của trẻ trong nghiêncứu có sự thay đổi theo độ tuổi của trẻ Nhóm 3 tuổi có tỷ lệ sâu răng thấpnhất (40%), cao nhất là nhóm 5 tuổi (77,5%) Tỷ lệ sâu răng của nhóm 3 tuổithấp hơn so với các nhóm còn lại là do nhóm 3 tuổi răng sữa mới hình thành,ngoài ra số lượng răng sữa của nhóm này chưa đầy đủ, đa số còn thiếu rănghàm Tỷ lệ sâu răng của trẻ ở các nhóm 4 tuổi, 5 tuổi, 6 tuổi lần lượt là71,2%, 77,5%, 72,8%, tỷ lệ sâu răng giữa các nhóm trẻ này có sự chênh lệchkhông quá lớn
Tỷ lệ răng sữa sâu cao nhất là nhóm răng 74, 75, 84, 85 hàm dưới(29,6%% - 35,9%%), tiếp theo là nhóm răng 54, 55, 64, 65 hàm trên (9,3% -13,9%) Tỷ lệ sâu răng giảm dần từ răng tiền hàm đến răng nanh và thấp nhất
là các răng cửa Như vậy, nhóm răng hàm sữa hàm dưới là nhóm mắc sâurăng nhiều nhất, tiếp đó nhóm răng hàm sữa hàm trên, răng cửa sữa là răng ít
bị sâu nhất Từ đó, giáo viên và phụ huynh cần phải quan tâm, chăm sóc đềuđến tất cả các răng của trẻ, đặc biệt là các răng hàm Mức độ sâu răng của trẻtrong nghiên cứu được đánh giá thông qua chỉ số sâu mất trám (dmft)
Chỉ số dmft chung của trẻ trong nghiên cứu là 2,12, tức là trung bình mỗitrẻ có hơn 2 răng bị tổn thương Trong tổng số 1344 răng bị sâu thì chỉ có 40
Trang 21răng của trẻ được trám lại (chiếm 2,9%) Còn lại các rất nhiều các răng bị sâu
mà không được điều trị (97,1%)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Sen cho thấy phần lớn học sinh trongnghiên cứu bị sâu răng ( 82,0%) trong đó học sinh sâu từ 3 răng trở lên chiếm
tỷ lệ cao nhất(70,7%), sâu 1 răng chiếm 15,2%, sâu 2 răng chiếm 14,0% Họcsinh 7 tuổi có tỷ lệ sâu răng cao nhất chiếm 90,5%, ngoài ra học sinh học sinh
9 và 10 tuổi đều có tỷ lệ sâu răng trên 80,0% trong số khám và tỷ lệ sâu răngthấp nhất ở học sinh 11 tuổi (71,4%) Tỷ lệ học sinh nam sâu răng là 85,3% và
tỷ lệ học sinh nữ sâu răng là 78,6%
1.4 Kiến thức thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng
1.4.1 Trên thế giới
Theo Wyne AH và cộng sự (2004) nghiên cứu trên học sinh nam cótrung bình độ tuổi là 13,3 tuổi tại Saudi cho thấy hầu hết học sinh nghĩ rằngcác loại đồ ngọt là nguyên nhân gây sâu răng chiếm 97,2% Hơn một nửa(53,1%) số học sinh nói rằng chính nha sỹ đã dạy họ cách chải răng đúngcách Tuy nhiên có tới 11,5% học sinh không được dạy cách chải răng đúng.40% học sinh chỉ đến khám nha sỹ khi bị đau răng
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Ernesto Symth, FranciscoCaamano và Paula Fernandez- Riveiro trên 1105 học sinh lứa tuổi 12 tại TâyBan Nha cho thấy 47% học sinh trả lời đúng là chất đường gây sâu răng;87,7% biết sâu răng là căn bệnh phá hủy răng; 14,6% cho rằng sâu răng sẽlàm hôi miệng Để phòng chống bệnh sâu răng 79,8% cho rằng cần phải vệsinh răng miệng tốt; 66,1% cho rằng cần phải hạn chế đồ ngọt; 39,8% cầnphải sử dụng flouride; 35,4% cho rằng cần phải đi khám răng định kỳ
Theo Mahmoud K.Al- Omini và cộng sự (2006) nghiên cứu ở 557 họcsinh độ tuổi trung bình 13,5 ở một trường học phía bắc Jordan, báo cáo chothấy 83,1% học sinh có sử dụng bàn chải và kem đánh răng để vệ sinh răng
Trang 22miệng; 36,4% chải răng buổi sáng; 52,6% chải răng buổi tối trước khi đi ngủ
và 17,6% chải răng cả sáng và tối trước khi đi ngủ Có 66% học sinh đi khámrăng định kỳ; 46,9% chỉ đến nha sỹ khi đau răng và 20,1% ít khi hoặc khôngbao giờ đến nha sỹ
Theo Ling Zhu (2003) nghiên cứu trên 4400 học sinh từ 12- 18 tuổi ởTrung Quốc cho thấy 44% học sinh chải răng ít nhất 2 lần/ngày nhưng chỉ có17% sử dụng kem đánh răng có flour; 29% học sinh 12 tuổi chỉ đến khám bác
sỹ khi răng bị đau ,
1.4.2 Tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Thành, nghiên cứu tại thị xãHưng Yên năm 2007 ở học sinh 6 tuổi cho thấy: trẻ em biết mình bị sâu răngchiếm tỷ lệ 18,38% và 81,62% không biết mình bị sâu răng; 25,05% cha/ mẹhọc sinh không biết con mình bị sâu răng; 20% cha/mẹ không nhắc con vệsinh răng miệng hàng ngày
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy (2009), quận Tây Hồ, HàNội ở học sinh tiểu học cho thấy: Kiến thức cha mẹ về phòng chống sâu răngcho con đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 69,3%, thực hành của cha, mẹ về phòngchống sâu răng cho con chiếm tỷ lệ 59,1%
Viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh đã có những điều tra vềnhững kiến thức và thực hành của người dân về chăm sóc sức khỏe răngmiệng và kết luận có 70-80% số người chưa bao giờ đến phòng khám chuyênkhoa RHM (kể cả phòng khám tư nhân) mặc dù họ có bệnh sâu răng, caorăng, viêm lợi…, trong số bệnh nhân có điều trị sâu răng thì 60% số ngườikhông biết người sẽ khám, điều trị răng cho mình là ai? chỉ có 40% số người
là biết có cơ sở RHM của nhà nước, có 30% số người không có bàn chải đánhrăng mà phải dùng chung với người khác Có nhiều nơi phải đi xa hàng ngàyđường mới tới được cơ sở khám chữa bệnh về răng miệng
Trang 23Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tước tại Tiên Du, Bắc Ninhnăm 2008 ở học sinh khối lớp 6 cho thấy: học sinh có kiến thức phòng sâurăng đạt 37,7% và 29,9% học sinh thực hành phòng sâu răng đạt yêu cầu.Quan sát học sinh thực hành chải răng thấy: 92,9% học sinh đưa bàn chảikhông đúng cách, 100% các em khi đánh răng đều chải mặt ngoài, chỉ có40,9% chải mặt nhai và 25,3% học sinh chải đủ 3 mặt răng Thời gian chảirăng: Học sinh chải răng trong khoảng 1-2 phút chiếm 25,1%; 36,4% chảitrong thời gian dưới 1 phút; 6,5% chải răng từ 2- 3 phút; không có học sinhnào chải từ 3 phút trở lên Thực hành phòng chống sâu răng cho con củacác bà mẹ đạt yêu cầu 40,9% và 59,1% cha mẹ thực hành phòng chống sâurăng cho con chưa đạt
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nghĩa và cộng sự năm
2011 tại tỉnh Yên Bái cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành phòng chốngbệnh răng miệng của học sinh tiểu học người Mông còn thấp Tỷ lệ trả lờiđúng về nguyên nhân của bệnh đạt 35,69%, về các dấu hiệu phát hiện bệnhrăng miệng chiếm 45,62%, cách phòng bệnh răng miệng chiếm 43,14% Các
em học sinh ở nơi đây không thường xuyên đƣợc quan tâm, hỗ trợ giáo dục,truyền thông, hướng dẫn phương pháp thực hành vệ sinh răng miệng nên đãphần nào ảnh hưởng sức khỏe của học sinh Học sinh có thái độ tốt trongphòng chống bệnh răng miệng chiếm 52,48%, học sinh có thực hành tốt trongphòng bệnh răng miệng chiếm 28,62%
Những kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy các bệnh về răng ở ViệtNam là rất phổ biến, mọi người đều có thể mắc bệnh và đó là mối quan tâmkhông chỉ của các nhà y khoa mà nó còn là vấn đề của toàn xã hội
1.5 Hệ thống chăm sóc y tế tại Điện Biên
Thực hiện nghị định 13, 14/NĐ-CP của chính phủ ( nay là nghị định 24
và 37/NĐ-CP) Về tổ chức y tế địa phương ; Quyết định số : 279/QĐ-UBND
Trang 24ngày 25/4/2014 của UBND tỉnh, về việc điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch Pháttriển ngành Y tế tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014-2020 và tầm nhìn đến 2030;
Kế hoạch số : 1576/KH-UBND ngày 03 tháng 06 năm 2016 của UBND TỉnhĐiện biên kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giaiđoạn 2016 - 2020, tỉnh điện biên quyết định số: 211/QĐ-UBND ngày 16tháng 3 năm 2018 của ubnd tỉnh điện biên V/v phê duyệt “đề án xây dựng vàphát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh điện biêntheo quyết định số 2348/QĐ-TTG ngày 05/12/2016 của thủ tướng chính phủ,giai đoạn 2018 - 2025” Công tác KCB cho nhân dân đã được cải thiện nhiều,tuy nhiên vẫn còn nhiều những khó khăn thách thức
Mạng lưới y tế Tỉnh đã được đầu tư và phát triển về cơ sở hạ tầng, trangthiết bị, cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy, cán bộ chuyên môn cả về sốlượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng nhu cầu công tác bảo vệ và chăn sóc sứckhỏe nhân dân Tổng số có 05 bệnh viện tuyến tỉnh với 830 giường bệnh,tuyến huyện thị, thành phố có: 10 Trung tâm y tế (quản lý 09 bệnh việnhuyện, 10 Đội YTDP, 10 Đội SKSS, 18 PKĐKKV và 130 trạm y tế xã với với
999 giường bệnh.) Toàn tỉnh (cả y tế công lập và ngoài công lập) Tỷ lệ Bácsỹ/vạn dân là 12,2; Tỷ lệ Dược sỹ đại học/vạn dân là 1,34; Tỷ lệ trạm y tế xã
có bác sĩ làm việc 86,9%; Tỷ lệ trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi97,7%; Tỷ lệ xã có Dược sĩ trung cấp, dược tá 47%; tỷ lệ xã có Điều dưỡng51,5%; Tỷ lệ Trạm Y tế có Y Sĩ YHCT 83,1%; Tỷ lệ thôn bản có NVYTTBhoạt động 96,9% và cô đỡ thôn bản 30,2% ,
Trong nhiều năm qua, tình trạng sức khỏe của người dân tỉnh Điện Biêntiếp tục có những cải thiện đáng kể, thể hiện qua các chỉ số sức khỏe cơ bản:Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh tiếp tục tăng hàng năm, từ 66,3 tuổi năm 2010lên 67,4 tuổi năm 2015 (64,5 tuổi ở nam và 70,4 tuổi ở nữ); Tỷ suất tử vongtrẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 36,6 ‰ năm 2011 xuống còn 32,8‰ năm 2015; Tỷ
Trang 25suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 45,9 ‰ năm 2011 xuống còn 38,2‰năm 2015; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ22,03% năm 2011 xuống 18,84% năm 2015 Tuy nhiên, vẫn có tình trạngchênh lệch cao về các chỉ số sức khỏe cơ bản giữa tỉnh Điện Biên với toànquốc, như: Tuổi thọ trung bình thấp hơn toàn quốc 5,9 tuổi, tỷ suất tử vong trẻ
em dưới 1 tuổi cao gấp 2,23 lần, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi cao gấp1,73 lần, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 1,34lần so với toàn quốc
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng như tại tỉnh hiện nay đang phải đốidiện với mô hình bệnh tật “kép”, bên cạnh gánh nặng của các bệnh lây nhiễm,một số dịch bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện và diễn biến khó lường, các bệnhkhông lây nhiễm có xu hướng ngày càng tăng
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ,ngành Trung ương, đặc biệt là sự quan tâm của Bộ Y tế, công tác y tế của tỉnh
đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ và cơ bản đạt các mục tiêu, chỉ tiêu y
tế trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh XII nhiệm kỳ 2010 - 2015, như: Hệthống y tế từ tỉnh đến xã và thôn, bản được củng cố, các cơ sở khám chữabệnh đã được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo cán bộchuyên khoa, người bệnh đã được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượngngày càng cao Tình hình dịch bệnh ổn định, các loại bệnh truyền nhiễm gâydịch được khống chế; các chỉ số sức khỏe được cải thiện, góp phần thànhcông chung trong ổn định an ninh, chính trị; xóa đói, giảm nghèo và phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh
- Mạng lưới khám, chữa bệnh từ tỉnh đến xã được quan tâm đầu tư,từng bước nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị; chất lượng dịch vụkhám chữa bệnh từng bước được cải thiện
- Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh
Trang 26trong toàn tỉnh Thực hiện tốt các quy định về thủ tục khám chữa bệnh tại cáctuyến Đặc biệt là công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6tuổi và các đối tượng chính sách Sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị sẵn cóphục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện; một số kỹ thuật mớiđược chuyển giao, thực hiện tại các bệnh viện theo đề án bệnh viện vệ tinh và
đề án 1816 Y đức, tinh thần thái độ phục vụ và quy tắc ứng xử của nhân viên
y tế được nâng lên, không có tình trạng bức xúc, khiếu kiện của người dân về
y đức và tinh thần thái độ phục vụ, ứng xử của nhân viên y tế Hằng năm đãkhám bệnh cho trên 962.000 lượt bệnh nhân; điều trị nội trú cho trên 81.700lượt, điều trị ngoại trú cho trên 5.600 lượt, kê đơn cấp thuốc tuyến xã trên406.000 lượt; tăng cường công tác khám chữa bệnh ngoại trú thông qua cácđợt khám ngoại viện; trung bình 1 người dân được khám 1,82 lượt/năm Thựchiện các dịch vụ theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên đáng kể, từ50% năm 2010 lên 84,1% năm 2015
- Công tác Y dược cổ truyền: Công tác khám chữa bệnh y học cổ truyềnđược thực hiện ngày càng có hiệu quả, đặc biệt sự kết hợp giữa y học cổ truyền
và y học hiện đại Hằng năm đã thực hiện khám bệnh bằng y học cổ truyền chotrên 190 nghìn lượt bệnh nhân Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT, kết hợpYHCT với y học hiện đại chiếm 19,7% so với tổng số lần khám bệnh toàn tỉnh
Các bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã đãđược đầu tư, nâng cấp, xây mới; 100% xã, phường thị trấn có trạm y tế; Chấtlượng cán bộ y tế cơ sở đã được nâng cao, cơ cấu cán bộ dần được đảm bảo,thể hiện qua tỷ lệ nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi, y sĩ y học cổ truyền, dược đượctăng dần qua các năm Hiện nay đã đảm bảo 100% xã có cán bộ y tế, mỗi trạm
y tế xã có từ 5 - 6 cán bộ (định biên cán bộ theo Thông tư liên Bộ số08/2007/TTLB-BYT-BNV ngày 05/6/2007) Trên 90% các thôn, bản (trừ tổdân phố) có nhân viên y tế thôn bản hoạt động; chất lượng hoạt động của y tế
Trang 27cơ sở được nâng lên, đã thực hiện tốt việc chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân Thực hiện có hiệu quả Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã, đến hết năm
2015 đã có 44/130 xã đạt bộ tiêu chí, chiếm tỷ lệ 33,8%
Thành phố Điện Biên Phủ là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Điện Biên,
có diện tích tự nhiên là 64,711 km2, dân số trên 56.000 nhân khẩu, bao gồm13.900 hộ, với 9 xã, phường và 164 phố, bản, tổ dân phố, có 13 dân tộc Đây
là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của tỉnh Điện Biên Giao thôngthuận tiện, trình độ dân trí cao, đời sống của cán bộ, nhân dân có nhiều thuậnlợi so toàn tỉnh Thành phố Điện Biên Phủ là nơi nhiều cơ quan ban ngành củaTỉnh, Nhiều Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến, Các Trung tâm y tếchuyên khoa Tuyến Tỉnh đóng trên địa bàn Thành phố Nhu cầu của ngườidân về chăn sóc và khám bệnh, chữa bệnh là rất lớn, tuy nhiêm đây là nhữnghạn chế và khó khăn trong chăn sóc và khám bệnh., chữa bệnh của các TYT
và Bệnh viện Thành phố do bị hạn chế về tiếp cận và sử dụng các dịch vụtrong khám chữa bệnh, trong số những người ốm vẫn còn một số người khôngđến khám bệnh, chữa bệnh tại TYT và Bệnh viện Thành phố Vậy, các yếu tốlàm ảnh hưởng, hạn chế người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ trong khámchữa bệnh là do: Trạm y tế xã, Phường không đáp ứng hoặc hạn chế đáp ứngyêu cầu các kỹ thuật khám chữa bệnh của nhân dân, vì thiếu cán bộ y tế trình
độ chuyên môn của cán bộ y tế còn hạn chế, không được đào tạo nâng cao; Vì
cơ sở hạ tầng chật hẹp, thiếu trang thiết bị, thiếu thuốc vì thiếu kinh phí; thiếudanh mục kỹ thuật chưa được phê duyệt; khung giá trạm phí chưa có hoặcchưa phù hợp, còn thiếu nhiều
Trung tâm Y tế thành phố Điện Biên Phủ là đơn vị sự nghiệp có chứcnăng hoạt động phòng chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình mục tiêu
y tế và khám chữa bệnh trực thuộc Sở y tế tỉnh Điện Biên, Trung tâm y tếthuộc đơn vị hạng III (theo phân tuyến bệnh viện theo TT 23/BYT), gồm có
Trang 28Ban giám đốc, hệ thống mạng lưới bao gồm; Có 9 trạm y tế xã phường, 1phòng khám đa khoa khu vực thanh trường; 2 đội y tế Dự phòng và đội chămsóc sức khỏe sinh sản; Bệnh viện hạng III trực thuộc TTYT với 4 phòng chứcnăng; (1) Phòng Kế hoạch nghiệp vụ, vật tư y tế- trang thiết bị; (2) Phòng tổchức hành chính; (3)Phòng Tài chính kế toán; (4) Phòng điều dưỡng Có 9khoa gồm: (1) Khoa nội- Y học cổ truyền, phụ hồi chức năng; (2) Nhi - Hồisức cấp cứu, Chống độc; (3) Khoa ngoại tổng hợp - chuyên khoa; (4) khoa sảnphụ khoa; (5) Khoa Truyền nhiễm;(6) khoa khám bệnh; (7) khoa dược;(8)Khoa cận lâm sàng; (9) Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn;
Y tế tuyến xã có 9 TYT xã, Phường trong đó có 2 xã và 7 phường vàchịu sự quản lý toàn diện của TTYT Thành phố về công tác nhân lực, biênchế ; Phòng chống dịch ; các chương trình mục tiêu y tế ; Khám chữa bệnh,
có 27 gường lưu ; và có 27 nhân viên y tế thôn bản ; (các tổ dân phố không
có y tế) 9 TYT xã, Phường đã đạt 100 % tiêu chí quốc gia về y tế từ năm
2017 theo quyết định số : 4667/QĐ-BYT Có 2 xã đạt tiêu chí Nông thônmới năm 2017 ; Tiêu chí về chăn sóc sức khỏe nhân, nhưng các tiêu chí vềKhám chữa bệnh là hết sức quan trọng vì TYT xã là nơi gần dân, là cơ sở y
tế mà người dân tiếp xúc ban đầu của người bệnh, do đó cần có chủ trươngchính sách phù hợp để phát huy hệ thống y tế tuyến xã, đặc biệt những TYT
có bác sỹ công tác , ,
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện tại 2 trường tiểu học tại thành phố ĐiệnBiên Phủ, tỉnh Điện Biên Bao gồm: Trường tiểu học Hà Nội và trường tiểuhọc Noong Bua
- Trường tiểu học Hà Nội- Điện Biên: là trường tiểu học ở trung tâmthành phố Điện Biên Học sinh chủ yếu là con cán bộ công chức nhà nước, cómức sống tương đối cao, thói quen sinh hoạt của từng gia đình rất đa dạng.Điều kiện kinh tế cao, khả năng tiếp cận với các thông tin văn hóa, xã hội vàsức khỏe đầy đủ hơn
- Trường tiểu học Noong Bua: là trường tiểu học ở vùng ven của thànhphố, Trường cũng nằm ở khu vực dân cư đông đúc nhưng điều kiện kinh tếcủa các hộ gia đình ở đây chủ yếu là làm nông nghiệp và những hộ tái định cưcủa thủy điện Lai Châu, đời sống kinh tế khó khăn, thói quen sinh hoạt cũngnhư sự hiểu biết về các bệnh răng miệng còn rất hạn chế
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu định lượng:
Học sinh của hai trường tiểu học tại địa bàn nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Học sinh có mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Học sinh hai trường tự nguyện tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các học sinh từ chối tham gia nghiên cứu
- Các học sinh vắng học tại thời điểm nghiên cứu
Trang 30+ Nghiên cứu định tính:
- Hiệu trưởng
- Giáo viên chủ nhiệm các lớp
- Nhân viên y tế trường
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2018 đến tháng 2/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích nhằm xác định tỷ lệmắc các bệnh về răng miệng và một số yếu tố liên quan; Đánh giá kiến thức,thực hành và phòng chống bệnh răng miệng của các học sinh và công tácquản lý chăm sóc bệnh răng miệng học sinh
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
a Cỡ mẫu nghiên cứu
α
p)(1pZ
n
Trong đó:
- α: Mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)
- Z(1-α/2) : Giá trị Z thu được tương ứng với α=0,05; Z(1-α/2) = 1,96
- d: Sai số tuyệt đối, trong nghiên cứu này chọn d=0,05
- p: Chọn giá trị p (là tỷ lệ học sinh tiểu học có bệnh răng miệng) bằng 0,77theo nghiên cứu của Trần Tấn Tài năm 2016
- de: hệ số thiết kế mẫu, được tính bằng 1,2
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu là 327 học sinh, cộng thêm 10%
đối tượng được cỡ mẫu nghiên cứu là 360 học sinh.
Trang 31b Phương pháp chọn mẫu
+ Chọn trường:
Lập danh sách tất cả các trường tiểu học trên địa bàn thành phố ĐiệnBiên Phủ, tỉnh Điện Biên Sau đó bốc thăm ngẫu nhiên 2 trường để điều tra
+ Chọn đối tượng nghiên cứu:
Mỗi trường bao gồm 5 khối lớp từ lớp 1 đến lớp 5 Tại mỗi trường tiếnhành điều tra 180 học sinh ở tất cả các khối lớp, do đó mỗi khối chọn ngẫunhiên 1 lớp để đưa vào nghiên cứu
Tiến hành khám răng cho toàn bộ số học sinh tại lớp được chọn vàonghiên cứu, sau đó phỏng vấn kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượngtrong việc phòng chống bệnh răng miệng
2.3 Các chỉ số và biến số trong nghiên cứu
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
+ Tuổi, giới; dân tộc
+ Khối lớp
- Thực trạng bệnh răng của học sinh:
+ Tỷ lệ sâu răng theo giới
+ Tỷ lệ sâu răng theo trường
+ Tỷ lệ sâu răng theo khối lớp
+ Tỷ lệ sâu răng cửa và răng nanh
+ Tỷ lệ sâu răng hàm
+ Tỷ lệ răng trám
+ Tỷ lệ sâu răng mất trám
+ Tỷ lệ sâu hỗn hợp cả răng nanh và răng hàm
+ Chỉ số cao răng (CI-S)
+ Chỉ số cặn bám răng (DI-S)
Trang 32+ Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI-S)
+ Chỉ số lợi (GI)
- Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh răng miệng
+ Tỷ lệ học sinh được biết về bệnh răng miệng và nguồn thông tin+ Tỷ lệ học sinh biết về nguyên nhân sâu răng
+ Tỷ lệ học sinh biết biểu hiện của bệnh sâu răng
+ Tỷ lệ học sinh biết hậu quả của bệnh sâu răng
+ Tỷ lệ học sinh biết cách phòng bệnh sâu răng
+ Tỷ lệ học sinh biết cách chải răng
+ Tỷ lệ học sinh biết khoảng thời gian nên đi khám răng định kỳ
+ Tỷ lệ học sinh biết loại thức ăn có hại cho răng
+ Thái độ của học sinh về sự cần thiết của việc khám răng định kỳ+ Thái độ của học sinh về sự quan trọng của việc chải răng hàng ngày+ Thái độ của học sinh về sự quan trọng của súc miệng sau khi ăn + Số lần đi khám răng của học sinh trong năm qua
+ Tỷ lệ học sinh có bàn chải riêng
+ Khoảng thời gian thay bàn chải của học sinh
+ Tỷ lệ học sinh có chải răng hàng ngày
+ Số lần chải răng trong ngày
+ Thời điểm chải răng của học sinh
+ Các cách chải răng của học sinh
+ Mức độ sử dụng đồ ngọt của học sinh
+ Tần suất sử dụng đồ ngọt trong ngày của học sinh
+ Ý kiến về công tác quản lý bệnh răng miệng tại địa phương hiện nay+ Ý kiến về những hoạt động chăm sóc, quản lý nha học đường tạinhà trường
+ Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện nha học đường tại
Trang 33nhà trường
+ Đề xuất giải pháp cải thiện công tác chăm sóc bệnh răng miệng chohọc sinh tiểu học hiện nay
2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.4.1 Khám phát hiện các bệnh về răng miệng
Khám phát hiện học sinh mắc các bệnh về răng miệng theo quy trình của
Bộ Y tế, và các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh răng miệng của WHO năm 1997
- Đoàn khám gồm các bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt, căn cứ vàocác dấu hiệu lâm sàng và tiền sử bệnh tật
- Các bác sỹ đã được tập huấn và thống nhất phương pháp
- Các điều tra viên đã được tập huấn cách ghi nhận tình trạng răng
- Khám răng tất cả các học sinh tại các lớp được chọn vào nghiên cứu(theo phụ lục 2), ghi mã số về tình trạng răng theo mẫu phiếu điều tra sứckhỏe răng miệng
Tiến hành khám cho học sinh được thực hiện bởi các bác sỹ chuyênkhoa răng hàm mặt và các kỹ thuật viên, kết hợp với sự hỗ trợ của cô giáochủ nhiệm của các lớp
- Khi vào khám răng, học sinh mang theo phiếu điều tra trong đó baogồm phiếu khám răng và phiếu phỏng vấn
+ Phương pháp khám và xác định:
- Khám răng:
Răng sâu: Có lỗ sâu ở bất kỳ vị trí nào của răng (mặt ngoài, mặt trong,mặt nhai, mặt gần, mặt xa) thám châm thăm khám mắc trên răng
Răng mất: Những răng bị mất do sâu hoặc do nguyên nhân khác
Răng trám (hàn): Tất cả các răng đã được hàn bằng bất cứ vật liệu gì(Composite, Ciment các loại, Amalgame, ) [52], [53]
- Khám tình trạng quanh răng:
Trang 34Khám túi lợi và mảng bám răng: Khám thăm dò mỗi răng chỉ số tại 6điểm: ngoài gần, ngoài giữa, ngoài xa, trong gần, trong giữa, trong xa.
+ Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI- S): khám tình trạng mảngbám trên răng của học sinh tại các răng chỉ số: Khám mặt ngoài các răng: 16,
26, mặt trong các răng 36, 46 và mặt ngoài hai răng cửa 11, 31 [20]
+ Chỉ số lợi (GI): đánh giá màu sắc lợi, độ săn chắc lợi, chảy máu lợi
- ĐTV đọc từng câu hỏi trong phiếu điều tra để học sinh hiểu và trảlời Sau khi học sinh điền xong câu thứ nhất thì chuyển sang câu thứ hai vàtiếp tục cho đến câu hỏi cuối cùng
- Sau khi các học sinh đã trả lời hết các câu trong phiếu điều tra, ĐTVnhận lại phiếu từ các em học sinh và kiểm tra lại các thông tin trong phiếu.Nếu phiếu điều tra còn thiếu thông tin hoặc trả lời không hợp lệ, ĐTV giảithích thêm để học sinh hoàn tất các câu hỏi trong phiếu điều tra
2.5 Các tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn đánh giá sâu răng :
- Sâu răng: Răng có chấm đen, có lỗ mắc thám trâm khi thăm khám ở bất kỳ vịtrí nào trên răng
- Răng đã trám không sâu hoặc có sâu tái phát
- Răng mất không còn trên cung hàm do sâu
Trang 35+ Chỉ số OHI-S: Là chỉ số dùng để đánh giá tình trạng vệ sinh răngmiệng đơn giản của cá nhân và cộng đồng:
Điểm 0: Không có mảng bám (không có vôi răng trên nướu)
Điểm 1 Cặn bám phủ không bám quá 1/3 mặt răng
Điểm 2 Cặn bám phủ hơn 1/3 nhưng không quá 2/3 mặt răng
Điểm 3 Cặn bám phủ hơn 2/3 mặt răng, hoặc có vôi răng
dưới nướu+ Chỉ số GI: Sử dụng để xác định tỷ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọngcủa viêm lợi trong các chương trình điều tra sức khỏe răng miệng:
Điểm 0: Không có mảng bám hoặc vết dính
Điểm 1 Mảng bám ≤ 1/3 bề mặt răng hoặc có vết dính mà
không có mảng bám
Điểm 2 Mảng bám > 1/3 bề mặt răng và ≤ 2/3 bề mặt răng
+ Chỉ số DI
Điểm 0: Không có cao răng
Điểm 1 Cao răng không bám quá 1/3, cao răng dưới lợi
Điểm 2 Cao răng bám hơn 1/3 nhưng không quá 2/3
Điểm 3 Cao răng bám hơn 2/3 răng
* Các tiêu chuẩn đánh giá
Trang 36Vệ sinh răng miệng tốt 0,0 - 1,2
Vệ sinh răng miệng trung bình 1,3 - 3,0
Trang 372.6 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu sau khi điều tra được làm sạch thô và nhập vào máy vi tínhbằng phần mềm EPI-DATA, sau đó chuyển sang phần mềm SPSS 22.0 để xử
lý theo các thuật toán thống kê y học:
- Kết quả thu được sau khi xử lý số liệu được trình bày dưới dạng cácbảng, biểu đồ
+ So sánh 2 tỷ lệ sử dụng test Khi bình phương (giá trị p<0,05 được coi
là có ý nghĩa thống kê)
+ So sánh hai giá trị trung bình sử dụng t-test
+ Tính tỷ suất chênh OR; 95%CI của OR để xác định một số yếu tố liênquan đến bệnh răng miệng của học sinh
2.7 Hạn chế sai số
Các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong bảng hỏi rõ ràng
Thiết kế bộ câu hỏi có hệ thống và dễ hiểu để đối tượng của nghiên cứu
dễ dàng trả lời
Điều tra viên là những người có kinh nghiệm điều tra và được tập huấnđầy đủ về nội dung và cách thức thu thập thông tin trước khi tiến hành thuthập thông tin tại thực địa
Đoàn khám răng là những cán bộ y tế có chuyên môn
Trước khi khám và phỏng vấn, điều tra viên phải giải thích rõ mục đích,
ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra với đối tượng để họ hiểu và sẵnsàng hợp tác Có như vậy mới đảm bảo tính chân thực của số liệu
Tổ chức giám sát chặt chẽ trong quá trình điều tra Tuân thủ nghiêmngặt quy trình kiểm tra, làm sạch số liệu trước khi phân tích
Trang 382.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội đồng Đạo đức của trườngĐại học Y Dược Thái Bình trước khi tiến hành nghiên cứu
- Đảm bảo quyền “tự nguyện tham gia” của các đối tượng
- Những đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích
và nội dung triển khai nghiên cứu, chỉ đưa vào nghiên cứu những đối tượng tựnguyện, nếu từ chối hoặc bỏ cuộc thì loại khỏi nghiên cứu
- Các điều tra viên được tập huấn về kĩ năng giao tiếp Khi điều traxong các điều tra viên sẵn sàng tư vấn cho đối tượng tham gia phỏng vấn
- Các dữ liệu, thông tin thu thập trong đề tài được cam kết dùng chomục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ một mục đích nào khác
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học
Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Hà Nội – Điện Biên (n=197)
Noong Bua (n=184) Chung (n=381)
Nhận xét : Qua bảng 3.1 ta thấy tỷ lệ nam giới ở cả 2 trường đều cao
hơn nữ giới, trường tiểu học Hà Nội - Điện Biên số học sinh nam là 110 họcsinh chiếm 55,8% và học sinh nữ là 87 chiếm 44,2% Trường tiểu học NoongBua có số học sinh nam là 105 học sinh chiếm 57,1% và 79 học sinh nữchiếm 42,9% Dân tộc chiếm chủ yếu ở cả 2 trường đều là dân tộc Kinh, tỉ lệnày ở trường tiểu học Hà Nội - Điện Biên là 93,9% trong khi ở trường tiểuhọc Noong Bua là 71,2% Trường tiểu học Hà Nội - Điện Biên có tỉ lệ dân tộcThái và Mông lần lượt là 3,6% và 0,5%; tỉ lệ 2 dân tộc này ở trường tiểu họcNoong Bua lần lượt là 25,6% và 1,6% Còn lại là một số dân tộc khác
Trang 40Bảng 3.2: Tỷ lệ học sinh bị sâu răng theo giới tính (n=381)
Nhận xét : Qua bảng 3.2 về tỷ lệ sâu răng theo giới tính trong nhóm
học sinh là nam, số học sinh bị sâu răng là 132 học sinh chiếm 61,4% và sốhọc sinh không bị sâu răng là 83 học sinh chiếm 38,6% Với nhóm học sinh là
nữ, số học sinh bị sâu răng là 110 học sinh chiếm 66,3% và số không bị sâurăng là 56 chiếm 33,7% sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê vớip>0,05
Bảng 3.3: Tỷ lệ học sinh bị sâu răng theo trường và khối lớp