Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất họ đã tạo ra một nền văn hóa, vănminh của chính mình mà tiêu biểu là việc tìm ra hai thành phố cổ Harappa vàMohenrơ- Đaro đã chứng minh cho sự xuất hi
Trang 1ĐỀ TÀI: NHỮNG THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC - KỸ THUẬT, NGHỆ
THUẬT KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC CỦA ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI
Họ tên: Nguyễn Thị Thùy Trang
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI 1
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Dân cư 4
1.2 Sơ lược lịch sử Ấn Độ cổ trung đại 4
1.2.1. Thời cổ đại 4
1.2.2 Thời trung đại 5
CHƯƠNG 2 NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA VĂN MINH ẤN ĐỘ 7 2.1 Nghệ thuật 7
2.1.1 Hội họa 7
2.1.2 Kiến Trúc 8
2.1.3 Điêu khắc 14
2.2 Khoa học tự nhiên 19
2.2.1 Thiên văn học 19
2.2.2 Toán học 19
2.2.3 Vật lý học 20
2.2.4 Y học 21
2.3 Tôn giáo 22
2.3.1 Đạo Bà la môn - đạo Hinđu 22
2.3.2 Đạo Phật 26
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển của thế giới suốt 5000 năm đãxuất hiện nhiều nền văn minh Từ ngay khi mới xuất hiện con người đã sáng tạocho mình những nền văn minh từ rất sớm mà cũng khá phát triển Đó là nhữngbằng chứng cụ thể nhất để những nhà khoa học hiện nay quay lại tìm hiểu,nghiên cứu lịch sử xã hội loài người từ khi mới xuất hiện cho tới ngày nay Vàmột trong những nền văn minh cổ có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nghiên cứu
đó chúng ta không thể không kể tới văn minh Ân Độ
Khi con người mới xuất hiện thì họ thường tập trung sinh sống ở các vùngrừng núi cheo leo nhưng cùng với sự phát trong tư duy và thực tiễn của quá trìnhsản xuất mà họ chuyển tới sống ở các vùng có điều kiện thuận lợi cho việc sảnxuất và sinh hoạt Lưu vực các con sông là nơi đất đai màu mỡ, nước tưới tiêuthuận lợi giao thông dễ đi lại nên tập trung lượng dân cư đông đúc và lưu vựcsông Ân cũng vậy Đó là lí do mà ngay từ rất sớm ở đây đã xuất hiện con ngườisinh sống Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất họ đã tạo ra một nền văn hóa, vănminh của chính mình mà tiêu biểu là việc tìm ra hai thành phố cổ Harappa vàMohenrơ- Đaro đã chứng minh cho sự xuất hiện của nền văn minh lưu vực sông
Ân (cách đây 3000 đến 1500 năm) Sau đó người Aryan đến xâm chiếm Ân Độ
đã phá hủy các thành tựu của nền văn minh cổ trên lưu vực sông Ân để xâydựng nên những nền văn minh mới của mình Đó chính là một trong những lí dotạo nên sự đa dạng của văn minh Ân Độ
Cùng với sự phát triển của xã hội nền văn minh Ân độ ngày càng phát triểnrực rỡ ở những góc độ, lĩnh vực và các thời đại khác nhau góp phần vô cùngquan trọng tới sự phát triển của Ân Độ và thế giới Chính tử lí do đó mà emquyết định lựa chọn đề tài tìm hiểu “Những thành tựu về khoa học - kỹ thuật,nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của Ân Độ cổ trung đại”
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
• Vị trí địa lý
Ân Độ là một “tiểu lục địa” nằm ở miền Nam châu Á, hai mặt Đông Nam
và Tây Nam giáp Ân Độ Dương Tây Bắc là vùng đồi núi thấp, giáp với Trung
Á và Tây Nam Á
Phía Bắc là dãy Himalaya hùng vĩ án ngữ theo một vòng cung dài 2.600
km, trong đó có tới 40 ngọn núi cao trên 7.000m so với mặt biển, biên giới tựnhiên giữa Ân Độ và Trung Hoa Theo trí tưởng tưởng của người Ân Độ cổ thìđây là những ‘trụ trời” đã nâng vòm trời lên cho nhân gian sinh sống
Himalaya theo tiếng Sanxkrít, có nghĩa là “nơi cư trú của tuyết” hay “xứ sởcủa tuyết” Trong trí tưởng tưởng của người Ân Độ thì Himalaya là nơi tiếp giápgiữa cõi trời và trần gian, là nơi trú ngụ và đi về của các thần linh nên nơi đâythường là chốn tu hành khổ luyện của những đạo sĩ muốn tĩnh tâm thiền định,chiêm nghiệm về bản chất của vũ trụ và nhân sinh, tìm con đường giải thoát chochúng sinh khỏi cảnh lầm than, khổ ải của cuộc đời
+ Thời cổ trung đại, lãnh thổ của Ân Độ rộng lớn hơn, bao gồm cả các nướcPakixtan, Bănglađét, Nêpan ngày nay
+ Ân Độ ngày nay là một nước có diện tích lớn vào hàng thứ 7 trên thế giới(3.280.483 km2) và có số dân đông thứ hai, sau Trung Quốc Nhìn trên bản đồ,
Ân Độ gần như chiếm trọn cả vùng Nam Á
• Điều kiện tự nhiên
+ Địa hình Ân Độ rất đa dạng: chia làm hai miền Nam và Bắc, lấy dãy núiVinđya làm ranh giới
Miền Bắc có hai con sông lớn là sông Ân (Indus) và sông Hằng (Gange).Lưu vực sông Ân là nơi phát nguyên của một trong những nền văn minh sớmnhất trong lịch sử nhân loại Hai con sông Ân và Hằng đã tạo nên những đồng
Trang 5ra vịnh Ôman, tên Ân của nó là Sindhu, có nghĩa là “sông” Người Ba Tư khivào đất Ân đã đổi nó thành Hinđu và gọi tất cả miền Bắc Ân Độ là Hindustan,nghĩa là “xứ sở các dòng sông” Chính nơi đây từ thiên niên kỷ thứ III TCN đãnảy sinh ra một nền văn minh nổi tiếng là Môhenjô Đarô và Harappa.
Sông Hằng được coi là con sông linh thiêng nhất của Ân Độ Nó bắt nguồn
từ dãy Himalaya, choàng ngang cả phía Bắc Ân Trong huyền thoại Ân Độ, sôngHằng là người con gái của Himalaya, không những vậy, theo người Ân Độ, sôngHằng còn là con sông ở trên trời Nó chảy tung bọt dưới chân thiên thần Visnu -thần Bảo tồn, nên nó có tên là Visnupadi Khi vua Bhagiratha để tiếp tục ýnguyện của cha mình, đã bỏ ngai vàng lên Himalaya luyện phép mới mời đượcsông Hằng rời thiên giới quay dòng chảy xuống tưới mát cho trần gian Nó chảyngang qua Himalaya và tiếp tục chảy xuống âm phủ Vì vậy sông Hằng có đến
ba dòng chảy qua cả ba thế giới: trên trời nó là Ngân Hà, ở mặt đất nó là Hằng
Hà, dưới âm phủ nó có tên là Patalaganga Vì sông Hằng chảy qua cả ba thế giớinên nó còn được gọi là Tripathaga
Đối với người Ân Độ, nước sông Hằng có sức thanh tẩy rất màu nhiệm:người có tội đến tắm nước sông Hằng sẽ trở nên trong sạch Đến với sông Hằng,gọi tên sông Hằng, người ta cảm thấy tĩnh tâm, thanh thản và như trút đi hết mọicực khổ, lo âu của cuộc đời Do vậy, sông Hằng được coi như sông Mẹ Hìnhtượng của sông Hằng được nhân hoá như là một người đàn bà mang một bìnhđầy nước, đứng trên một con cá sấu
Trang 6Việc tắm nước sông Hằng đã trở thành một sinh hoạt tôn giáo thiêng liêng
Đó là lễ hội tắm Kumbh Mela Hàng năm, hàng triệu tín đồ đạo Hinđu từ khắpmiền đất nước đều hành hương về đây tắm dòng nước mát sông Hằng để đượcrửa sạch mọi lỗi lầm, để được tĩnh tâm, an ủi Và khi chết, nếu được nhỏ vài giọtnước sông Hằng vào miệng thì đó là diễm phúc của cuộc đời “Dòng sôngHằng đã nắm giữ trái tim của Ân Độ và thu hút hàng bao nhiêu triệu người đếnđôi bờ của nó từ buổi bình minh của lịch sử Câu chuyện dòng sông Hằng, từngọn nguồn của nó đến biển cả, từ thời xưa đến thời nay, là câu chuyện của nềnvăn minh và văn hoá Ân Độ, của sự hưng suy của các triều đại, của những thànhphố lớn, kiêu hãnh, của cuộc phiêu lưu của con người và sự tìm tòi của trí tuệ
từng làm bận bịu các nhà tư tưởng Ân Độ.” (Jawaharlal Nehru: Phát hiện Ân
Độ, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, t1, tr 91)
Miền Nam Ân là cao nguyên Đêcan rộng lớn, có nhiều rừng rú và khoángsản, nằm giữa hai dãy núi Đông Ghát và Tây Ghát, chạy dài dọc theo hai mặtĐông và Tây của bờ biển Ân Độ Dương Vùng cao nguyên Đêcan có rất nhiềusông ngòi chảy qua và đổ ra biển, song mực nước của các con sông này không
ổn định nên không thuận lợi cho giao thông cũng như thuỷ lợi
+ Cùng với sự đa dạng của địa hình, khí hậu của Ân Độ cũng rất đa dạng
và khắc nghiệt: ở miền Bắc Ân - dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ, gió lạnhthấu xương, bão tuyết thường xuyên xảy đến, mùa hè băng tuyết tan lại tạothành những cơn thác lũ đổ xuống chân núi, có thể cuốn lấp đi cả một vùng làngmạc dân cư Ở miền Nam, khí hậu khô, nóng, đất đai khô cằn
^ Tóm lại, Ân Độ là một đất nước có điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lýhết sức đa dạng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt Đó là một tiểu lục địa mênhmông, vừa có những miền núi cao đầy băng giá và rừng rậm âm u, vừa có nhữngmiền đại dương chói chang ánh nắng, vùa có những con sông lớn với nhữngđồng bằng trù phú lại vừa có những cao nguyên và sa mạc khô khan, nóng nực
Trang 71.1.2 Dân cư
- Cư dân: Ấn Độ gồm rất nhiều tộc người, nhưng chủ yếu có hai thành phầnchủng tộc: Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Aryan từ vùng Caxpiên
di cư xuống miền Bắc Ấn Độ và định cư ở đó
Theo các tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ học, khảo cổ học và dân tộc học,
ở Ấn Độ có đến 1500 ngôn ngữ khác nhau Ngày nay, chính phủ Ấn Độ đã côngnhận 15 ngôn ngữ chính thức, trong đó tiếng Hinđu được coi là ngôn ngữ dântộc và tiếng Sanskrít là ngôn ngữ cổ dân tộc
1.2 Sơ lược lịch sử Ấn Độ cổ trung đại
• Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)
Lịch sử Ấn Độ thời kỳ này được phản ánh trong bộ kinh Vêđa, bộ kinhThánh của đạo Bàlamôn nên được gọi là thời kỳ Vêđa Chủ nhân của thời kỳVêđa là người Aryan (nghĩa là “người cao quý”) mới di cư từ Trung Á vào Ấn
Độ (vào khoảng năm 1500 TCN) Trước khi vào Ấn Độ, người Aryan còn đang
ở trong thời kỳ tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc, sống cuộc sống du mục, chưađịnh cư, tức là ở trình độ văn minh thấp hơn so với người Đraviđa Khi vào Ấn
Độ, người Aryan học tập kỹ thuật làm nông nghiệp của người Đraviđa, bắt đầusống định cư, dần dần xây dựng các quốc gia đầu tiên ở Ấn Độ Trong quá trình
đó, người Aryan đã xây dựng chế độ đẳng cấp, để bảo vệ chế độ đẳng cấp họdùng luật pháp (luật Manu) và tôn giáo (đạo Bàlamôn) Do vậy, trong thời kỳ
Trang 8Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia doAlêchxăngđrơ chỉ huy đã tấn công Ấn Độ, tuy nhiên họ đã không thành công.
• Ấn Độ từ thế kỷ IV đến thế kỷ II TCN:
Vương triều Môrya (321 - 187 TCN) do Sanđra Gúpta, biệt hiệu là Môrya(chim công) lập nên sau khi đánh thắng quân Makêđônia, giải phóng đất nước.Đây là triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại, đặc biệt giai đoạncường thịnh là thời Asôca (273 - 236 TCN) Đạo Phật trở thành quốc giáo
• Ấn Độ từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ IV sau công nguyên:
Sau khi Asôca chết, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng, nướcMagađa thống nhất dần dần tan rã, đến năm 28 TCN thì diệt vong Ấn Độ rơivào tình trạng chia cắt trầm trọng Tộc Cusan từ Trung Á vào chiếm miền TâyBắc Ấn Độ, thành lập nước Cusan Dưới thời vua Canixca (78 - 123) - vốn làmột người tôn sùng đạo Phật, nên Phật giáo thời kỳ này cũng rất hưng thịnh Saukhi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, đến thế kỷ V thì bị diệt vong
1.2.2 Thời trung đại
Vương triều Gúp ta (từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI): đây là thời kỳ xác lập chế
độ phong kiến ở Ấn Độ Giai đoạn này được xem là “Thời đại cổ điển” tronglịch sử Ấn Độ Các phương diện chính trị - xã hội và nền văn hóa được địnhhình, trở thành bản sắc của Ấn Độ
* Vương triều Hác sa (thế kỷ VII đến thế kỷ XII): là thời kỳ tồn tại chế độphong kiến phân tán ở Ấn Độ Trong thời kỳ này, có một giai đoạn dưới thời trị
vì của Hác sa, Ấn Độ trở thành một vương quốc tương đối hùng mạnh ở miền
Trang 9Đến năm 1200, toàn bộ miền Bắc Ấn Độ bị nhập vào Ápganixtan.
* Vương triều Hồi giáo Đêli (1206 - 1526)
Đây là thời kỳ thống trị của người Hồi giáo Năm 1206, viên tổng đốc củaÁpganixtan ở miền Bắc Ấn Độ đã tách miền Bắc Ấn Độ thành một nước riêng
tự mình làm vua (xuntan), đóng đô ở Đêli, gọi là nước Xuntan Đêli (hay vươngtriều Hồi giáo Đêli)
* Vương triều Môgôn (1526 - 1857): là thời kỳ Ấn Độ bị Mông Cổ xâmlược và thống trị Từ giữa thế kỷ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục Ấn
Độ, đến năm 1849, Ấn Độ hoàn toàn bị biến thành thuộc địa của Anh, vươngtriều Môgôn tồn tại đến năm 1857 thì bị diệt vong
Trang 10CHƯƠNG 2 NHỮNG THÀNH Tựu CHÍNH CỦA VĂN MINH ẤN ĐỘ
Do sớm hinh thành với lịch sử văn hóa lâu đời cùng với sự đa dạng trongthành phần dân tộc nên Ấn Độ đã đạt được nhiều thành tựu nghệ thuật đặc sắc,đóng góp lớn cho sự phát triển của nền nghệ thuật nhân loại Một số trong đócòn phát triển ở đỉnh cao, là thước đo mẫu mực, có tầm ảnh hưởng to lớn tới cácquốc gia khác đặc biệt là các quốc gia khu vực châu Á Sự phát triển của nghệthuật Ấn Độ thời kỳ cổ trung đại được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực đa dạng như
âm nhạc, mỹ thuật kiến trúc, điêu khắc, nhưng được biết đến nhiều hơn cả làthành tựu trên lĩnh vực hội họa, kiến trúc và điêu khắc Có thể thấy một đặcđiểm chung giữa nghệ thuật Ấn Độ với các thành tựu trên các lĩnh vực văn hóakhác là chúng đều thắm đượm chất tâm linh, tôn giáo rất sâu đậm của Hindugiáo, Phật giáo và Hồi giáo Những công trình mỹ thuật được xây dựng ở nhiềuthời kỳ khác nhau nhiều niên đại khác nhau, nhiều vùng văn hóa khác nhau vớiphong cách - vật liệu biểu đạt khác nhau (thường là sa thạch và cẩm thạch) tạonên sự đa dạng, phong phú nhưng vẫn mang một bản chất Ấn Độ rõ nét Đượcđánh giá là sự kết hợp hoàn hảo giữa những khát vọng tâm linh thánh thiện vớikhuynh hướng túng dục trần thế”
Lịch sử hội họa Ấn Độ cổ trung đại xoay quanh các vị thần trong tôn giáo
và các vị vua Nghệ thuật Ấn Độ là một thuật ngữ chung cho nhiều loại hìnhnghệ thuật khác nhau tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ Các bức tranh đa dạng từcác bức họa lớn trong hang Ajanta đến những bức tranh Mughal thu nhỏ đến cáctấm kim loại nhỏ để tôn tạo các công trình trong trường Tanjore Các bức tranh
từ Gandhar-Taxila ảnh hưởng bởi những tác phẩm từ Ba Tư ở phía tây Phongcách hội họa phương đông đã phát triển quanh trường phái nghệ thuật Nalanda.Các tác phẩm đa phần lấy nguồn gốc từ những hoạt cảnh khác nhau trong Thầnthoại Ấn Độ
Trang 11- Cột đá Sác-nát được dựng ngay ở vườn Lộc Dã, để ghi nhớ nơi xưa đức PhậtThích Ca đã thuyết pháp bài giảng đầu tiên của mình là bài Chuyển pháp luân,nói về Tứ diệu đế Cột làm bằng một phiến đá sa thạch, nguyên khối, caokhoảng 15m, trong đó phần đỉnh cột cao 2,45m Chung quanh cột có rào chắn.Thân cột tròn, nhẵn, lên cao hơi thon dần.
Phần đỉnh cột gồm ba bộ phận Một trụ hình đoá hoa sen lộn ngược, đỡ một
bệ đá tròn, chung quanh có khắc hình bốn bánh xe (tượng trưng cho pháp luânnhà Phật) xen kễ hình bốn con thú (bò rừng, ngựa, sư tử, voi) Trên cùng làtượng bốn con sư tử ngồi, dáng vẻ dũng mãnh và oai vệ, quay lưng vào nhau, hámiệng, mắt nhìn ra bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc Có thể coi đây là nhữngbức phù điêu và tượng súc vật đẹp nhất trong lịch sử thế giới cổ đại Sau này,hình bốn con sư tử trên đỉnh cột Sácnát được dùng làm biểu tượng cho quốc huycủa nước cộng hoà Ấn Độ
Trang 12- Tháp mộ (stupa): là nơi bảo tồn các di vật của Phật Điển hình nhất là thápXansi (Sanchi) ở Trung Ấn, xây từ thế kỷ III TCN Tháp được xây bằng gạch,hình nửa quả cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can có 4 cửa lớn Lan can vàcửa đều làm bằng đá, chạm trổ rất đẹp.
Tháp mộ StupaCùng với cột đá, kể từ triều đại Môrya và những triều đại kế tiếp, người ta
đã cho xây dựng ở Ấn Độ rất nhiều những tháp Phật, có kích thước và hình dángkhác nhau, người ta cho rằng lúc đầu các tháp này chính là một thứ một táng,chứa các di cốt sau khi hoả thiêu của đức Phật, các vị bồ tát, cao tăng và các vuachúa sùng đạo Phật Tất nhiên, không phải mọi tháp Phật đều chứa đựng hài cốt,
mà đôi khi chỉ chứa những di vật kỷ niệm như áo cà sa, đồ dùng, sách kinh Trong khu vực San-chi ngày nay vẫn còn ba tháp Phật, lần lượt được gọi làStupa I, Stupa II và Stupa III, nổi tiếng và lâu đời nhất là Stupa I (còn gọi là ĐạiStupa) Đó là một công trình kiến trúc độc đáo kết hợp nhuần nhuyễn với nghệthuật điêu khắc ở trình độ cao
Tháp Sanchi I được xây dựng từ thời vua Asôka triều Môrya, lúc đầu bằnggạch, sau đó được xây ốp đá thêm Hiện nay tháp Sanchi I cao 15m, đường kính
là 353m Nó bao gồm ba bộ phận chính: một bán cầu tượng trưng cho “quảtrứng vũ trụ”, trên có một vọng lâu và một hàng rào chung quanh
Bán cầu là một khối đặc khổng lồ bằng gạch đá, hình nửa quả cam úp sấp.Chỏm hơi dẹt, dựa trên một nền và có một hành lang viền quanh Trên chỏm, có
Trang 13xây một vọng lâu đáy hình vuông, được cho là để hài cốt Phật Trên
chống, mở ra bốn chiếc cổng ở bốn phía Nam, Bắc, Đông, Tây.
Trong toàn cảnh kỳ vĩ của chiếc tháp, người ta đặc biệt chú ý đến bốn chiếccổng Nó bao gồm hai cột đá đứng thẳng, đỡ ba xà ngang hơi cong bắc ngang
mà người ta cho là biểu tượng của tam thế (quá khứ, hiện tại, tương lai) trongđạo Phật Các thanh và cột của chiếc cổng đó đã được chạm trổ rất tinh vi, lànhững tuyệt phẩm của nghệ thuật điêu khắc trên đá Trên bức phù điêu đó,người ta thấy chi chít những hình ảnh có liên quan đến đạo Phật và tín ngưỡngdân gian: các bánh xe pháp luân, cây bồ đề, muông thú như chim thần ga-ru-đa,rắn thần na-ga, chim trĩ, voi, khỉ, sư tử
Đặc biệt ở cổng phía tây, có gắn những tượng nhỏ các thần linh trấn giữbụng phệ, hình ảnh rất sinh động, và ở cổng phía đông có gắn các tượng đắp nổicủa những tiên nữ, toát lên vẻ đẹp trong sáng và say đắm (hình ảnh phụ nữ khoảthân, mình thon, ngực và hông nở, dáng đứng uyển chuyển như muốn bay lên)
- Chùa hang: tiêu biểu là công trình chùa hang Ajanta được kiến tạo từ thế
kỷ II TCN đến thế kỷ VIII sau công nguyên, chùa được khoét sâu vào vách núi
đá, có nhiều cột chống và được trang trí bằng nhiều bức chạm trổ tinh vi vànhững tranh bích hoạ rất đẹp
Chùa hang Ajanta gồm tất cả 29 gian dùng để làm nơi thờ Phật, nơi giảngkinh và nơi ở của các nhà sư
Ngay từ những thế kỷ trước công nguyên, ở Ân Độ, đã xuất hiện một loạihình đền chùa - hang động đặc biệt Các đền chùa này được khoét sâu vào lòngnúi hoặc vách đá với một sự kiên nhẫn và tài nghệ kiến trúc - điêu khắc trên đáđáng ngạc nhiên Loại đền chùa này được duy trì và phát triển qua nhiều thế kỷđầu công nguyên, kéo dài đến tận khoảng thế kỷ thứ IX - X mới chấm dứt Ban
Trang 14đầu các đền chùa này chủ yếu là những kiến trúc Phật giáo, về sau có
đền chùa - hang động của đạo Hinđu và đạo Jaina.
Có hai loại đền chùa - hang động chính ở Ân Độ Một số ít là điện thờ gồmmột căn phòng hình chữ nhật, phía sau uốn cong hình chữ U, có một cổng vòmhình móng ngựa thông ra bên ngoài Số lớn còn lại là những tịnh xá hay tu viện
Ở Ân Độ cổ đại, các nhà sư gọi là “tì kheo” hầu như quanh năm đi giảng đạo vàkhất thực, chỉ đến mùa mưa mới trở về cùng nhau đàm đạo trong các tịnh xánày Tịnh xá gồm một phòng hình vuông dùng để hội họp, ba mặt của phòng nàythông vào các buồng nhỏ làm nơi ở của các nhà sư, mặt trước giáp với một hànhlang lớn
Phức hợp chùa hang Ajanta ở bang Maharastra miền Trung Ân là một ditích Phật giáo nổi tiếng toàn thế giới Người ta cho rằng các chùa hang này cócái đã được xây dựng từ thế kỷ II TCN, và sau đó còn được tiếp tục xây dựngcho đến tận khoảng thế kỷ IX Sau đó, khi Phật giáo suy vong, những chùa hangnày không được ai lui tới và bị lãng quên gần mười thế kỷ trong rừng núi hoang
vu Đến tận năm 1819, một đoàn người vào rừng đi săn, mới vô tình phát hiện ranhững hang động này, từ đó chùa hang Ajanta lừng danh khắp thế giới
Người ta đánh số các hang động ở Ajanta theo thứ tự, trong đó các hangđộng số 9, 10, 19, 26 và 29 là những điện thờ, còn lại là các tịnh xá Các hangđộng đẹp là các hang số 1, 2, 19, 26 Hang động số 6 là một tịnh xá có hai tầng.Trong các hang động có nhiều cột đá, dáng thấp và to, được chạm khắc phongphú
Các tượng và phù điêu mang tính chất Phật giáo có khá nhiều ở Ajanta.Người ta thấy ở đây có các hình tượng Phật, Bồ tát và các thú vật minh hoạ chocác Phật thoại Tuy nhiên, điều hấp dẫn nhất là những bức bích hoạ màu tuyệtdiệu trên các vách đá và trần nhà Những bích hoạ này đã đạt đến một trình độnghệ thuật điêu luyện hiếm có
+ Đền Kailasa thờ thần Siva
Trang 15+ Khu đền Khajurahô
Thời Xuntan Đêli và thời Môgôn, đạo Islam trở thành quốc giáo nên xuấthiện nhiều công trình kiến trúc mang phong cách Trung Á, Tây Á: nhà thờ Islamgiáo, cung điện, lăng mộ Đặc điểm chung của loại kiến trúc Islam giáo là máitròn, cửa vòm, có tháp nhọn
Tiêu biểu nhất là lăng Taj Mahal được xây dựng vào thế kỷ XVII - một kỳquan trắng của thế giới Islam giáo
Trang 16Lăng Taj MahahTaj-Mahal là một công trình kiến trúc vĩ đại của nhân loại, do nhà vua SátJa-han cho xây dựng Lăng được xây dựng năm 1632 do 24.000 thợ lao độngtrong suốt 22 năm ròng rã, tiêu tốn một số tiền khổng lồ là 40 triệu rupi Nhà vua
đã trưng tập nhiều thợ giỏi và các nhà kiến trúc có tài ở Ân Độ, Ba Tư, Ả Rậpvà
cả Italia để thiết kế và xây dựng lâu đài - lăng tẩm này
Khu lăng được xây dựng trên một khu đất hình chữ nhật rộng, có các chiều
là 580m và 304m, xung quanh là một cảnh quan xinh đẹp, hài hoà Kiến trúcchính của khu lăng là một toà lâu đài đáy hình bát giác, xây bằng đá cẩm thạchtrắng và sa thạch đỏ trên một nền rất cao Sừng sững in trên nền trời xanh là mộtvòm tròn cẩm thạch trắng cao 75m, dáng đồ sộ uy nhi, chung quanh còn có 4vòm tròn nhỏ hơn tô điểm cho vòm tròn lớn Ở bốn góc lại có 4 tháp nhọn, caotới 40m, tựa những cây bút chọc trời
Trong lăng, có rất nhiều riềm chạm khắc bằng 12 thứ đá quý, trang trí theophong cách Ân Độ truyền thống
Taj-Mahal là một trong những kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc nhân loại, là
sự kết tinh của lao động, là tài năng và trí tưởng tượng bay bổng của con người,
là sự phối hợp của những đường nét nghệ thuật trong sáng, hài hoà và táo bạo.Người ta đã gắn cho lăng này những mỹ từ như “viên ngọc trân châu của nhữngđền đài Ân Độ” hoặc “giấc mơ tiên hiện thành đá trắng”
+ Tháp Cutb Mina xây dựng đầu thế kỷ XIII, cao 73m, bằng đá
Tháp Cutb Mina
Trang 172.1.3 Điêu khắc
Có thể phân chia theo một cách tương đối thì nghệ thuật điêu khắc của Ân
Độ thời cô trung đại chia thành 2 khuynh hướng lớn là: điêu khắc theo đạo Phật
và điêu khắc theo đạo Hin-đu Sở dĩ có sự phân chia này bởi có hai nguyên nhânrất đặc trưng Thứ nhất, như đã biết hầu hết các ngành văn hóa của Ân Độ “thấmđượm chất tâm linh, tôn giáo rất sâu đậm” mà điêu khắc cũng không nằm ngoài
sự ảnh hưởng đó Nguyên nhân thứ hai là những hình tượng điêu khắc được sửdụng nhiều thông qua các hình tượng phù điệu Các tôn giáo khác tuy cũng cónhững điêu khắc, phù điêu nhưng không đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuynhiên cần nhận thức được rằng đây chỉ là cách chia tương đối giúp ta có thể nắmđược cái nhìn tổng thể, cơ bản nhất về nghệ thuật điêu khắc Ân Độ thời cổ trungđại chứ không mang tính chất chính quy, truyền thống Và cách chia này cũngchỉ được áp dụng riêng cho nghệ thuật điêu khắc
• Điêu khắc theo đạo phật
Có nhiều nguyên nhân khách quan mà nghệ thuật điêu khắc của Ân Độ bịhạn chế phát triển trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong giai đoạn đầutiên của lịch sử Cho mãi đến khi đạo Phật với đồng Đại thừa ra đời, việc phảnđối thờ thần tượng, ảnh bị xóa bỏ mới tạo điều kiện cho điêu khắc phát triển.Khi nghệ thuật điêu khắc lấy lại vị trí của mình (khoảng năm 200 TCN), mớiban đầu chỉ là các phiến đá chạm nổi làm hàng rào chung quanh các stupa (tháp)Phật, hoặc các nấm mộ ở Bodh-gaya và Bharhut- tức là trong khoảng thời gianđầu đó, điều khắc chỉ là một ngành phụ của nghệ thuật kiến trúc chứ chưa cóhẳn một vị trí như một nganh nghệ thuật riêng Điều khắc giữ nguyên vị trí phụthuộc đó trong suốt lịch sử phát triển của nó, ưa kỹ thuật chạm nổi hơn là kỹthuật đục thành tượng (ronde-bosse) Trong các đền Jain ở Mathura, các điệnPhật ở Amaravai và Ajanta, nghệ thuật chạm nổi đó đã đạt tới tột đỉnh Nó đượcđánh giá là “đóa hoa đẹp nhất, có xuản tình nhất của ngành điêu khắc đa
Thời vua Ashoka (273- 237TCN) ở Ân Độ đã xuất hiện nhiều cột đá (lat)tương trưng cho một thứ trụ trời, nổi tiếng nhất là chiếc cột đá Sanat ở trườn Lộc
Trang 18Dà, nơi xưa kia Đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp bài giảng đầu tiên.
ốp đã Đó là một bản cẩu cao 15m, đường kính 35m, tượng trưng cho quả trứng
vũ trụ" khổng lồ, chung quanh có hang rao va hệ thống công đã được chạm khắcrất tinh vi, sinh động ứng với bản hương đông tây nam bắc là bổn công bằng đá,mỗi công bao gồm hai cột đứng thẳng đỡ ba xa ngang hơi rong hắn ngang hiệntrong ca tam thể (mà khử hiện tại trong tay trong trong lòng có chứa ít tro xươngcủa Đức Phật và các vị Bồ Tát Tháp Sanchi I (còn gọi là Đại Stupa) có niên đại
từ Tr.CN bằng gạch được ốp đá Đó là một bán cầu cao 15m, đường kính 35m,tượng trưng cho “quả trứng vũ trụ” khổng lồ, chung quanh có hàng rào và hệthống công đã được chạm khắc rất tinh vi, sinh động ứng với bốn hướng đông,tây, nam, bắc là bốn công bằng đá, mỗi công bao gồm hai cột đứng thẳng đỡ ba
xà cong bắc ngang, biêu tượng của tam thể (quá khứ, hiện tại tương lai) tronggiáo lý nhà Phật Ở mỗi cột, mỗi đầu cột, mỗi cây chéo, mỗi cây chống đều đầyhình chạm nổi, được đánh giá là đạt đến trình độ điêu luyện của nghệ thuật chạm
Trang 19nổi", một thảm điêu khắc dày đặc, sống động và tinh tếNhững nghệ
Ca Mâu Ni ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề, chân xếp, tay chắp lên ngực, mắtnhìn xuống ẩn chứa bao nỗi niềm trăn trở, từ bi Tất cả đều được khắc họa rấtsinh động, tinh vi để trong tâm tư người đời thấy sự tĩnh lặng và đồng thời giantrong cái nhìn ăn dật đó
Điều đặc biệt mà người ta tìm thấy ở tháp Sanchi không chỉ ở bởi kiến trúcđộc đáo mà còn bởi nó là tuy là một công trình Phật giáo nhưng còn mang âmhưởng của đạo Hin- đu Trên công phía Đông nơi có gốc cây bồ đề mà Phật tửgiang đao còn có chạm nói một nữ thân (Yaksi - Will Durand miêu tả: “Chân taynặng nề, mông dày, bụng thon, bộ ngực nhô ra đồ sộ, điệu bộ phóng túng gợitình” Hai bên cây chéo của công cũng nhìn thấy những đắp nổi tuyệt đẹp củanhững tiên nữ khỏa thân Trong tư thế bay bổng trên không trong cơ thể uốncong, dáng đứng uyển chuyển mềm mại, mình thon, ngực và hồng nở, nhữngtiên nữ toát lên vẻ đẹp vừa trần tục, vừa thánh thiện Một nhà nghiên cứu lịch sửnghệ thuật đã thốt lên đầy thán phục: " Người thợ điêu khắc Ân Độ đã biết phôdiễn một cách tuyệt vời cơ thể con người, ở tượng nữ quần áo đơn giản đến mứcngười ta chỉ có cảm giác Và tinh nhục cảm thể hiện rõ ở đôi môi, bộ ngực, cánhtay tất cả đều tràn trề một tình cảm nồng cháy, nóng bỏng tình người Điều đócho thấy trong sự phát triển của điêu khắc Phật giáo nói chung vẫn có những sựảnh hưởng nhất định từ điêu khắc theo kiểu Hinđu giáo, điều đó chứng tỏ giữachúng có những sự giao lưu và tiếp biến vừa không mất đi cái “chân” của tácphẩm đồng thời tạo thêm những nét đặc sắc cho chính tác phẩm của mình Và
Trang 20cũng không hề ngạc nhiên khi ta bắt gặp được một nét hơi “Phật"
nhưng cuối cùng nó cũng không tồn tại được lâu Trên đất Ân Độ phai này đã
mất hẳn và nghệ thuật thuần túy chất Ân xuất hiện trở lại cùng với các
bản xứ Dưới các triều đại Gupta ngành điêu khắc cũng đã đạt được một số thành tựu đang kề Đạo Phật đã không còn ghét các hình tượng nữa, một phải
Tàn Bà La Môn đã khuyên khích nghệ thuật tượng trưng và tô điểm tôn giáo
bằng mọi hình thức nghệ thuật Nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị đã ra đời
trong giai đoạn này Với sự hỗ trợ của những bức phù điêu, những tượng những
cột thập đã tô điểm thêm cho những công trình Phật giáo thành quy mô, có tác
dụng trang trí quan trọng góp phanvao thanh tựu đác sắc của văn minh Ân Độ.
• Điêu khắc theo đạo Hin - đu
Bên cạnh các loại hình tượng Phật thì hình tượng các vị thần trong đạoHindu như thần Visnu, thần Siva, cũng là một đề tài cho những nghệ nhânđiêu khắc Ân Độ cổ trung đại khai thác Hình tượng các vị thần này được thểhiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tượng thần linh Visnu ở tư thế nằmtrên rắn, thần Ananta giữa mặt biển mênh mông hoặc cưỡi chim thần Garuda,Siva ở các tư thế tọa thiền, thổi sáo, cưỡi bò thần Nandin, đặc biệt là tư thể nhảymúa trên mình quỷ lùn với 4 tay cầm các báu vật, bàn chân giơ lên quanh mộtvòng lửa, Mặc dầu vậy về cơ bản hình tượng các thần đều là hình tượng đầunhiều mặt nhiều tay và đôi khi lại có những hình thu rất đáng sợ
Nhìn nhận và đánh giá chung về thành tựu của điêu khắc theo đạo Hin-đu
có thể kể ra nhiều tác phẩm đạt nhiều giá trị nghệ thuật như: bức tượng tạc thầnVisnu ở Sultanpur, bức tượng thần Padmapani được đục đẽo rất tinh vi, bứctượng khổng lồ tạc thần Siva ba mặt (gọi là triềurti) ở trong hang Elephanta,