Cả hai sông này đều bắt nguồn từ miền rừng núiAcmênia chảy qua lãnh thổ nước Irắc ngày nay rồi đổ ra vịnh Ba Tơ Pécxích.Trong khi Lưỡng Hà là một vùng màu mỡ thuận lợi cho cuộc sống của
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Vấn đề 1: Khái niệm “ văn hóa “ , “ văn minh “?
1 Văn minh là gì?
- Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần của xãhội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa Trái với vănminh là dã man
Ví dụ: văn minh phương Đông, văn minh Hy Lạp
- Chữ văn minh trong tiếng Pháp civilisation, trong tiếng Anh làcivilization, còn có nghĩa là hoạt động khai hóa, làm thoát khỏi trạng tháinguyên thủy Khi định nghĩa văn minh người ta đã đề cập đến một khái niệmmới, đó là văn hóa
- Đến giữa thế kỉ XIX do sự phát triển của xã hội học, dân tộc học… khái niệmvăn hóa đã thay đổi Người đầu tiên đưa ra định nghĩa mới về văn hóa là Taylor,nhà nhân loại học đầu tiên của nước Anh Ông nói “văn hóa là một tổng thểphức tạp bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phongtục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” Sau
đó, các học giả đã đua nhau đưa ra những định nghĩa về văn hóa Trên cơ sở ấy,người Nhật Bản đã dùng hai chữ văn hóa để dịch chữ culture của phương Tây
Và do đó, chữ văn hóa mới có nghĩa như ngày nay
- Hiện nay đa số các học giả cho rằng: văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.Hay nói cách khác,văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra trong quá trình hoạt động, lao động, sản xuất, thông qua sự tương tác vớimâu thuẫn tự nhiên và mâu thuẫn xã hội
· Tóm lại, các khái niệm văn hóa, văn minh và văn hiến ngoài những nghĩariêng biệt không lẫn lộn được như đối với từng cá nhân, chỉ có thể nói trình độvăn hóa không thể nói trình độ văn minh, ngược lại đối với xã hội chỉ có thể nóithời đại văn minh, không thể nói thời đại văn hóa, nói chung ba thuật ngữ này
có nghĩa rất gần nhau Chỗ khác nhau là, văn minh là giai đoạn phát triển cao
Trang 2của văn hóa, còn văn minh và văn hiến khác nhau ở chỗ văn minh là một từ mới
du nhập, còn văn hiến là một từ cổ ngày nay không dùng nữa
Vấn đề 2 : Văn minh Ai Cập
1. Cơ sở hình thành nền văn minh Ai Cập
- Địa hình Ai Cập được chia làm hai khu vực rõ rệt là thượng và hạ Ai Cập.Thượng Ai Cập là dãy thung lũng dài và hẹp, có nhiều núi đá; hạ Ai Cập là vùngchâu thổ đồng bằng sông Nile Lãnh thổ Ai Cập hầu như bị đóng kín, phía Tâygiáp sa mạc Libi, phía Đông là Hồng Hải, phía Bắc là Địa Trung Hải, phía Namgiáp sa mạc Nubi và Êtiôpia
- Cách đây khoảng 12.000năm, trên lưu vực châu thổ sông Nile, đã cónhững nhóm người sinh sống Cư dân Ai Cập cổ bao gôm các bộ lạc từ ĐôngBắc châu Phi và Tây Á đến Họ quần tụ lại cùng tồn tại và trở thành chủ nhâncủa nền văn minh rực rỡ ở phương Đông - văn minh Ai Cập
- Sông Nile là một trong những con sông lớn nhất thế giới (6.700km), phầnchảy qua Ai Cập là 700km Sông Nile có nguồn nước giàu phù sa, bồi đắp nênnhững vùng đất màu mỡ Lưu vực sông còn có một quần thể thực vật phongphú, đặc biệt là cây Papyrut Sông Nile còn cung cấp một lượng thủy sản phongphú và là huyết mạch giao thông quan trọng Vì vậy có thể coi Ai Cập chính là
“tặng vật của sông Nile”
2. Sơ lược về thời kì lịch sử Ai Cập
- Lịch sử Ai Cập có thể chia 5 thời kì với sự tồn tại của 30 vương triều:
· Thời kỳ tạo vương quốc (32000- 3000 năm TCN)
· Thời kỳ cổ vương quốc (3000- 2200 TCN)
· Thời kỳ trung vương quốc (2200-1570 TCN)
· THời kỳ tân vương quốc (1570- 1100 TCN)
· Ai Cập từ thế kỉ X - I TCN
ØTừ thế kỉ X TCN, Ai Cập hết bị chia cắt lại bị ngoại tộc thống trị
Trang 3ØTừ năm 525 TCN, Ai Cập bị nhập vào đế quốc Ba Tư ở Tây Á.
ØNăm 332 TCN, Ai Cập bị Alếchxăngđrơ ở Makêđônia chinh phục
Ø Từ 305-30 TCN, Ai Cập thuộc quyền thống trị của một vươngtriều Hy Lạp gọi là vương triều Ptôlêmê (305-30 TCN)
3 Những thành tựu văn minh:
b Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc:
Nghệ thuật kiến trúc của Ai Cập cổ đại đã đạt đến trình độ rất cao Các côngtrình kiến trúc tiêu biểu là cung điện, đền miếu, đặc biệt nhất là Kim tự tháp
· Kim tự tháp là những ngôi mộ của các vua Ai Cập thuộc vương triều III vàvương triều IV thời Cổ vương quốc Các ngôi mộ ấy được xây ở vùng sa mạc ởTây Nam Cairô ngày nay Việc xây dựng Kim tự tháp, như Hêrôđôt nói, "đãđem lại cho nhân dân Ai Cập cổ đại không biết bao nhiêu tai họa" Nhưng nhândân Ai Cập cổ đại, bằng bàn tay và khối óc của mình, đã để lại cho nền vănminh nhân loại những công trình kiến trúc vô giá Trải qua gần 5000 năm, cácKim tự tháp hùng vĩ vẫn đứng sừng sững ở vùng sa mạc Ai Cập bất chấp thờigian và mưa nắng
· Nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cổ đại cũng có những thành tựu rất lớn biểuhiện ở hai mặt tượng và phù điêu Từ thời Cổ vương quốc về sau, các vua AiCập thường sai tạc tượng của mình và những người trong vương thất Tượngthường tạc trên đá, gỗ hoặc đúc bằng đồng độc đáo nhất trong nghệ thuật điêukhắc của Ai Cập cổ đại là tượng Xphanh (Xphanh, người ta thường dịch là connhân sư, là những bức tượng mình sư tử đầu người hoặc dê)
c Chữ viết và văn học:
- Chữ viết:
· Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời Chữviết của Ai Cập cổ đại lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểuthị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy
· Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus
· Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quý giáthuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học của Ai Cập cổ đại
- Văn học: Ai Cập cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú, bao gồmtục ngữ, thơ ca trữ tình, các câu chuyện mang tính chất đạo lí, giáo huấn, trào
Trang 4phúng, truyện thần thoại Trong số đó, Truyện hai anh em, Nói Thật và NóiLáo, Nói chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe, Lời răn dạy củaĐuaúp, Sống sót sau vụ đắm thuyền v.v là những truyện tương đối tiêu biểu.
d Khoa học tự nhiên
- Về số học:
· Người Ai Cập cổ đại ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở Vềcác phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ Cònnhân và chia, vì chưa biết bảng nhân nên phải dùng phương pháp cộng và trừliên tiếp
· Đến thời Trung vương quốc, Người Ai Cập đã biết được cấp số cộng và có lẽcũng đã biết được cấp số nhân
- Về hình học: Người Ai Cập đã biết tính diện tích tam giác, diện tích hìnhcầu , tính thể tích tháp đáy hình vuông, biết số = 3,1416
- Thiên văn học:
· Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực thiên văn của Ai Cập cổ đại là việc đặt
ra lịch Lịch Ai Cập được đặt ra dựa trên kết quả quan sát tinh tú và quy luậtdâng nước của sông Nin
· Người Ai Cập đã vẽ hình thiên thể lên trần các đền miếu, đã biết được 12 cunghoàng đạo, biết được các hành tinh như sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc,sao Thổ
- Về y học:
· Từ thời cổ vương quốc, người Ai Cập đã hiểu biết về cấu tạo cơ thể con ngườitìm các loại thuốc chữa bệnh và thuật ướp xác Các thi hài của Pharaon cònđược lưu lại đến ngày nay là thành tựu của ngành y học Ai Cập
· Các tài liệu cũng ghi lại nhiều bài thuốc và phương pháp chữa trị Ví dụ, đểchữa bệnh đường ruột, người ta dùng phương pháp rửa ruột hoặc cho nôn mửa.Các thầy thuốc Ai Cập còn biết dùng phẫu thuật để chữa một số bệnh
Vấn đề 3: Văn minh Lưỡng Hà
- Cơ sở hình thành
Trang 5- Thành tựu chữ viết, văn học, khoa học tự nhiên, luật pháp
1 Cơ sở hình thành
a Địa lí và dân cư
· Lưỡng Hà (Mésopotamie) nghĩa là miền giữa hai sông, bắt nguồn từ tiếng
Hy Lạp mêđốt là ở giữa và pôtamốt là sông Hai sông đó là sông Tigrơ ở phíaĐông và Ơphrát ở phía Tây Cả hai sông này đều bắt nguồn từ miền rừng núiAcmênia chảy qua lãnh thổ nước Irắc ngày nay rồi đổ ra vịnh Ba Tơ (Pécxích).Trong khi Lưỡng Hà là một vùng màu mỡ thuận lợi cho cuộc sống của conngười như vậy thì về địa hình Lưỡng Hà là một vùng hoàn toàn để ngỏ ở mọiphía, không có những biên giới hiểm trở bảo vệ, vì vậy trong mấy ngàn nămlịch sử, vùng này đã trở thành nơi tranh giành của nhiều tộc người khác nhau,dẫn đến sự hưng vong của nhiều quốc gia hùng mạnh một thời
· Về tài nguyên, Lưỡng Hà hiếm đá quý và kim loại, nhưng lại có một loạiđất sét rất tốt, vì vậy, đất sét đã trở thành vật liệu chủ yếu của ngành kiến trúc,chất liệu để viết, thậm chí đất sét còn được đưa vào các truyện huyền thoại
· Cư dân xưa nhất ở Lưỡng Hà là người Xume Họ từ Trung Á di cư đếnmiền Nam Lưỡng Hà vào khoảng thiên kỉ IV TCN Tại đây, họ đã lập nên nhiềuthành bang như Ua, Êriđu, Lagát, Urúc v.v Đến thiên kỉ III TCN, người Accátthuộc tộc Xêmít từ vùng thảo nguyên Xyri đến định cư ở miền Trung Lưỡng
Hà Tại đây, họ đã lập nên quốc gia Accát nổi tiếng một thời Cuối thiên kỉ IIITCN, người Arnôrít, một chi nhánh của người Xêmít cũng từ phía Tây tràn vàoLưỡng Hà Chính họ đã thành lập quốc gia cổ Babilon nổi tiếng nhất trong lịch
sử Lưỡng Hà cổ đại.Ngoài ra còn có nhiều tộc người khác ở vùng lân cận cũngtràn vào Lưỡng Hà Các tộc người trước sau tới Lưỡng Hà lại đồng hóa vớinhau làm cho thành phần cư dân ở đây hết sức phức tạp
b Các quốc gia Lưỡng Hà cổ đại
· Những nhà nước của người Xume
· Accát Thành bang
· Vương triều III của Ua (2132-2024 TCN)
· Cổ Babilon
· Tân Babilon và Ba Tư
Năm 550 TCN, Ba Tư đánh bại Mêđi, Babilon cũng trở thành mục tiêu chinhphục
Trang 62 Thành tựu
a Chữ viết
Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng tạo vào cuối thiên kỉ IVTCN Trong thời kì đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình Cáchình vẽ chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân biệt các kháiniệm.chữ hài thanh còn dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó từ Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình càng ngày càng ít đi Lúc đầu cókhoảng 2000 chữ, nhưng đến thời Lagát (thế kỉ XXIX TCN) chỉ còn lại khoảng
· Sử thi ra đời từ thời Xume, đến thời Babilon chiếm một vị trí rất quan trọng.Loại văn học này chịu ảnh hưởng của tôn giáo rất mạnh Chủ đề của nó thường
· Về số học, người Lưỡng Hà cổ đại đã biết cách làm 4 phép tính, họ còn biết lậpcác bảng cộng trừ nhân chia để giúp các nhân viên hành chính tính toán đượcnhanh Họ còn biết phân số, lũy thừa, căn số bậc 2 và căn số bậc 3; đồng thờicòn biết lập bảng căn số Họ cũng đã biết giải phương trình có 3 ẩn số
· Về hình học, xuất phát từ yêu cầu đo đạc ruộng đất, người Lưỡng Hà cổ đại đãbiết tính diện tích các hình chữ nhật, hình tam giác, hình thang, hình tròn, nhưngkhi tính diện tích và chu vi hình tròn họ chỉ mới biết số π = 3 Họ cũng đã biết
Trang 7tính thể tích hình chóp cụt Ngoài ra, trước Pitago rất lâu, họ đã biết quan hệgiữa ba cạnh của tam giác vuông.
Về thiên văn học: Người Lưỡng Hà cổ đại cũng đạt được những thành tựu quantrọng Các tăng lữ thường ngồi trên các tháp cao để quan sát thiên văn Trongmột năm, , người Lưỡng Hà cho rằng trong vũ trụ có 7 hành tinh là mặt trời,mặt trăng và 5 hành tinh khác Họ cũng đã xác định được đường hoàng đạo vàchia hoàng đạo làm 12 cung, mỗi cung có một chòm sao tương ứng Họ còn biếtđược chu kì của một số hành tinh
Về y học: Người Lưỡng Hà cổ đại cũng đã có những hiểu biết đáng kể Trongcác tài liệu y học để lại đến ngày nay đã thấy nói đến các bệnh ở đầu, khí quản
hô hấp, mạch máu, tim, thận, dạ dày, tai, mắt, phong thấp, ngoài da, bệnh phụnữ
d Luật pháp
Lưỡng Hà là khu vực có những bộ luật sớm nhất từ thời vương triều III củathành bang Ua (thế kỉ XXII-XXI TCN), ở Lưỡng Hà đã ban hành bộ luật cổnhất thế giới nhưng ngày nay chỉ còn lại được một số đoạn Những đoạn ấy nóiđến các vấn đề kế thừa tài sản, nuôi con nuôi, địa tô, bảo vệ vườn quả Tráchnhiệm của người chăn nuôi đối với súc vật, sự trừng phạt đối với nô lệ bướngbỉnh và nô lệ chạy trốn
Vấn đề 4: Văn minh Trung Quốc thời cổ trung đại:
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu chữ viết, văn học, sử học, tư tưởng Nho gia, bốn phát minh lớn
về kĩ thuật
1 Cơ sở hình thành
a Địa lí và cư dân
· Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử là một nước lớn ở Đông Á Trênlãnh thổ Trung Quốc có 2 con sông lớn chảy qua, đó là Hoàng Hà (dài 5.464km) ở phía Bắc và Trường Giang ( dài 6.300 km) ở phía Nam Hoàng Hà từ xưathường gây ra lũ lụt, do đó đã bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp khi công cụ sản xuất còn đương đối thô
sơ Chính vì vậy nơi này đã trở thành cái nôi của nên văn minh Trung Hoa
· Trung Quốc là một trong những nơi từ rất sớm đã có loài người cư trú.Năm 1929, ở Chu Khẩu Điếm (ở Tây Nam Bắc Kinh) giới khảo cổ Trung Quốc
đã phát hiện được sương hoá thạch của một loài vượn cổ sống cách đây khoảng400.000 năm
Trang 8b Sơ lược lịch sử cổ đại Trung Quốc
Thời kì cổ đại
Thời cổ đại ở Trung Quốc có ba vương triều nối tiêp nhau là Hạ, Thương, Chu
Hạ ( khoảng thế kỉ XXI đến XVI TCN)
Thương ( còn gọi là Ân, thế kỉ XVI đến XII TCN)
Chu ( thế kỉ XI đến III TCN)
Thời kì trung đại
Trong thời gian hơn 2.000 năm, Trung Quốc đã trải qua những thời đạisau đây:
Tần (221-206 TCN), Tây Hán (206 TCN- 8 TCN), Tản (9-23), Đông Hán ( 220), Thời kì tam quốc: Nguỵ, Thục, Ngô (220-250), Tấn (265-420), Thời kìNam Bắc triều (420-581), Tuỳ (581- 618), Đường (618- 907), Thời kì Ngũ đạiThập quốc (907-960), Tống (960-1279) chia thành 2 thời kì: ( Bắc Tống: (960-1127), Nam Tống: (1127-1279)), Nguyên (1279-1368), Minh (1368-1644),Thanh (1644-1911)
25- Thời kì lịch sử cận đại (từ năm 1840)
2 Thành tựu
a Chữ viết
Theo truyền thuyết, từ thời Hoàng đế, sử quan Thương Hiệt đã sáng tạo ra chữviết Sự thực, đến đời Thương, chữ viết của Trung Quốc mới ra đời Loại chữviết đầu tiên này khắc trên mai rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiênvào năm 1899 và được gọi là chữ giáp cốt
Từ cuối thời Tần Thủy Hoàng (221-206 TCN) đến thời Hán Tuyên đế (73-49TCN), lại xuất hiện một kiểu chữ mới gọi là chữ lệ Chữ lệ khác chữ triện ở chỗchữ triện còn giữ lại nhiều yếu tố tượng hình, do đó có nhiều nét cong nét tròn,còn chữ lệ thì biến những nét đó thành ngang bằng sổ thẳng vuông vức ngayngắn Thời gian sử dụng chữ lệ tuy không lâu nhưng chữ lệ có ý nghĩa rất quantrọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ chân tức là chữ Hán ngàynay
b Văn học
Thời cổ trung đại, Trung Quốc có một nền văn học rất phong phú Từ thời XuânThu Chiến Quốc, văn học Trung Quốc đã bắt đầu phát triển Đến thời Tây Hán
Trang 9tư tưởng Nho gia được đề cao Nho gia là trường phái rất coi trọng việc học tập,
vì vậy từ Hán về sau những người có thể cầm bút viết văn trong xã hội TrungQuốc rất nhiều Đến thời Tùy Đường chế độ khoa cử bắt đầu ra đời, trong đóvăn chương trở thành thước đo chủ yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốccàng có những thành tựu lớn lao Văn học Trung Quốc thời kì này có nhiều thểloại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết , trong đó tiêu biểu nhất là Kinh Thi, thơĐường và tiểu thuyết Minh - Thanh
c Sử học
Trung Quốc là một nước rất coi trọng lịch sử, bởi vậy sử học ở Trung Quốc pháttriển rất sớm và Trung Quốc có một kho tàng sử sách rất phong phú Đến đờiThương, trong các minh văn bằng chữ giáp cốt có chứa đựng một số tư liệu lịch
sử quý giá Có thể coi đó là mầm mống của sử học Thời Tây Chu trong cungđình thường xuyên có những viên quan chuyên phụ trách việc chép sử Đến đầuthời Đông Chu, những nước chư hầu có nền văn hóa phát triển tương đối caonhư Tấn, Sở, Lỗ cũng đặt chức quan chép sử Trong số các sách lịch sử củacác nước, tốt nhất là quyển sử biên niên của nước Lỗ Trên cơ sở quyển sử củanước Lỗ; Khổng Tử biên soạn lại thành sách Xuân Thu, đó là quyển sử do tưnhân biên soạn sớm nhất ở Trung Quốc
d Tư tưởng Nho gia
Nho gia là trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc Người đặt cơ sởđầu tiên của Nho gia là Khổng Tử, sống vào thời Xuân Thu Về sau Mạnh Tử(thời Chiến Quốc), Đổng Trọng Thư (thời Tây Hán) đã phát triển học thuyết nàylàm cho Nho học ngày càng thêm hoàn chỉnh
Tư tưởng của Khổng Tử gồm 4 mặt là triết học, đạo đức, chính trị và giáo dục
e Bốn phát minh vĩ đại về kĩ thuật
· Kĩ thuật làm giấy
Mãi đến thời Tây Hán, người Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre, lụa để ghi chép.Đến khoảng thế kỉ II TCN, người Trung Quốc đã phát minh ra phương phápdùng xơ gai để chế tạo giấy Ngày nay ở nhiều nơi tại Trung Quốc đã phát hiệnđược giấy làm từ thời Tây Hán Tuy nhiên giấy của thời kì này còn xấu, mặtkhông phẳng, khó viết, nên chủ yếu là dùng để gói Đến thời Đông Hán, năm
105, một viên quan hoạn tên là Thái Luân đã dùng vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách làm nguyên liệu, đồng thời đã cải tiến kĩ thuật, do đó đã làm được loại giấy cóchất lượng tốt Từ đó giấy được dùng để viết một cách phổ biến thay thế cho cácvật liệu được dùng trước đó
· Kĩ thuật in
Trang 10Kĩ thuật in bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có trước từ đờiTần Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Đạo giáo đã in nhiều bùa chú để trừ ma.Hiện chưa xác minh được kĩ thuật in bắt đầu ra đời từ bao giờ, nhưng điều chắcchắn là đến giữa thế kỉ VII (đầu đời Đường), kĩ thuật in đã xuất hiện.
· Thuốc súng.
Thuốc súng là một phát minh ngẫu nhiên của những người luyện đan thuộcphái Đạo gia Vốn là, đến đời Đường, Đạo giáo rất thịnh hành Phái đạo gia tinrằng, người ta có thể luyện được thuốc trường sinh bất lão hoặc luyện đượcvàng, do đó, thuật luyện đan rất phát triển Nguyên liệu mà người luyện đan sửdụng là diêm tiêu, lưu huỳnh và than gỗ Trong quá trình luyện thuốc tiênthường xảy ra các vụ cháy làm bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà và thế là họ đãtình cờ phát minh ra thuốc súng
· Kim chỉ nam
Từ thế kỉ III TCN, người Trung Quốc đã biết được từ tính và tính chỉ hướng của
đá nam châm Lúc bấy giờ Trung Quốc phát minh ra một dụng cụ chỉ hướng gọi
là "tư nam" Tư nam làm bằng đá thiên nhiên, mài thành hình cái thìa để trênmột cái đĩa có khắc các phương hướng, cán thìa sẽ chỉ hướng nam Như vậy tưnam chính là tổ tiên của kim chỉ nam
- Vấn đề 5: Văn minh Ấn Độ cổ trung đại:
- Điều kiện tự nhiên
- Thành tựu: chữ viết,văn học, Phật giáo, khoa học tự nhiên
* Trả lời:
1 Điều kiện tự nhiên, dân cư:
Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác Ở phía bắc, bán đảo bịchắn bởi dãy núi Himalaya Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thểqua các con đèo nhỏ ở tây-bắc Ấn Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độdương Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Himalaya theo hai con sông
Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánhđồng ở Bắc Ấn
Trang 11Nền văn minh Ấn Độ thời cổ đại gồm cả vùng đất ở các nước Ấn Độ,Pakistan, Nepal, Bănglađét ngày nay Về cư dân, người dân xây dựng nên nềnvăn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn là những người Đraviđa Ngàynay những người Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ Khoảng
2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aria tràn vào xâm nhập
và ở lại bán đảo Ấn Sau này, trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc ngườikhác như người Hy Lạp, Hung Nô, Arập, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó cưdân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu
2 Thành tựu:
a) Chữ viết:
Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ
cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con d8ấu có khắcnhững ký hiệu đồ hoạ Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày naycòn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ VTCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanskrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở
Ấn Độ và Đông Nam Á sau này
b) Văn học:
Ấn Độ là nước có nền văn học rất phát triển, gồm có 2 bộ phận chính là Vê
đa và sử thi, tuy nhiên nổi bật hơn cả là sử thi với hai tác phẩm văn học nổi bậtthời cổ đại là Mahabharata và Ramayana Mahabharata là bản trường ca gồm220.000 câu thơ Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các concháu Bharata Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa toàn thư”phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó Ramayana là một bộ sử thidài 48.000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và côngchúa Sita Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước ĐôngNam Á Riêmkê ở Campuchia, Riêm Khiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnhhưởng từ Ramayana
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rấtnhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu
c) Nghệ thuật:
Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tớinhiều nước Đông Nam Á Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ mộttôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện Có thể chia ra badòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo Có rất nhiều chùa tháp Phậtgiáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ Đây
là dãy chùa được tạc vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường
Trang 12hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m Trên vách hang có những bứctượng Phật và nhiều bích họa rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hindu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ
và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI Tiêu biểu cho các côngtrình Hindu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xengiữa những hồ nước và những cánh đồng
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xâydựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahal được xây dựng vào khoảng thế
kỉ XVII
d) Khoa học tự nhiên:
- Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12tháng, mỗi tháng có 30 ngày ( Như vậy năm bình thường có 360 ngày ) Cứ sau
5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận
- Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số
mà ngày nay ta quen gọi là số Ả Rập Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra sốkhông, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên.(Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Ả Rập trong toán học.)
Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết vềquan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác Pi = 3,1416
- Về vật lý: Người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử Thế kỉ V TCN, cómột nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “ trái đất, do trọng lực của bản thân đã húttất cả các vật về phía nó”
- Y học: cũng khá phát triển Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cáchchắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi Họ
để lại hai quyển sách là “ Y học toát yếu” và “ Luận khảo về trị liệu”
e) Tư tưởng, tôn giáo:
Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như đạo Balamôn, đạo Phật, đạo, Jain
và đạo Xích
- Đạo Bàlamôn ra đời vào khoảng thế kỉ XV TCN, trong hoàn cảnh đang có sựbất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lí củatình trạng bất bình đẳng đó Đạo Bàlamôn không có người sáng lập, không cógiáo chủ Đạo Bà La Môn thờ thần Brama(thần Sáng tạo), Visnu(thần Bảo vệ),Shiva(thần Huỷ diệt, có huỷ diệt cái cũ thì mới có thể sáng tạo cái mới) Về mặt
xã hội, đạo Bà La Môn là công cụ để bảo vệ chế độ đẳng cấp Giáo lí quan trọngnhất của đạo Bàlamôn là thuyết luân hồi mà sau này nhiều tôn giáo khác chịu
Trang 13ảnh hưởng Trong quá trình phát triển, đạo Bàlamôn có thể chia làm 3 giai đoạn:giai đoạn Vêđa ( thế kỉ XV TCN - thế kỉ V TCN ), giai đoạn Bàlamôn ( thế kỉ VTCN - đầu CN ), giai đoạn Hindu (đầu CN - nay )
- Đạo Phật:
· Ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử Xitđacta Gôtama,hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng Các tín đồ Phật giáo lấynăm 544 TCN là năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho là đây là năm Đức Phậtnhập niết bàn (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ýđến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên chúa)
· Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế( bốn điều suy xét kì diệu): Khổ
đế, Nhân đế - Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
· Đức Phật còn đề ra tám con đường chính trực để tu hành-Bát chánh:Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinhtiến, Chánh niệm, Chánh định
· Đạo Phật còn đề ra Ngũ giới: Bất sát sinh, bất đạo tặc, bất vọng ngữ, bất
tà dâm, bất ẩm tửu
· Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của đạo Phật là thuyết duyên khởi
Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương Vô tạo giả,
Vô ngã, Vô thường Vô tạo giả quan niệm, thế giới này không do một đấng tốicao nào tạo ra, tự nhiên mà có và vô cùng vô tận Như vậy là đạo Phật khôngdựa vào một đấng tối cao nào để giải thích về sự xuất hiện thế giới như các tôngiáo khác Vô ngã cho là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cốđịnh Con người cũng chỉ là tập hợp của Ngũ uẩn ( sắc, thụ, tưởng, hành , thức)chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài Vô thường cho là vạn vật trongthế giới này biến đổi không ngừng, không có gì là vĩnh cửu cả
· Qua những giáo lí ban đầu của đạo Phật như vậy, ta thấy lúc đầu đạo Phậtchỉ là một triết lí về nhân sinh quan Đạo Phật sơ khai lúc đầu không thời bất cứmột vị thần thánh nào Ngay cả Phật tổ Sakya Muni cũng không tự coi mình làthần thánh Tuy Phật tổ Sakya Muni có tổ chức các tăng đoàn Tỳ Kheo (đoànthể những tăng lữ khất thực) để đi truyền bá đạo Phật ở khắp nơi nhưng đókhông phải là một tổ chức tôn giáo có hệ thống chùa tháp như ngày nay
· Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công do chế độ đẳng cấp gây ra, thìđạo Phật lại chủ trương không phân biệt đẳng cấp, kêu gọi lòng thương người(từ
bi hỉ xả),tránh điều ác, làm điều thiện Những lời kêu gọi sự công bằng, lòngnhân đức đó đã được đông đảo người dân hưởng ứng
Trang 14- Đạo Jain-Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI TCN Đạo này chủtrương bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh.
- Đạo Sikh- Xích xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ XV Giáo lí của đạoXích có sự kết hợp giáo lí của đạo Hinđu và giáo lí của đạo Islam Tín đồ đạoXích tập trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôiđền Vàng ở Punjap
Vấn đề 6: Văn minh Đông Nam Á cổ trung đại:
- Cơ sở hình thành
- Thành tựu: chữ viết, văn học, kiến trúc, tôn giáo
* Trả lời:
1 Cơ sở hình thành nền văn minh Đông Nam Á
1.1 Điều kiện tự nhiên
Đông Nam Á (ĐNA) là khu vực khá rộng với diện tích 4.494.047 km² (chiếm10.5% diện tích Châu Á và 3% diện tích đất trên Trái Đất) ĐNA gồm 11 quốcgia được chia thành 2 nhóm: Đông Nam Á lục địa và hải đảo
- Nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái BìnhDương, ĐNA từ lâu vẫn được coi là hành lang, là cầu nối giữa Trung Quốc,Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải
- ĐNA chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tương đối rõ rệt:mùa khô lạnh, mát và mùa mua tương đối nóng và ẩm
- Khu vực này từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, cây hươngliệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương và câylương thực đặc trưng là lúa nước
- Nông nghiệp trồng lúa nước đã trở thành cội nguồn, thành mẫu số chung củanền văn minh khu vực Đó là một “nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển,nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp nhưng mẫu sốchung là văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa xóm làng”
1.2 Dân cư
- Điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á ĐNA thuận lợi cho những bước đi đầutiên củacon người với những di chỉ nổi tiếng như núi Đọ, núi Quan Yên, XuânLộc (Việt Nam), Anya (Mianma), Pingnoi (Thái Lan), Tampan (Malaixia),Cabaloan (Philippin)
Trang 15- Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lý, c dân ĐNA đã sáng tạo ra một nền vănƣhóa bản địa có cội nguồn chung từ thời tiền sử và sơ sử trước khi tiếp xúc vớihai nền văn hóa lớn.
- Sự hình thành các quốc gia ĐNA còn gắn liền với việc tiếp thu ảnh hưởng vănhóa Ấn Độ và Trung Hoa Những ảnh hưởng này là khá toàn diện và sâu sắc, cả
về chữ viết, văn chương, tôn giáo, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc
2 Một số thành tựu văn minh tiêu biểu
2.1 Tôn giáo
- Trước khi các tôn giáo đ ợc truyền bá vào ĐNA, cư dân nơi đây đã dùngƣthuyết vạn vật hữu linh để chỉ tất cả những hình thức tín ngưỡng Trong đó, sớmnhất là bái vật giáo với những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên
- Từ những thế kỷ đầu công nguyên, những tôn giáo lớn từ Ấn Độ (Phật giáo và
Ấn Độ giáo) và từ Trung Quốc (Nho giáo, Đạo giáo) bắt đầu du nhập và pháthuy ảnh hưởng tới đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc Đông Nam Á
- Đến cuối thế kỷ XIV đầu XV hàng loạt các tiểu quốc Hồi giáo đã ra đời ởĐông Nam Á Ngày nay ở Đông Nam Á, đạo Hồi có khoảng trên 165 triệu tín
đồ và con số đó đang không ngừng tăng lên
- Từ khi người phương Tây bắt đầu có mặt ở Đông Nam Á, Đạo Kitô cũng theo
họ và dần dần thâm nhập vào khu vực này
Có thể thấy bức tranh tôn giáo ở Đông Nam Á đa dạng, phức tạp Ở đâykhông chỉ có một tôn giáo duy nhất mà đã từng tồn tại nhiều tôn giáo; Ấn Độgiáo, Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo và đạo Tin lành Đó là chưa kể Khổng giáo
và Đạo giáo từ Trung Quốc truyền bá vào Mỗi tôn giáo có một vai trò nhất địnhtrong giai đoạn lịch sử của khu vực
2.2 Chữ viết
Qua các văn bia, người ta biết rằng ĐNA cổ xưa đã biết sử dụng chữ viếtđược du nhập từ Ấn Độ là chính Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử lâu dài, cưdân ĐNA đã rất công phu trong việc bắt chước và sáng tạo nên chữ viết riêngcủa mình
Trang 16dựng thế giới và vũ trụ, với quá trình hình thành các bản, làng và các vươngquốc cổ.
2.4 Nghệ thuật
- Ngay từ thời đại kim khí, ở ĐNA đã có một phong cách nghệ thuật riêng mànhiều người gọi là phong cách Đông Sơn Điều đó thể hiện qua những hoa văntrang trí trên gốm, trên các hiện vật bằng đồng tìm thấy ở Thượng Lào, ởCampuchia, Việt Nam, Thái Lan
- Cư dân ĐNA rất thích ca nhạc và múa tập thể Ở bất cứ đâu, ở bất cứ một bộtộc nào dù nhỏ bé đến đâu, người ta cũng thấy hàng chục làn điệu dân ca độcđáo: lăm, khắp, tỏm, tơi, ăn - nang - xứ của các bộ tộc người Lào, hát xoan, hátghẹo, hát chèo, quan họ của người Việt, đối ca của người Khơme, hát bọmạng, bỉ và túm của người Mường, hát lượn của người Tày
- Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật khác, kiến trúc Đông Nam Á chịu ảnhhưởng mạnh mẽ của kiến trúc Ấn Độ (kiến trúc Hinđu và Phật giáo) và kiến trúcHồi giáo
Kiến trúc Hindu có thể chia làm hai loại:
+ Các đền thờ Hinđu ở Nam Ấn Độ được xây dựng từ đá nguyên khối, là nhữngtháp có bình đồ (cấu trúc) là hình vuông hay chữ nhật
+ Các đền thờ Hinđu ở Bắc Ấn Độ đã chịu phần nào ảnh hưởng của kiến trúcPhật giáo nên các đền thờ ở đây ngoài tháp chính còn có một số tháp phụ và cáctháp đều có hình múi khế
+ Cả 2 kiểu kiến trúc trên đều có mặt ở ĐNA Song phổ biến hơn cả là kiểu kiếntrúc tháp có bình đồ là hình vuông hay chữ nhật Điển hình của kiểu kiến trúcHinđu ở ĐNA là tháp Chàm ở Việt Nam và Ăngco Vát ở Campuchia
Kiến trúc Phật giáo cũng có thể được chia làm 2 loại:
+ Chùa là nơi thờ tự, thờ hình tượng của Phật Ở Ấn Độ những chùa có niên đạisớm đều là chùa hang (nổi tiếng nhất là những chùa hang ở Ajanta và Nasik).+ Kiểu kiến trúc tháp - Xtuppa - là nơi thờ thánh tích của Phật Đặc tr ng củaƣkiểu kiến trúc này là trên đỉnh tháp có hình vòm kiểu chiếc bát úp, trên xây phủmột lớp gạch và trên cùng là một tháp nhọn, tượng trưng cho chiếc bát và gậykhất thực của Phật
Kiểu kiến trúc Hồi giáo vào ĐNA muộn hơn và phổ biến ở những vùng mà Hồigiáo chiếm ưu thế
Trang 17- Về điêu khắc, gắn liền với các tôn giáo là những pho tượng Phật, tượng thầnSiva, Visnu, nữ thần Unia với rất nhiều các hình tượng khác nhau Từ đầu thiênniên kỷ II trở đi người ta lại chứng kiến một sự phát triển mới của loại hìnhnghệ thuật này với một tầm vóc, quy mô lớn hơn, chất lượng cao hơn, vớinhững trung tâm kiến trúc và điêu khắc kỳ vĩ như khu đền Ăngco Vát ởCampuchia, Pagan ở Mianma, Xukhôthay, Ayuthaya ở Thái Lan, Thạt Luổng ởLào v.v
Tóm lại, trên cơ sở tiếp nhận các nền văn minh lớn, nghệ thuật kiến trúc vàđiêu khắc ĐNA đã tạo dựng cho khu vực một bức tranh da dạng trong thốngnhất với những loại hình độc đáo Điểm chung của hầu hết các công trình đềumang màu sắc tôn giáo
Vấn đề 7: Văn minh A rập thời trung đại
THÀNH TỰU CHỦ YẾU:
1 Văn học
Văn học Arập có những thành tựu rất xuất sắc, chủ yếu biểu hiện ở hai mặt: Thơ
và truyện Trước khi nhà nước ra đời, ở Arập đã có rất nhiều thơ ca truyềnmiệng Lúc bấy giờ trong dân gian đã có rất nhiều thi sĩ Họ thường ngâm thơcho các bộ lạc du mục nghe Từ nửa thế kỉ VII về sau, thơ ca chép bằng chữ viết
ra đời Kế thừa truyền thống thơ ca đời trước, các bài thơ trong thời kì này tậptrung thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời mà phần lớn là ca ngợi chiến công,tình yêu, rượu ngon
· Thời kì phát triển rực rỡ nhất của thơ ca Arập là từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XI.Trong thời kì này, ở Arập xuất hiện nhiều nhà thơ nổi tiếng, trong đó tiêu biểunhất là Abu Nuvát, Abu lơ Ala Maari
· Về văn xuôi, nổi tiếng nhất là tập Nghìn lẻ một đêm hình thành từ thế kỉ X
đến thế kỉ XII Những truyện trong tác phẩm này bắt nguồn từ tập "Một nghìncâu chuyện" của Ba Tư ra đời từ thế kỉ VI, dần dần được bổ sung bằng cáctruyện thần thoại của Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp rồi cải biên và gắn lại với nhauthành một truyện dài xảy ra trong cung vua Arập
2 Nghệ thuật
· Khi nhà nước Arập mới ra đời, vốn thoát thai từ kinh tế du mục và buôn bán,
cơ sở nghệ thuật Arập rất nghèo nàn Thêm vào đó, Môhamet lại cấm điêu khắc
Trang 18và hội họa vì hai môn này có thể dẫn đến sự sùng bái ảnh tượng Môhamet cũngcấm dùng tơ lụa đẹp, các đồ trang sức đẹp bằng vàng bạc, để nhân dân khỏi phải
vì ham muốn các thú vui mà sinh ra đồi bại Tuy vậy, về sau những cấm đoán ấyđược nới lỏng, đồng thời đã học tập nghệ thuật của Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư,Bizantium, Ấn Độ nên nghệ thuật cũng có những tiến bộ đáng kể
Thành tích về kiến trúc chủ yếu biểu hiện ở cung điện và thánh thất Hồi giáo.Tương truyền rằng các cung điện của các Calipha Arập rất tráng lệ nhưng ngàynay không còn nữa
· Do Hồi giáo cấm điêu khắc và hội họa nên địa vị của họa sĩ rất thấp, chỉ đượccoi ngang với thợ thủ công mà thôi Trái lại môn thư pháp rất được coi trọng, do
đó những người viết chữ được để cao và được tặng những số tiền lớn
· Âm nhạc lúc đầu cũng bị cấm vì truyền thuyết nói Môhamet cho rằng lời ca,điệu vũ của phụ nữ cũng như tiếng các nhạc cụ là tiếng dụ dỗ của quỷ sứ để đàycon người xuống địa ngục Về sau người ta cho rằng, rượu như thể xác, âm nhạcnhư linh hồn, nhờ hai thứ đó mà cuộc sống con người mới được vui vẻ Vì vậy
âm nhạc dần dần được thịnh hành
3.Khoa học tự nhiên
Là một nước thành lập rất muộn, lúc đầu Arập tương đối lạc hậu về các lĩnh vựckhoa học tự nhiên Nhưng nhờ học tập được các thành tựu của các nền văn minhxung quanh như Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp nên khoa học của Arập đã pháttriển nhanh chóng
a)Về toán học: Người Arập đã tiếp tục phát triển các môn đại số học, lượnggiác học, hình học và hoàn thiện hệ thống chữ số
_ Nhà Đại số học Arập nổi tiếng nhất là Môhamét Ibơn Muxa tức AnKhoaridơmi (780-855) Tác phẩm Đại số học của ông là quyển sách đầu tiên vềmôn khoa học này
_ Nhà toán học Abu Apđala al-Battani (850-929) thì lại có nhiều đóng góp
về môn Lượng giác học Các khái niệm sin, cosin, tang, cotang mà ngày naychúng ta sử dụng là do ông đặt ra
_ Người Arập còn có công lớn trong việc cải tiến và truyền bá hệ thống chữ
số và đã học tập được 10 chữ số của Ấn Độ
b)Về thiên văn học:
Người Arập cũng rất chú ý quan sát các tinh tú và nghiên cứu các vết trênMặt Trời Họ cũng cho rằng Trái Đất tròn
Trang 19 Al-Biruni, học giả tiêu biểu nhất của Arập cuối thế kỉ X đầu thế kỉ XI cònbiếtrằng vật gì cũng bị hút về phía trung tâm Trái Đất Tuy nhiên ông lạikhông dứt khoát khi nói: Hoặc Trái Đất mỗi ngày quay xung quanh địatrục một vòng và mỗi năm quay xung quanh Mặt Trời một vòng, hoặcngược lại, Mặt Trời mỗi ngày quay xung quanh nhật trục một vòng vàmỗi năm quay xung quanh Trái Đất một vòng, cả hai cách giải thích đềuđúng
Cuối thế kỉ XI, người Arập đã làm được một thiên cầu bằng đồng thauđường kính 209 mm, trên đó có 47 chòm sao gồm 1015 ngôi sao
c)Về địa lí học:
_ Người Arập đã dùng phương pháp cùng một lúc lấy vị trí của Mặt Trời ởhai điểm trên mặt đất và tính được 1° của Trái Đất dài hơn 90km và chu vi củaTrái Đất là 35.000km như vậy là gần đúng
_ Đến cuối thế kỉ X Arập còn có một tác phẩm địa lí rất quan trọng, đó là quyểnĐịa chí đế quốc Hồi giáo của Môhamét Al-Mucađaxi
_ Vào thế kỉ XII, Iđrixi đã viết một tác phẩm nhan đề là Sách của Rôgiê.Trong sách này, ông chia Trái Đất làm 7 miền khí hậu, mỗi miền lại chia làm 10phần, mỗi phần có vẽ một bản đồ tương đối chi tiết Trong đó tập hợp hầu hếtnhững hiểu biết về Trái Đất của thời bấy giờ
d)Về vật lí học:
_ Nhà khoa học tiêu biểu nhất là AI Haitơham sinh năm 965 và lĩnh vựcông có nhiều cống hiến là quang học Ông giải thích được rằng: "Hình thể củavật và con mắt người ta nhờ một vật trong suốt" tức là ông muốn nói đến thủytinh thể Ông cũng đã biết sự khúc xạ của ánh sáng trong không khí và nước,chính vì sự khúc xạ ấy mà Mặt Trời và Mặt Trăng khi ở gần chân trời thì nhìnthấy lớn hơn khi đã lên cao Cũng do sự khúc xạ ánh sáng trong không khí màchúng ta vẫn nhìn thấy tia sáng Mặt Trời khi Mặt Trời đã xuống tới 19° dướichân trời Căn cứ vào đó, ông tính được lớp khí quyển xung quanh Trái Đất dàyđến 15km Ông còn nghiên cứu tác động của ánh sáng chiếu trên các gương lồi,gương lõm và các thấu kính hội tụ Những ý kiến của ông có ảnh hưởng rất lớnđối với các nhà khoa học châu Âu Chính nhờ sự gợi ý của ông mà các nhà vật líhọc phương Tây đã chế ra được kính hiển vi và kính viễn vọng
e)Về hóa học:
Trang 20_ Chính người Arập đã chế tạo ra nồi cất trước tiên và đặt tên là al-ambik,
do đó nay tiếng Pháp gọi là alambic
_ Họ cũng đã phân tích được nhiều chất hóa học, đã phân biệt được bazơ vàaxít, lại còn bào chế được nhiều loại thuốc
_ Người Arập còn quan niệm rằng kim loại nào phân tích tới cùng đều cónhững nguvên tố như nhau, do đó có thể làm cho loại này biến thành loại khác
Vì vậy, họ cho rằng từ sắt, đồng, chì có thể tạo thành vàng bạc nhưng muốnthực hiện được thì phải có một chất xúc tác mà họ chưa tìm thấy
_ Thành tựu y học của Arập còn thể hiện ở chỗ nhiều tác phẩm y học đãđược biên soạn như Mười khái luận về mắt của Isác, Sách chỉ dẫn cho các thầythuốc khoa mắt của Ixa, Bệnh đậu mùa và bệnh sởi của Radi, Tiêu chuẩn y họccủa Xina
_ Arập có một đội ngũ thầy thuốc rất đông đảo, danh tiếng những ngườinày vang tận Tây Âu, do vậy ngày nay ở Đại học y khoa Pari vẫn treo chândung của Radi và Xina
_ Để chữa bệnh cho nhân dân, nhà nước Arập đã thành lập trong toàn đếquốc rất nhiều bệnh viện để chữa bệnh miễn phí cho mọi tầng lớp nhân dân
Trang 21_ Trường trung học cũng đặt trong các thánh thất Ngoài thần học, học sinhcòn được học các môn văn học, ngôn ngữ, ngữ pháp, toán, thiên văn Trong đómôn ngữ pháp được đặc biệt coi trọng vì người ta cho rằng tiếng Arập là ngônngữ hoàn hảo nhất và ai nói đúng thứ tiếng này thì được coi là thuộc hạngthượng lưu.
_ Ở bậc đại học, trong toàn đế quốc có ba trung tâm là Bátđa, Cairo (AiCập) và Coócđôba (Tây Ban Nha) Trường đại học Cairô bắt đầu thành lập năm
988 Lúc đầu chỉ mới là một lớp học mở trong thánh thất gồm 35 sinh viên Sau
đó, sinh viên khắp đế quốc Arập đều về đây học tập, do đó số sinh viên lên đến10.000 người Họ được vua chúa, quan lại và các nhà hảo tâm cấp học bổng.Nhà trường có một đội ngũ giáo sư khoảng 300 người thuộc nhiều lĩnh vựcchuyên môn Sinh viên ở đây được học các môn ngữ pháp, tu từ học, thần học,luật, thơ, lôgich, toán Đây là trường đại học cổ nhất Arập Ngoài ra, ở Cairôcòn có một trung tâm khoa học để nghiên cứu và giảng dạy thần học, thiên văn,
y học
*** Tóm lại, nền văn minh Arập rất rực rỡ và toàn diện Nhân dân Arập đã đónggóp vào kho tàng của nhân loại nhiều sáng tạo có giá trị Đồng thời họ còn cóvai trò rất lớn trong việc bảo tồn nhiều di sản văn hóa của Hy Lạp cổ đại Trongkhi ở Tây Âu giáo hội Kitô hủy hoại các tác phẩm cổ điển thì nhiều tác phẩm đãđược dịch sang tiếng Arập do đó vẫn được bảo tồn
Vấn đề 8 Văn minh Hy Lạp cổ đại
Thành tựu chủ yếu
1 Văn học
Nền văn học Hy Lạp bao gồm ba bộ phận chủ yếu và có liên quan chặt chẽ vớinhau là thần thoại, thơ và kịch
Trang 22Thần thoại:
· Ở Hy Lạp, trong giai đoạn từ thế kỉ VIII-VI TCN, nhân dân đã sáng tạo ramột kho tàng thần thoại rất phong phú, bao gồm những truyện về khaithiên lập địa, về các thần thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội, về các anhhùng dũng sĩ
· Thần thoại Hy Lạp có ảnh hưởng rất quan trọng đối với nền văn học nghệthuật Hy Lạp, vì nó đã cung cấp một kho đề tài và nguồn ảnh hưởng chothơ, kịch, điêu khắc và hội họa của Hy Lạp cổ đại
Thơ:
· Nói về thơ ca của Hy Lạp cổ đại trước hết phải kể đến hai tập sử thi nổitiếng: Iliát và Ôđixê Hai tập Iliát và Ôđixê không những là hai tác phẩmquan trọng trong kho tàng văn học thế giới mà còn là những tác phẩm cógiá trị về lịch sử
· Đến thế kỉ VII, VI TCN, thơ trữ tình bắt đầu xuất hiện Các thi sĩ tiêu biểu
là Parốt, Acsilôcút, Xôlông, Têônít, Xaphô, Panhđa, Anacrêông
2 Kiến trúc- điêu khắc
Kiến trúc:
· Trong các thành bang Hy Lạp, Aten là nơi có nhiều công trình kiến trúctiêu biểu: đền miếu, rạp hát, sân vận động Trong các công trình ấy tiêubiểu nhất, đẹp nhất là đền Páctênông xây dựng vào thời Pêriclét (thế kỉ VICN)
· Ngoài Aten, ở các nơi khác cũng có những công trình kiến trúc đẹp nhưđền thần Dớt ở Ôlempi, các đền thờ ở một số thành phố Hy Lạp trên đảoXixin
Trang 23“Người cầm dáo”, “Nữ chiến sĩ Amadong bị thương”)
3 Khoa học tự nhiên
a) Toán học:
· Phát minh quan trọng nhất của Talét là tỉ lệ thức
· Pitago đã phát triển thành định lí mang tên ông về quan hệ giữa ba cạnhcủa tam giác vuông Ông còn phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và sốkhông chia hết
· Ơclít là người đứng đầu các nhà Toán học ở Alếchxăngđri ông soạnthành sách Toán học sơ đẳng, đó là cơ sở của môn Hình học, trong đóchứa đựng định đề Ơclít nổi tiếng
· Acsimét, ông đã tính được số pi Đó là số pi chính xác sớm nhất tronglịch sử phương Tây
b) Về thiên văn học:
· Talét còn là một nhà thiên văn học Ông đã tính trước được ngàynhật thực, năm 585 TCN, ông tuyên bố với mọi người đến ngày28-5-558 sẽ có nhật thực, quả nhiên đúng như vậy
· Pitago, ông đã nhận thức được quả đất hình cầu và chuyển độngtheo quỹ đạo nhất định
· Arixtác, ông là người đầu tiên nêu ra thuyết hệ thống mặt trời Ông
đã tính toán khá chính xác thể tích của mặt trời, quả đất, mặt trăng
và khoảng cách giữa các thiên thể ấy
Trang 24· Eratôxten,thành tích khoa học nổi bật của ông là ông đã tính được
độ dài của vòng kinh tuyến trái đất là 39.700 km, và tính được góctạo nên bởi hoàng đạo và xích đạo
c, vật lí
Về vật lí học, phát minh quan trọng nhất của Acsimét là về mặt lực học, trong
đó đặc biệt nhất là nguyên lí đòn bẩy Với nguyên lí này, người ta có thể dùngmột lực nhỏ để nâng lên một vật nặng gấp nhiều lần Ông cũng đã phát minh ramột nguyên lí quan trọng về thủy lực học Đó là tất cả mọi vật thả xuống nướcđều phải chịu một lực đẩy từ dưới lên trên bằng trọng lượng nước phải chuyểnđi
c) Về y học:
· Về y học, người được suy tôn là thủy tổ của y học phương Tây làHipôcrát (Hippocrate, 469 - 377 TCN), một thầy thuốc Hy Lạp quê ở đảoCốt trên biển Êgiê Ông đã giải phóng y học ra khỏi mê tín dị đoan, chorằng bệnh tật do ngoại cảnh gây nên, vì vậy phải dùng các biện pháp nhưcho uống thuốc hoặc mổ xẻ để chữa trị
· Thời Hy Lạp hóa, vua Philađenphơ (309 - 246 TCN) thuộc vương triềuPlôtêmê ở Ai Cập là một người hay đau ốm, muốn tìm thuốc trường sinhbất lão nên đã tích cực thi hành chính sách khuyến khích sự phát triển của
y học Ông không những đã giúp đỡ các thầy thuốc về vật chất mà còncho phép mổ tử thi của phạm nhân để nghiên cứu, do đó y học đã cónhững thành tựu mới
4 Triết học
Đỉnh cao của nền văn minh cổ đại đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại, và cũng
là điểm xuất phát của lịch sử thế giới Nhìn chung triết học Hy Lạp có nhữngđặc trưng sau:
- Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luậncủa giai cấp chủ nô thống trị
- Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các tràolưu, trường phái, duy vật - duy tâm, biện chứng - siêu hình, vôthần - hữu thần
Trang 25- Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọihiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bứctranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sựvật, hiện lại xảy ra trong nó.
- Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ
- Coi trọng vấn đề về con người
b Triết học duy tâm
- Chống lại phái duy vật nên lập ra phái ngụy biện
- Đại diện: Prôtagôrát, Goócgiát, Xôcrát( nhà ngụy biện lớnnhất)
- Xôcrát cho rằng triết học không phải nhận thức tự nhiên
mà là để nhận thức bản thân mình
- Nhà triết học duy tâm lớn nhất của Hy Lạp cổ đại làPlatông ( học trò của Xôcrát)
Trang 26- Nhà triết học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại là Arixtốt( học trò của Platong) Ông là nhà triết học nhị nguyên luận.
- Đến thời Hy Lạp hóa thuộc về triết học duy tâm có haitrường phái qyan trọng là Xtôixit và phái Xinit
c Ưu điểm và hạn chế của triết học Hy Lạp cổ đại
Ưu điểm:
- Triết học cổ Hy Lạp như hồi chuông tỉnh thức giấc mộngthần thánh muôn đời của người dân Hy Lạp Tách ly vai trò củathần thánh ra khỏi ý thức hệ của con người
- Vai trò của tự nhiên và con người được đề cập một cáchkhách quan Nhằm đi đến tìm hiểu con người và tự nhiên từ đâu
mà có và đi về đâu
- Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập
- Là nền tảng cho các trường phái triết học sau này
- Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành
- Trả lời phần nào câu hỏi: “Con người có khả năng nhậnthức thế giới không?”
Trang 27Từ chữ Hy Lạp cổ, người La Mã đã đặt ra một loại chữ riêng của mình mà ngàynay ta quen gọi là chữ Latinh Đây là một thứ chữ viết đơn giản, thuận tiện nên
đã được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ đế quốc và sau này đã trở thành chữ viếtcủa nhiều quốc gia trên thế giới
2 KIẾN TRÚC - ĐIÊU KHẮC
a Kiến trúc:
Thành tựu về kiến trúc La Mã rất rực rỡ người La mã khi xây dựng cáccông trình đều tuân thủ theo một đồ án bất di bất dịch đó là: hình vuônghay hình chữ nhật với các cạnh thật vuông vức được kẻ ô như bàn cờ nhàkiến trúc sư nỗi tiếng của La Mã là Vitrius (86-26 TCN), mơ ước làmsống lại những kiến trúc cổ điển Hy Lạp ông đã dành cả đời để viết vềcác kỷ thuật kiến trúc xây dựng và đây cũng chính là bộ sách duy nhấtthời cổ đại được bảo tồn nguyên vẹn đến ngày nay
Các công trình kiến trúc của La Mã bao gồm tường thành, đền miếu, cungđiện, rạp hát…Những công trình này từ thời cộng hoà đã có, nhưng đặcbiệt phát triển từ thời Augustu Chính Augustu đã tự hào nói rằng ông đãbiến La Mã bằng gạch thành La Mã bằng đá cẩm thạch Các công trìnhkiến trúc nổi tiếng nhất là đền thờ Pantheon, đấu trường Colosseum (biểuhiện sự hùng cường- đá cẩm thạch), nhà tắm Caracalla (người La mã rấtphóng khoáng trong vấn đề tình dục, do vậy không chỉ là nhà tắm mà đócòn là nơi quan hệ tình dục, gặp gỡ giao lưu, đọc sách…nhà tăm giốngnhư là một công trình văn hóa lớn
b Điêu khắc:
Nghề điêu khắc của của người La Mã thường chú ý đến nghệ thuật trongcác tác phẩm điêu khắc, chủ yếu là tượng bán thân như vua Caesar(gương mặt đầy tham vọng); Augustus (thể hiện sự quyết tâm); Diocletian(thể hiện sự cứng rắn, môi mím chặt và là người có tuổi)
Để làm đẹp đường phố, quảng trường, đền miếu, La Mã đã tạo ra rấtnhiều tượng Tượng được dựng ở kháp nơi Các bức phù điêu thườngkhắc trên các côt trụ kỉ niệm chiến thắng của các hoàng đế và trên cácvòm khải hoàn môn Nội dung các bức phù điêu thường mô tả những sựtích lịch sử
3 LUẬT PHÁP
Bộ luật thành văn cổ nhất ở La Mã là bộ Luật 12 bảng Nó được gọi như vậy vìđược khắc vào 12 bảng đá vào năm 452 TCN Luật La Mã là hệ thống luật cổ,được xây dựng năm (449 TCN), áp dụng cho thành Roma và sau đó là cả Đếquốc La Mã Các nguồn của Luật La Mã thời Cổ đại được sưu tập trong CorpusIuris Civilis được tái khám phá trong thời kỳ Trung cổ và mãi cho đến thế kỷ 19vẫn được xem là nguồn luật pháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu
Âu Vì thế mà người ta cũng có thể gọi các luật lệ có hiệu lực trên lục địa châu
Âu trong thời kỳ Trung cổ và trong thời gian đầu của thời kỳ Hiện đại là Luật
La Mã Trong thời gian cuối của thời Cổ đại Hoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu
Trang 28tập lại các bản văn luật cũ Tác phẩm luật mà sau này được biết đến dưới tênCorpus Iuris Civilis bao gồm các quyển sách dạy về luật (công bố năm 533), tậpsan các bài văn của các luật gia La Mã (tiếng La Tinh: digesta hay pandectae),các đạo luật do hoàng đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và cácđạo luật đã được sửa đổi bổ sung (novellae).
4 KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nhà khoa học nổi tiếng nổi tiếng nhất và tiêu biểu nhất của La Mã là
Pliny (23-79) Ông đã hoàn thành tác phẩm đầu tiên là Lịch sử tự nhiên
gồm 37 chương trong suốt 77 năm Đó là bản tập hợp các tri thức của cácngành khoa học như: thiên văn học, địa lý học, nhân loại học, động vậthọc, thực vật học, nông học, y học, luyện kim học, hội hoạ, điêu khắc…dựa trên tài liệu của gần 500 tác giả khác nhau
Claudius Ptolemy (khoảng thế kỷ thứ II) là người đầu tiên về bản đồ tráiđất, lấy địa trung hải làm trung tâm Nối tiếng với tp “Hệ thống vũ trụ”,trong tp này ông cho rằng trái đất là hình tròn đã giúp không ít các nhàđịa lý tìm ra những miền đất mới tuy nhiên, điểm sai lầm của ông khicho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và quan điểm này đã chi phốichâu âu hết 1400 năm
Heron (thế kỷ I) là một kỹ sư tài ba và là nhà toán học xuất sắc ông đưa
ra các cách tính diện tích hình cầu và phép tính gần đúng với giá trị củanó
Menelai là nhà toán học và thiên văn học Ông đã chứng minh được tổngcác góc trong một tam giác cầu lớn hơn 180 độ và cách tính dây cung mặtcầu
Julius Caesar đã cải cách lịch một năm có 365,25 ngày cứ bốn năm thì cómột năm nhuận lịch này được dùng đến năm 44 TCN thì không còn sửdụng nữa
Đại biểu xuất sắc nhất về y học thời bấy giờ là Claudius Galen (131-đầuthế kỉ III) với tác phẩm “Phương pháp chữa bệnh.” ông chứng minhđược rằng các mạch vận chuyển máu, nếu như cắt đứt dù chỉ là một mạchmáu nhỏ cũng đủ để làm cho máu chảy hết cơ thể trong vòng nữa giờ
Vấn đề 10: So sánh văn minh phương Đông cổ đại & văn minh phương Tây
cổ đại
Trả lời:
Văn minh phương Đông cổ đại Văn minh phương Tây cổ đại
CƠ SỞ Người phương Đông do tính Người phương Tây ngay từ thời
Trang 29THÀNH
khép kín trong sự phát triển của
nền văn hóa nông nghiệp, chịu
ảnh hưởng nặng nề của văn hóa
phong kiến nên cách nhìn nhận
và đánh giá về thế giới thường
phức tạp hơn Trong nhận thức
của mình, người phương Đông
cho rằng thế giới không phải là
những mảnh ghép rời rạc nhau
mà là một thể thống nhất như
một số lý thuyết về “tam tài” –
trời, đất, người; “thiên nhân hợp
nhất” – trời với người là một
Đây chính là cơ sở để hình
thành thói quen đề cao văn hóa
cộng đồng, coi nhẹ văn hóa cá
nhân Do ảnh hưởng của nền
văn hóa nông nghiệp, ít cạnh
tranh, nên người phương Đông
hạn chế về tri thức khoa học,
mang nhiều yếu tố duy tâm,
siêu hình, tin vào những điều kì
lạ mà trời đất, thần thánh mang
tới cho thế giới
cổ đại đã có cách nhìn nhận triếthọc dưới các hình thức thế giớiquan khác nhau, thậm chí đốilập nhau; có thế giới quan duyvật – duy tâm, có thế giới quanlạc quan, tích cực – bi quan,tiêu cực Trong đó, những người
có thế giới quan tích cực, lạcquan thường đại diện cho xuhướng tư duy tiến bộ, đồng tình
và ủng hộ cho sự phát triển củakhoa học Còn những người cóthế giới quan duy tâm, bi quan,tiêu cực thì thường có tư duyphản tiến bộ, không tin vào sựphát triển của khoa học Trongthói quen tư duy của mình,người phương Tây xem thế giới
rõ ràng có hai màu đen hoặctrắng chứ không có thế giới lẫnlộn hai màu đen – trắng
Câu 11: Phong trào Văn hoá Phục hưng ở Tây Âu thời hậu kì trung đại: thành tựu, nội dung tư tưởng:
- Những thành tựu chính: Là một bước nhảy vọt về văn hóa, phong trào Văn hóaphục hưng đã đạt được những thành tựu rực rỡ về mọi mặt, đặc biệt là về vănhọc nghệ thuật
ở Phirenxê đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa đảng Trắng (phái ủng hộ vua) vàđảng Đen (phái ủng hộ giáo hoàng) Đantê tham gia đảng Trắng và năm 1300được bầu làm một quan chấp chính của Phirenxê Nhưng mới được hai tháng thì
Trang 30đảng Trắng thất bại, ông bị trục xuất khỏi Phirenxê và phải sống lưu vong ở cácthành thị miền Nam Ý cho đến khi chết.
Tác phẩm trong thời kì đầu của ông là Cuộc đời mới Đây là tác phẩmĐantê viết để tưởng nhớ người bạn gái thời thơ ấu của ông là Bêatơrít(Beatrix)
Tác phẩm lớn nhất của Đantê là Thần khúc (La Divine comédie) Tácphẩm này ông đã viết trong suốt 20 năm sống lưu vong và cho đến khi chếtcũng chưa hoàn thành trọn vẹn Toàn bộ tập thơ gồm 100 chương, ngoài chươnglời tựa, nội dung chính chia làm ba phần là địa ngục, tĩnh giới (nơi rửa tội) vàthiên đường, mỗi phần gồm 33 chương
Ngoài Đantê còn có nhà thơ trữ tình Pêtơraca (1304-1374) Thi phẩm củaông là tập thơ ca ngợi tình yêu tặng nàng Lôra, người mà ông yêu suốt đời vàtrở thành bất tử trong thơ của ông Tập thơ này được coi là mẫu mực của thơ trữtình Ý
Sau khi phong trào Văn hóa phục hưng lan rộng sang các nước Tây Âukhác, ở Pháp và Tây Ban Nha đã xuất hiện hai nhà văn nổi tiếng, đó là Rabơle
và Xécvăngtét
Rabơle (Francois Rabelais 1494-1553) lúc còn nhỏ đi tu, sau ra khỏi tuviện học ngành y và khoa học tự nhiên, đã từng làm thầy thuốc Ông còn tinhthông về các mặt văn học, triết học, pháp luật, thực vật học, kiến trúc Tác phẩmchủ yếu của ông là tiểu thuyết trào phúng Gácgăngchuya và Păngtagruyen Xécvăngtét (Miguel de Cervantes 1547-1616) là một nhà văn lớn và là kẻđặt nền móng cho nền văn học mới ở Tây Ban Nha Xécvantét xuất thân từ mộtgia đình quý tộc sa sút, thời trẻ tính thích mạo hiểm, đã tham gia đánh quân ThổNhĩ Kì ở trận Lêpăngtơ ở Hy Lạp (năm 1571) Vì bị thương, ông bị bọn giặcbiển bắt làm tù binh Sau 5 năm ông trốn thoát được về quê hương, nhưng từ đóông ngày càng nghèo túng, phải ra làm một chức quan nhỏ Tác phẩm nổi tiếngnhất của ông, đồng thời cũng là một kiệt tác của nền văn học thế giới là ĐôngKisốt (Don Quichotte)
Xây dựng một người nông dân thành một trong hai nhân vật chính của tác phẩm
và gán cho nhân vật ấy những phẩm chất tốt đẹp như vậy, đó là điều rất hiếmlúc bấy giờ
- Kịch:
Trang 31Tác giả tiêu biểu của nghệ thuật kịch thời Phục hưng, đồng thời là ngườitiêu biểu cho nền văn hóa Anh thời kì này là Sếchxpia (William Shakespeare,1564-1616) Trong 20 năm hoạt động sáng tác (1592-1612), trọng gắn liền vớitên tuổi nhiều nhà bác học nổi tiếng Những phát minh khoa học tương đối tiêubiểu trong số đó là hình học giải tích của nhà toán học Pháp Đêcáctơ (1596-1650), áp lực của chất lỏng của nhà vật lí học Ý Tôrixeli (1608-1647),
Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, về lĩnh vực triếthọc cũng có một bước tiến quan trọng Người mở đầu cho trường phái triết họcduy vật thời phục hưng là Phranxít Bâycơn (Francis Bacon 1561-1626) nhà triếthọc người Anh
Tóm lại, sau gần 1000 năm chìm lắng, đến thời Phục hưng, nền văn học Tây Âu
đã có một bước tiến lớn lao và đã để lại nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật bất
hủ và những thành tựu khoa học lỗi lạc
Nội dung tư tưởng:
Phong trào Văn hóa phục hưng tuy có tiếp thu và kế thừa một số yếu tốtrong nền văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại nhưng thực chất đây không phải làmột phong trào làm sống lại những di sản văn hóa cổ xưa mà là một phong tràovăn hóa hoàn toàn mới dựa trên nền tảng kinh tế xã hội mới và được chỉ đạo bởimột hệ tư tưởng mới, nói một cách khác, phong trào Văn hóa phục hưng là cuộccách mạng văn hóa tư tưởng của giai cấp tư sản mới ra đời nhằm chống lạinhững quan niệm lỗi thời ràng buộc tư tưởng tình cảm của con người và kìmhãm sự phát triển xã hội của phong kiến và giáo hội Thiên chúa
Tư tưởng chủ đạo của phong trào Văn hóa phục hưng là chủ nghĩa nhânvăn (humanisme) Đó là hệ tư tưởng chú trọng đến con người, chú ý đến cuộcsống hiện tại, chủ trương cho con người được quyền hưởng mọi lạc thú ở đời,
do đó nó hoàn toàn đối lập với quan niệm của giáo hội Thiên Chúa chỉ sùng báiChúa, chỉ chú ý đến cuộc sống của linh hồn sau khi chết ở Thiên đàng và đềxướng chủ nghĩa cấm dục
Dưới sự chỉ đạo của hệ tư tưởng mới ấy, tính chất cách mạng của phongtrào Văn hóa phục hưng thể hiện ở các mặt sau đây:
- Lên án, đả kích, châm biếm sự tàn bạo dốt nát, giả nhân giả nghĩa của các giáo
sĩ từ giáo hoàng đến các tu sĩ và của giai cấp quý tộc phong kiến
- Chống lại quan niệm của giáo hội về con người và cuộc sống trần gian:
- Chống những quan điểm phản khoa học và chủ nghĩa duy tâm:
- Đề cao tinh thần dân tộc, tình yêu đối với Tổ quốc và tiếng nói của nước mình:
Câu 12: Phong trào cải cách tôn giáo ở tây âu thời hậu kì trung đại:
- Nội dung tư tưởng của Lu – Thơ, Can – Vanh
- Kết quả