Câu 1:Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TẬP LỚN
(Thay thế bài thi kết thúc học phần)
Họ tên (in hoa): TRẦN HOÀNG
Lớp: NNA D2020A
Mã SV:220000597
Học kì: 1 ; Năm học:2021 - 2022
Người dạy: Nguyễn Thị Thanh THuỷ
Hà Nội, tháng……/2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TẬP LỚN
(Thay thế bài thi kết thúc học phần)
Họ tên (in hoa): TRẦN HOÀNG
Lớp: NNA D2020A
Mã SV: 220000597
Học kì: 1 ; Năm học: 2021 - 2022
Người dạy: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Hà Nội, tháng ………./2021
Trang 3Câu 1:
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa
Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV XIX, học thuyết Mác -Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội
- Tại sao Phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới:
Phật giáo đang trở thành phổ biến ở các Quốc gia Á Châu và các nước Phương Tây với một số lý do Lý do chính là đạo Phật có câu trả lời cho nhiều vấn đề trong xã hội vật chất hiện đại Nó bao gồm sự hiểu biết sâu sắc của tâm trí con người qua các liệu pháp tự nhiên mà các nhà tâm lý học nổi tiếng trên toàn thế giới hiện nay đang khám phá ra rất tiên tiến và hiệu quả Đối với xã hội Việt Nam thì Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập vào, cho nên có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với Phật giáo của các nước khác trên thế giới Phật giáo VN du nhập từ Trung Quốc cho nên mang nhiều nét văn hóa Trung Quốc, nhất là thời kỳ một ngàn năm đô hộ Cho nên có ảnh hưởng
Trang 4sâu rộng từ kinh điển, truyền thuyết nhất là những nghi thức hành đạo và thờ phượng không như sách vỡ Phật giáo nguyên thủy Người Tàu đã đem mê tín
dị đoan và ngụy tạo nhiều huyền thoại vào triết lý Phật giáo mà mãi đến ngày nay vẫn còn tồn tại ở Việt Nam
Phật giáo lan rộng khắp thế giới, bởi vì khái niệm duy nhất về Bồ đề tâm xuất hiện giống như Jainism giáo cổ xưa của Ấn Độ , cũng dạy cách để giải thoát
và tìm về hạnh phúc, một cuộc sống phóng sinh và xả bỏ Phật giáo cũng có mục đích tương tự là để đạt được sự giải thoát của tâm hồn Đó là quá trình đạt được sự giác ngộ, không phải cho sự giải thoát của riêng mình, mà vì lợi ích của các chúng sinh khác Đây là một triết lý tuyệt vời, một đỉnh cao lớn nhất của trái tim từ bi Phật giáo là đôi cánh có thể mang con người đi xa hơn
và thoát khỏi sự khổ đau và đến chỗ toàn mỹ sau cùng Phật giáo phổ thông trên khắp thế giới là vì nó là một con đường chỉ rõ cho chúng ta biết vận mệnh của mỗi người đều do người đó tạo ra bởi chính họ và chịu trách nhiệm
về hành động của chính mình Mỗi người trong chúng ta đều mong muốn sống trong tự do Chính sự mong muốn ý chí tự do đó và sự hưởng thụ, cho nên con người phải chịu trách nhiệm những hậu quả về hành động của mình Trong Phật giáo luôn nhắc nhỡ chúng ta tự chăm sóc chính mình, không ai có thể giúp chúng ta, không có Thánh thần nào phù trợ Không có phép nhiệm màu nào mang đến cho chúng ta những điều chúng ta mong muốn, cũng không ban ơn hay quở trách
Phật giáo đối với Phương tây chưa được khởi sắc mấy từ thời Hoàng Đế Ashoka và đến tận hôm nay Tuy nhiên sau khi có làn sóng của những người nhập cư Châu Á, họ đã mang đến nhiều hình thức của Phật giáo sang Châu
Âu, Bắc Mỹ và Úc Phật giáo thu hút được nhiều người Phương Tây vì triết lý Phật giáo không đòi hỏi họ phải tin vào bất cứ điều gì, không Thượng Đế, cũng không thần linh mà chỉ làm theo lời khuyên của Đức Phật với các
phương pháp thực hành và những ý tưởng thử nghiệm đầu tiên Ngoài ra Phật
Trang 5giáo là một triết lý đi sâu vào thực tế trong đời sống hằng ngày của mọi
người Ví dụ như sự sống của muôn vật hay môi trường sống chung quanh con người Thái độ của Phật giáo chủ trương hòa bình, chánh niệm và chăm sóc cho tất cả các sinh vật sống, cho nên được sự quan tâm của nhiều người phương Tây Phật giáo tin rằng tất cả mọi thứ nên được chăm sóc: Trái đất, thực vật, chim chóc, côn trùng và động vật… Đây là điều thực tế gần với cảm giác của nhiều người trong những năm gần đây khi thế giới kêu gọi con người nên ngừng làm ô nhiễm bầu không khí với các quốc gia kỷ nghệ, giết súc vật lấy da hay phá rừng làm hủy hoại bề mặt của trái đất
Du lịch cũng là cách để cho con người tìm hiểu về văn hóa các Quốc Gia khác, trong nhiều năm qua nhiều quốc gia như Pháp, Hà Lan, Vương quốc Anh, Úc, New Zealand, Bắc và Nam Mỹ và các nước Châu Âu khác đã bắt đầu đi du lịch ở vùng Viễn Đông Họ bắt đầu tìm hiểu về ý tưởng Phương Đông và cũng từ đó họ khám phá triết lý Phật giáo Đồng thời các di dân tị nạn Tây Tạng, Việt Nam, Lào, Cambochia, Thái Lan.v.v Họ mang theo kinh điển, sách vỡ và tín ngưỡng Phật giáo của họ đến vùng đất mới Sau đó họ thành lập chùa và các trung tâm Phật Giáo Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, một
số kinh sách Phật giáo đã được dịch sang ngôn ngữ Châu Âu Do đó việc giảng dạy Phật giáo đã được biết đến với các học giả Châu Âu Một vài người trong số họ bị ảnh hưởng bởi Phật giáo cho nên những tác phẩm của họ có lồng nhiều tư tưởng Phật giáo Đáng kể nhất là các tổ chức Phật giáo được thành lập ở các thành phố lớn của Châu Âu Một trong số đó, Hội Phật giáo của London, được thành lập vào năm 1924 Một trong những tổ chức Phật giáo lớn nhất ở Châu Âu Ở Hoa Kỳ một số trường đại học lâu đời nhất tại
Mỹ có thành lập một chuyên ngành nghiên cứu về Phương Đông trong đó triết lý Phật giáo được đề cao
- Những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam:
+ Tính tổng hợp:
Trang 6Đây là đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam
Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, và do vậy đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng Hệ thống chùa “Tứ pháp” thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ đá Lối kiến trúc phổ biến của chùa Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần” với việc đưa các thần, thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa Có những chùa còn có cả bàn thờ cụ Hồ Chí Minh ở Hậu tổ Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bát nhang ho các linh hồn, vong hồn đã khuất
Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái lại với nhau Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết Tuy chủ trương của Thiền tông
là bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư đã để lại nhiều trước tác
có giá trị Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Mẫu giáo, nhiều thiền
sư phái này, nhất là những vị sống vào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài biến hóa thần thông Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông
Các chùa phía Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng mấy chục pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau Ở phía Nam, Đại thừa và Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùa mang hình thức tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa, bên cạnh Phật Thích Ca lớn vẫn có nhiều tượng nhỏ, bên cạnh áo vàng vẫn có
đồ nâu lam
Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Phật với Nho, với Đạo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên (3 tôn giáo cùng phát nguyên từ một gốc) và Tam giáo đồng quy (3 tôn giáo cùng quy về một đích) Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ với việc đạo và việc đời Vốn là một tôn giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rất nhập thế: Các cao tăng được nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng Sự gắn
bó đạo – đời không chỉ thể hiện ở việc các nhà sư tham gia chính sự, mà ngược lại còn có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu Trong 6 thế hệ đệ tử của phái Thảo Đường thì đã có tới 9 người là vua quan đương nhiệm Không phải ngẫu nhiên
mà ở sân chùa Phổ Minh, quê hương nhà Trần, lại có chiếc vạc đồng lớn (1 trong “An Nam tứ đại khí”) tượng trưng cho quyền lực
Vẫn với truyền thống gắn bó với đời, đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội (như cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu
và đám tang Phan Châu Trinh) Thời Diệm – Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập dân tộc, nổi bật là
sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh phản đối nền độc tài của gia
Trang 7đình họ Ngô, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu
vào mùa hè 1963
+ Khuynh hướng thiên về nữ tính:
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật Ông – Phật Bà Bồ tát Quán Thể Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay – vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước Đông Nam Á (nên còn gọi là Quan Âm Nam Hải) Ở một số vùng, ngay cả Phật tổ Thích Ca cũng được coi là phụ nữ (người Tày Nùng gọi là “Mẹ Pựt Xích Ca”) Người Việt Nam còn tạo ra những “Phật bà” riêng của mình: Đứa con gái nàng Man, tương truyền sinh vào ngày 8-4 được xem là Phật Tổ Việt Nam, bản thân bà Man trở thành Phật Mẫu Rồi còn những vị Phật bà khác nữa như Quan Âm Thị Kính, Phật bà chùa Hương Lại còn rất nhiều các bà bồ tát như Bà Trắng chùa Dâu, các thánh mẫu…
Việt Nam có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà: chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh… Tuyệt đại
bộ phận Phật tử tại gia là các bà: Trẻ vui nhà, già vui chùa là nói cảnh các bà Chùa hòa nhập với thiên nhiên, bao giờ cũng là nơi phong cảnh hữu tình; bởi vậy mới có cách nói ví “vui như trảy hội chùa” Cảnh chùa hữu tình, hội chùa vui, cửa chùa rộng mở, cho nên cũng là nơi chở che cho trai gái tình tự: “Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ, Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”
+ Tính linh hoạt:
Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật tổ với ngày sinh là ngày Phật đản 8-4
Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật: Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích ca ngoài đường (Tục ngữ)
Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, Trời, Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi (hệ thống chùa Tứ pháp); ban cho người hiếm muộn có con (tục đi chùa cầu tự: Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang lạy Phật xin bùa em đeo); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ phật và hái lộc lúc giao thừa); cứu độ cho
Trang 8người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới cầu kinh và làm lễ tiễn đưa người chết)
Muốn giữ cho Phật ở mãi bên mình, người Việt Nam có khi phá cả giới Phật giáo Có nơi, do muốn buộc ông sư phải gắn bó với làng mình để giữ chùa, cúng lễ; dân làng đã tổ chức cưới vợ cho sư, khiến ngôi chùa gần như trở thành một gia đình
Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc (Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di-lặc
to béo), ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc quăn) … Nhiều pho tượng được tạc theo lối ngồi không phải trên tòa sen mà là chân co chân duỗi rất thoải mái, giản
dị Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Ngôi chùa Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có 3 gian 2 chái… Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh thoát ở trên và trụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực (no đủ và đông đúc)
Cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai ở mỗi làng Người dân đi bất kỳ đâu có thế ghé chùa xin nghỉ tạm hoặc xin ăn
Câu 2:
1 Khái quát:
Phong trào mĩ thuật Phục hưng ở Ý được khởi đầu vào cuối thế kỉ XIII Bởi hai hoạ sĩ Xi-ma-bu-o và Giotto Phong trào này ra đời nhằm khôi phục và làm hưng thịnh lại nền văn hoá cổ đại Hi- Lạp, La-Mã mà thời Trung cổ đã huỷ hoại Đưa cái đẹp phục vụ cuộc sống con người Đồng thời nâng cao hơn trong hoàn cảnh mới để đạt tới sự mẫu mực, hoàn chỉnh
Sang thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XV, phong trào mĩ thuật Phục hưng ở
I-ta-li-a phát triển rực rỡ Trên cơ sở những phát minh khoI-ta-li-a học: tìḿ rI-ta-li-a luật viễn cận, chất liệu sơn dầu,…Các hoạ sĩ thời Phục hưng thường lấy đề tài tôn giáo
để thể hiện cái đẹp, để diễn tả cuộc sống, diễn tả con người, họ không vẽ theo công thức gọ’ bó như nghệ thuật Trung cổ mà học hỏi cái đẹp từ thời Hy Lạp,
La Mã, từ thiên nhiên
Các hoạ sĩ đưa không gian thấu thị vào tranh và áp dụng những luật với khối theo sáng tối Nhờ đó con người và thiên nhiên được diễn tả rất sâu về khối,
Trang 9tình́ cảm, y phục và bối cảnh, các qui luật về bố cục, màu sắc không gian, tỉ
lệ, ánh sáng đến cách diễn tả đều đạt tới sự hoàn hảo
Mĩ thuật Phục hưng I-ta-li- a đã sinh ra nhiều hoạ sĩ nổi tiếng có những cống hiến to lớn cho nền mĩ thuật thế giới Trong đó có ba hoạ sĩ tiêu biểu như Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael
2 Nghệ thuật: - Điêu khắc:
Ngay từ đầu, nghệ thuật điêu khắc và hội họa đã được xây dựng trên chủ nghĩa cá nhân, là đặc trưng riêng của mỗi nhà điêu khắc Một đặc điểm quan trọng của nghệ thuật thời Phục Hưng là chủ nghĩa tự nhiên của nó Trong điêu khắc, điều này thể hiện rõ ràng trong sự gia tăng của các chủ thể đương đại, cùng với việc xử lý tỷ lệ, xếp nếp, giải phẫu và phối cảnh một cách tự nhiên hơn
Đặc điểm tiếp theo là sự tái hợp các chủ đề và hình thức cổ điển Kể từ sự sụp
đổ của La Mã vào thế kỷ thứ năm, Ý chưa từng hoàn toàn quên đi các tác phẩm điêu khắc của Hy Lạp cổ đại, cũng không thể bỏ qua khối tàn tích La
Mã có thể nhìn thấy được Sự phục hưng của chủ nghĩa cổ điển trong điêu khắc bắt đầu vào khoảng thời gian của Nicola Pisano (c.1206-1278), và được phát triển trong thế kỷ 14-15 Chủ nghĩa cổ điển đã chiếm lĩnh hoàn toàn trong thời kỳ Phục Hưng đỉnh (c.1490- 1530) Một điểm cuối cùng cần được nhấn mạnh là nghệ thuật Phục Hưng ở Ý chủ yếu là nghệ thuật Tôn giáo
- Hội hoạ:
Hội họa Phục hưng Ý là nền hội họa của thời kỳ bắt đầu từ cuối thế kỷ XIII
và phát triển mạnh từ ngày đầu thế kỷ XV đến đầu cuối thế kỷ XVI ở bán đảo
Ý, lúc đó được phân chia ra nhiều khu vực chính trị
Các họa sĩ thời Phục hưng Ý, Mặc dù thường được gắn liền với các triều đình riêng biệt và với lòng trung thành với những thị trấn riêng biệt, vẫn đi lang thang dọc chiều dài và chiều rộng của bán đảo Ý, thường nắm giữ một chức
vụ ngoại giao và phổ biến ý tưởng nghệ thuật và triết học
Các thành phố Firenze ở Tuscany nổi tiếng là nơi sinh ra của thời kỳ Phục hưng, và đặc biệt của hội họa thời Phục hưng
Ở châu Âu thế kỉ XI, những thành thị được hình thành đã phá vỡ các lãnh địa phong kiến, từ đó xuất hiện tầng lớp thị dân giàu có - đây là hiện thân của giai
Trang 10cấp tư sản Tại Italia , nhiều thành thị trung tâm ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, …nhu cầu đời sống tinh thần được nâng cao, giai cấp tư sản muốn có một nền văn hoá chống lại giai cấp phong kiến, đó là nguyên nhân
sự ra đời của văn hoá Phục hưng ở Italia, sau lan sang một số nước ở châu
Âu như: Pháp, Đức,…Phong trào mĩ thuật Phục hưng ở Italia được khởi đầu vào cuối thế kỉ XIII bởi hai hoạ sĩ Cimabue và Giotto, phong trào ra đời nhằm khôi phục và làm hưng thịnh lại nền văn hoá cổ đại Hi-Lạp, La Mã (nền văn hoá đề cao giá trị vật chất và tinh thần của con người) mà thời
Trung cổ đã huỷ hoại; đưa cái đẹp phục vụ cuộc sống con người, đồng thời nâng cao hơn trong hoàn cảnh mới để đạt tới sự mẫu mực, hoàn chỉnh
Sang thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XV, phong trào mĩ thuật Phục hưng ở Italia phát triển rực rỡ trên cơ sở những phát minh khoa học: tìm ra định luật viễn cận, tìm ra chất liệu sơn dầu,…Các hoạ sĩ thời Phục hưng thường lấy đề tài tôn giáo để thể hiện cái đẹp, để diễn tả cuộc sống, diễn tả con người, họ không vẽ theo công thức gọ’ bó như nghệ thuật Trung cổ (tranh thời Trung cổ mang tính trang trí hơn tính tạo hình, chỉ diễn tả không gian hai chiều nên không diễn tả được chiều sâu; h́ình dáng con người thường gầy nhom, ốm yếu, thiếu sức sống…) mà học hỏi cái đẹp từ thời Hy Lạp, La Mã, từ thiên nhiên Các hoạ sĩ đưa không gian thấu thị vào tranh và áp dụng những luật hình khối theo sáng tối, nhờ đó con người và thiên nhiên được diễn tả rất sâu
về khối, tình cảm, y phục và bối cảnh, các qui luật về bố cục, màu sắc không gian, tỉ lệ, ánh sáng đến cách diễn tả đều đạt tới sự hoàn hảo Mĩ thuật Phục hưng Italia đã sản sinh ra nhiều hoạ sĩ nổi tiếng có những cống hiến to lớn cho nền mĩ thuật thế giới, trong đó có ba hoạ sĩ tiêu biểu như Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raffaello; Thời kỳ Phục Hưng kéo dài từ năm 1400 đến
1600, Trung tâm ở Florence
3 Tổng quan:
Đặc điểm nổi bật của thời Phục Hưng là mối quan tâm trở lại đối với thế giới
cổ đại Hy-La Như một đặc điểm mà bây giờ chúng ta gọi là chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng, văn chương, kiến trúc, và nghệ thuật cổ điển tất cả đều được tham khảo nhằm trích xuất ra những ý tưởng có thể được biến đổi cho thế giới đương đại Lorenzo de Medici (1449-1492), người đứng đầu gia tộc đầy thế lực ở Florentine, là một nhà bảo trợ tiếng tăm, và bộ sưu tập những tác phẩm
cổ đại của ông là điểm nghiên cứu của nhiều nghệ sĩ Những nghệ sĩ trẻ, học tập trong các xưởng vẽ của các nghệ sĩ bậc thầy tiếng tăm, cũng có cơ hội tiếp cận với nghệ thuật cổ đại ở đó hoặc ít ra là các bản sao chép
Vậy nền văn hoá phục hung là sự khôi phục lại nền văn hoá đã có từ xa xưa, cách đó hai thiên niên kỷ Nhưng không chỉ là sự phục hồi, khoảng cách thời