1. Trang chủ
  2. » Tất cả

triet (1)

4 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 171 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò quyết định của nhân tố vật chất đối với nhân tố ý thức Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất án

Trang 1

pháp luận của việc vận dụng mối quan

hệ đó trong hoạt thực tiễn

1.Khái niệm vật chất

-Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc và

khoa học tự nhiên, đồng thời kế thừa và

của C.Mác và Ph.Ăngghen, Lênin đã nêu

chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ

người trong cảm giác, được cảm giác

chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và

tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

Định nghĩa vật chất của Lênin bao hàm

các nội dung sau đây:

-Một là, vật chất là một phạm trù triết học

dung để chỉ thực tại khách quan Cần phân

học với những dạng biểu hiện tồn tại cụ

trù triết học dùng để chỉ thực tại khách

quan

-Hai là, thực tại khách quan được đem lại

không lệ thuộc vào cảm giác Tức là, thực

trước ý thức, không phụ thuộc vào ý thức,

thức) của con người là cái có sau vật chất,

Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách

quan, là nguyên nhân phát sinh ra ý thức

-Ba là, thực tại khách quan được cảm giác

của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh.

nhau, con người có thể nhận thức được thế

nhưng tồn tại một cách hiện thực dưới

thể, con người bằng các giác quan của

biết được

Khái niệm ý thức

Ý thức là phạm trù triết học chỉ toàn

bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới

hình thành trong quá trình lao động và

3 đặc trưng cơ bản sau:

Ý thức chỉ là đặc tính của một dạng vật

chất sống có tổ chức cao là bộ óc người

Phản ánh ý thức là phản ánh tích cực, chủ

động mang tính mục đích

Phản ánh ý thức mang tính sáng

tạo

Ý thức ra đời từ 2 nguồn gốc cơ bản

là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

-Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là đặc trưng

ánh cao nhất về thế giới xung quanh Ý

vào trong bộ óc con người, nội dung của

thông tin về sự vật được phản ánh Bộ óc

sản phẩm phát triển cao của thế giới vật

song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể

giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó

xảy ra Như vậy, bộ óc người cùng với thế

nguồn gốc tự nhiên của ý thức

-Nguồn gốc xã hội: Những tiền đề, nguồn

thiếu được, song chưa đủ Điều kiện quyết

đề, nguồn gốc xã hội Sự ra đời của ý thức

của bộ óc con người, dưới ảnh hưởng của

xã hội Ý thức là sản phẩm của sự phát

ngay từ đầu mang tính chất xã hội Hay

sự ra đời của ý thức là lao động và ngôn

ngữ

Tóm lại, để ý thức xuất hiện phải cần và

người, lao động và ngôn ngữ Nguồn gốc

ra đời và phát triển của ý thức là lao động,

hiện thực khách quan vào bộ óc con người

xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là hiện

tượng xã hội

Mối quan hệ giữa vật chất và ý

thức

Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý

điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau

thế giới quan khác nhau đã có cách giải

quyết khác nhau về vấn đề này

Chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ

chỗ thừa nhận ý thức là bản chất của thế

trước, vật chất là cái có sau; ý thức sinh ra

và quyết định đối với vật chất

Chủ nghĩa duy vật trước Mác xuất phát từ

khẳng định: vật chất là cái có trước, ý thức

quyết định ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:

hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau

quan hệ đó vật chất giữ vai trò quyết định

trở lại vật chất thông qua hoạt động thực

chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối, vừa

có tính tướng đối

Vai trò quyết định của nhân

tố vật chất đối với nhân tố ý thức

Trong mối quan hệ với ý thức, vật

chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật

chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất

ánh đối với vật chất; điều kiện vật chất

điều kiện vật chất biến đổi thì ý thức phản

nhân tố vật chất đối với nhân tố ý thức thể hiện:

Một là, những mục đích, chủ trương mà đúng đắn, là hiện thực phải xuất phát từ các quy luật khách quan Ngược lại, nếu kiện, hoàn cảnh khách quan làm trái

vụ không thực hiện được, không tưởng và tất yếu sẽ đi đến thất bại trong công tác

Hai là, mục tiêu, nhiệm vụ đúng phải có thắng lợi trong hoạt động thực tiễn Những thế giới vật chất không phải là sự sáng tạo

gì đã và đang có trong hiện thực

Ba là, bản thân tư tưởng, dù là tư tưởng tốt đẹp đến mấy, tự nó không trực tiếp mọi trường hợp, mọi lúc, mọi nơi, nhân tố thức bao giờ cũng chỉ là phản ánh vật chất, quan

Bốn là, ý thức tư tưởng chỉ có thể được quan hệ vật chất nhất định, cho nên không quan hệ vật chất trong lịch sử được Vì những quy luật khách quan vốn có, chúng thức muốn được thực hiện và có tác dụng,

và được con người tổ chức thực hiện trong thực tiễn

Sự tác động trở lại của nhân tố ý thức đối với nhân tố vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại thông quan động trở lại của nhân tố ý thức tới nhân tố vật chất được biểu hiện:

Một là, muốn đề ra mục đích, chủ trương phải nhận thức đúng được điều kiện vật thức giữ vai trò rất qtrọng Vì, nếu không cho phép thì sẽ đề ra mục đích, chủ trương

và biện pháp sai lầm

Hai là, khi đã có mục đích, chủ trương và biện pháp đúng, muốn cho thực, con người cần có ý chí, nghị lực tưởng trở thành nhân tố quan trọng và

cụ thể cho phép, những nhân tố ý thức giữ động thành công hay thất bại khi thực hiện những khả năng khách quan

Ba là, ý thức tư tưởng có thể thúc đẩy thức do vật chất sinh ra và quyết định, lập tương đối, nên nó tác động trở lại to thực tiễn của con người Ý thức đúng đắn luật khách quan có tác dụng tích cực, làm khách quan theo nhu cầu của con người Ý thực tế, từ các quy luật khách quan có tác kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan kéo lùi lịch sử

Tóm lại : Bằng việc định hướng

cho hoạt động của con người, ý thức có hoạt động thực tiễn của con người đúng hay không hiệu quả

Ý nghĩa phương pháp luận của việc vận dụng mối quan hê đó trong hoạt động thực tiễn

Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa nguyên tắc phuơng pháp luận cơ bản, thức và thực tiễn của con người, như sau:

-Một là, chống bệnh chủ quan duy ý chí, mà biểu hiện là quá đề cao, chủ quan, là quan niệm sai trái cho rằng người ham muốn, bất chấp quy luật khách chất tối thiểu, lấy ý chí áp đặt thực tế, lấy hỏi trong mọi hoạt động nhận thức và thực quan, tôn trọng khách quan đồng thời phát khách quan đòi hỏi chúng ta trong nhận duy ý chí, không được lấy ý muốn chủ phát cho chiến lược hay sách lược cách quan, từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật tôn trọng sự thật, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

-Hai là, phải biết nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách tiến công cải tạo hiện thực theo nhu cầu thụ động, vin vào điều kiện khách quan Thái độ đầu hàng, chịu bó tay trước khó coi thường, hạ thấp vai trò và tác dụng của tạo của con người trong hoạt động thực tiễn

-Ba là, thực hiện nguyên tắt khách quan và phát huy tính năng động chủ quan tạo của ý thức và phát huy vai trò của nhân tố

cách quan tâm đến lợi ích, phải kết hợp

tế, lợi ích chính trị và lợi ích tinh thần… lợi ích các nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã thật sự khách quan và không vụ lợi

Tóm lại: Trong nhận

thức và hoạt động thực tiễn của con người, liên hệ hữu cơ với nhau Xác định và giải mới tập trung được sức mạnh vật chất và vụ

Trang 2

Vấn đề 2: Khái quát ngồn gốc,

phương thức, khuynh hướng vận

động và phát triển của sự vật hiện

tượng; ý nghĩa phương pháp luận

trong hoạt động thực tiễn.

Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới vật

chất ra đời, tồn tại và phát triển đều tuân

theo các quy luật Quy luật là mối liên

các sự vật hiện tượng hay giữa các nhân

tố, thuộc tính của chúng Những quy

những quy luật phổ biến, chẳng hạn như

quy luật chuyển hóa từ những thay đổi

về lượng thành những thay đổi về chất

và ngược lại (quy luật lượng chất) nói

triển; quy luật thống nhất và đấu tranh

của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)

phát triển; quy luật phủ định của phủ

định nói lên khuynh hướng của sự vận

động và phát triển

Quy luật thống nhất và đấu

tranh của các mặt đối lập (quy luật

mâu thuẫn): quy luật này đã chỉ ra

nguồn gốc của sự vận động và phát

triển

-Các mặt đối lập biện chứng phải là

tại trong một sự vật, có thuộc tính,

khuynh hướng vận động, biến đổi trái

ngược nhau

-Sự thống nhất của các mặt đối lập

nghĩa là chúng cùng tồn tại, liên hệ, liên

cùng một sự vật, mà thiếu những cái đó

triển nào Mặt khác, đó là sự tác động

triển cụ thể nhất định của sự vật hiện

tượng Nhìn chung, sự thống nhất giữa

nó, tạo nên sự đứng yên tương đối

-Đấu tranh của các mặt đối lập nhìn

bởi vì các mặt đối lập bản chất của

chúng là trái ngược nhau Đấu tranh

giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, cũng

như sự phát triển vận động là tuyệt đối,

còn thống nhất giữa các mặt đối lập là

điều kiện tạm thời, thoáng qua, tương

đó, trong một thời điểm nào đó Đấu

tranh là động lực rõ nét nhất của sự phát

triển

-Quan hệ biện chứng giữa thống nhất

và đấu tranh giữa các mặt đối lập: Các

mặt đối lập vừa đấu tranh lại vừa thống

giữa các mặt đối lập làm cho các mặt

đối lập chuyển hóa với nhiều hình thức

khía cạnh của mặt đối lập này sang đối

lập khác

-Mâu thuẫn biện chứng là hai mặt đối

chế ước lẫn nhau Như vậy, mâu thuẫn

có thống nhất, vừa đấu tranh vừa thống

chung nhất của mâu thuẫn Theo nghiã

thuẫn Không ở đâu và không bao giờ

mà không có mâu thuẫn Nhìn sự vật mà

lối nhìn hời hợt, nông cạn, bề ngoài ;

còn thống nhất biện chứng là thống nhất

bên trong mâu thuẫn

-Mâu thuẫn là sự bất đồng, sự không

đối lập Mâu thuẫn theo nghĩa này là

nghĩa phổ biến của mâu thuẫn Nhưng

nguồn gốc của sự vận động và phát

triển, bởi lẽ mâu thuẫn là sự thống nhất

thống nhất có đấu tranh, trong đấu tranh

có thống nhất, bao hàm sự thống nhất

Ý nghĩa phương pháp luận

-Năng lực của người lãnh đạo

quản lý trước hết phải là năng lực phát

nhận thức, cải tạo sự vật, hiện tượng

hiểu mâu thuẫn phải phân tích toàn diện

thành, phát sinh, phát triển của chúng

-Để phân tích, giải quyết mâu

thuẫn có hiệu quả, bên cạnh việc nhiệt

hiểu biết, phải có vốn và kinh nghiệm

sống nhất định

-Đối với những loại mâu thuẫn khác

quyết khác nhau Mâu thuẫn chỉ được

giải quyết khi có đủ điều kiện chín

vàng, tự phát ; mặc khác, chúng ta cần

mâu thuẫn

-Giải quyết tốt sự thống nhất của các

bao hàm sự đấu tranh cũng là động lực

cho sự phát triển

-Trong lịch sử nhân loại trước C.Mac,

đấu tranh ; phương Đông có xu hướng

nghiêng về thống nhất, cân bằng Triết

tác động qua lại của các mặt đối lập, do

đó đã kế thừa được những tinh hoa của

cả hai phương trời

-Quy luật chuyển hóa từ những thay

chất và ngược lại : quy luật này đã

phát triển

Trong mỗi sự vật, hiện

tượng luôn tồn tại hai yếu tố là chất và

lượng :

+Chất là phạm trù triết học

dùng để chỉ tính quy định khách quan

vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu

cơ của các thuộc tính để phân biệt sự vật

để chỉ tính quy định vốn có của sự vật hiện tượng, biểu thị số lượng, quy mô,

và phát triển của nó

+Chất và lượng nằm trong mối quan tách rời nhau Lượng bao giờ cũng là lượng có chất, trong chất có lượng biểu hiện qua lượng Sự biến đổi của

về lượng Nhưng không phải bất cứ sặ tức lam thay đổi căn bản về chất, tức Khoảng giới hạn mà trong đó sự thay bản về chất gọi là độ Hai đầu của độ nút này, sự vật sẽ chuyển thành sự vật thức sự chín muồi, là biết được thời sách phù hợp ; ngược lại có thể bỏ lỡ

đó dễ thất bại

+Các hình thức của bước nhảy : Bước

cũ sáng chất mới do kết quả của sự trình tích lũy về lượng đến một thời hóa Ngược lại, khi chất đổi sẽ làm quy mô lớn hơn Thay đổi về chất cũng như sự kết hợp các yếu tố cấu đổi các yếu tố cũng như cách kết hợp thay đổi đột biến về lượng Lượng lại giới hạn nào đó lại dừng lại nếu không đời Cứ như thế, cái đó làm cho sự gián đoạn, vừa tiệm tiến vừa nhảy vọt, không ngừng của vạn vật, thế giới

Ý nghĩa phương pháp luận

-Muốn có sự biến đổi về chất phải có phải chống tư tưởng nôn nóng, vội tĩnh phấn đấu kiên trì, bền bỉ, tìm ra những bước đi thích hợp -Nhưng chỉ lo biến đổi về lượng mà không chú ý đến những điề lầm Do đó, cần tránh tư tưởng bảo Nhưng nếu quá trình nhấn mạnh biến

dễ rơi vào phiêu lưu mạo hiểm

Quy luật phủ định của phủ định : vạch ra khuynh hướng của sự vận động và phát triển

-Sự phủ định là sự thay thế

sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển -Phủ định biện chứng là sự thay thế những biến đổi bên trong của sự vật quan, tự thân phủ định, phủ định mang tính kế thừa

-Phủ định siêu hình là sự phủ định do sự tác động từ bên ngoài, phủ định sạch trơn

-Phủ định của phủ định, hình thức xoáy ốc của sự phát triển : +Phủ định là một chu kỳ, vòng khâu

ra sự vật có nhiều điểm đối lập với vật triển, đến một lúc nào đó, nó lại tỏ ra thay thế bằng cái khác phù hợp hơn +Phủ định của phủ định, tức phủ định phủ định đã tỏ ra lỗi thời, do đó, đầu, lại vừa kế thừa, phát triển, bổ cái phủ định Phủ định của phủ định là động, con đường phát triển đi theo lại, lại vừa nâng cao lê một bước mới

Ý nghĩa phương pháp luận

Cần phải phủ định, loại bỏ cái lạc hậu, bảo thủ, tránh phủ định sạch trơn chọn lọc, không đổi mới, bổ sung, phát hiện cái mới mặc dù lúc đầu còn phát huy, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ lạc hậu

Trang 3

lý luận và thực tiễn và sự vận dụng

vào việc nhận thức con đường quá độ

đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

-Khái niệm về lý luận và thực tiễn

-Khái niệm thực tiễn

Xuất phát từ con

người hiện thực, con người lịch sử,

người trong hoạt động cải tạo thế giới

Vì vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác về

quan điểm của các nhà Triết học trước

đây

“Thực tiễn là toàn bộ

những hoạt động vật chất, có tính chất

lịch sử - xã hội của con người nhằm cải

tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.”

Thực tiễn là phương

thức tồn tại cơ bản của con người, phản

với tự nhiên và xã hội Chủ nghĩa Mác –

thực tiễn là:

-Thứ nhất, hoạt động sản xuất

ra của cải vật chất Hình thức này được

hoạt động bản chất của con người Hoạt

động này cũng là tiêu chí cơ bản nhất để

phân biệt giữa con người và con vật

-Thứ hai, hoạt động cải tạo xã hội, đặc

thay đổi các thể chế xã hội Hoạt động

chính trị - xã hội chỉ tồn tại trong các xã

giai cấp Đỉnh cao của các cuộc đấu

tranh là cuộc cách mạng xã hội

-Thứ ba, hoặt động thực nghiệm khoa

xã hội Xã hội càng phat triển thì dạng

trở thành một nhân tố quan trọng để

nâng cao hiệu quả hoạt động cải tạo thế

giới của con người

Cả hai dạng sau đều phụ thuộc

vào dạng thứ nhất tức là phụ thuộc vào

việc sản xuất ra của cải vật chất

Khái niệm lý luận

Theo nghĩa hẹp, lý luận chỉ bao gồm lý

lý luận bao gồm toàn bộ các hệ thống tri

thức về tự nhiên cũng như về xã hội

Một cách đầy đủ, “lý luận là hệ thống

các tri thức về tự nhiên và về xã hội trên

cơ sở khái quát những tri thức kinh

mối liên hệ trong hiện thực hoặc chỉ ra

giới khách quan.”

Để hình thành lý luận, con người phải

trải qua hai trình độ nhận thức: nhận

thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận

-Nhận thức kinh nghiệm thực chất là

quá trình tổng kết thực tiễn tìm ra những

chung nhất của các sự vật hay các quá

trình để hình thành tri thức kinh nghiệm

kinh nghiệm thông thường và tri thức

kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh

thực tiễn hàng ngày của mọi người Tri

thức kinh nghiệm khoa học được hình

khoa học Mặc dù tri thức kinh nghiệm

người nhưng tri thức kinh nghiệm có

đặc điểm chung là tính khái quát chưa

cao, nó chỉ phản ánh từng mặt, từng loại

và tác động không lớn

-Nhận thức lý luận và quá trình khái

các nguyên lý, các quy luật hay các

lý luận chỉ xuất hiện từ khi xã hội có sự

phân công giữa lao động trí óc và lao

lý luận càng phát triển, thúc đẩy xã hội

phát triển càng nhanh Tuy nhiên, lý

luận phải khái quát từ tri thức kinh

cầu của cuộc sống không nhanh bằng tri

thông qua kinh nghiệm nên lý luận chỉ

đó cũng dễ nảy sinh xu hướng xa rời

cuộc sống, xa rời hiện thực

Quan hệ biện chứng giữa lý luận và

thực tiễn

Vai trò của thực tiễn đối với lý luận

-Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở

của lý luận Thông qua những hoạt động

tự nhiên hay xã hội, thông qua những sự

chúng, thông qua những sự thử nghiệm

thành các tri thức kinh nghiệm và nhờ

chúng mới có tri thức khoa học

-Thứ hai, thực tiễn là động lực

của lý luận Vai trò động lực của thực

nhiều phương diện:

Một là, thực tiễn, khi phát triển đến

một mức độ nhất định, sẽ tạo điều kiện

cho sự pát triển của lý luận, đồng thời

yêu cầu thúc đẩy lý luận phát triển

Hai là, thực tiễn làm nảy sinh

những vấn đề mâu thuẫn với lý luận, từ

đó cũng thúc đẩy lý luận phát triển

Ba là, thực tiễn khẳng định tính khoa

học và tác dụng to lớn của lý luận cũng

trở thành động lực phát triển của lý luận

luận Sự ra đời của lý luận không phải vì

lý luận mà là thực tiễn Mọi lý luận, kể

cả tiến bộ và không tiến bộ đều chỉ có

một trong hai mục tiêu cơ bản: hoặc là

nhằm thúc đẩy, nâng cao hiệu quả những

hoạt động cải tạo tự nhiên hoặc xã hội

hoặc hạn chế hoạt động của con người

- xã hội nào đó

-Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn

để kiểm tra lý luận Lý luận là kết quả

của cả quá trình nhận thức gồm hai giai

đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức

lý luận có thể phản ánh sai hiện thực

lý luận phải có sự kiểm nghiệm, đánh chuẩn để đánh giá lý luận không có thực tiễn Một lý luận chỉ được xem là khách quan và đã được thực tiễn kiểm của thực tiễn mà lý luận được khẳng được điều chỉnh hay loại bỏ

Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

-Mặc dù lý luận được hình thành trên thực tiễn nhưng lý luận không phải là rất lớn đối với hoạt động thực tiễn, tác biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người

-Vai trò của lý luận thể hiện trước hết hoạt động của con người Lý luận thành thế giới quan, phương pháp luận

để xác định những mục tiêu phương tiếp tới hiệu quả của các hoạt động thực tiễn diễn ra theo hai hướng tích đẩy các hoạt động cải tạo thế giới và nâng cao hiệu quả của các hoạt động trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội của các hoạt động này

-Sự tác động của lý luận còn phụ quần chúng Lý luận xâm nhập càng càng mạnh Lý luận càng được phổ

nó càng lớn bấy nhiêu Vai trò của lý triển của xã hội Xã hội phát triển

để phát triển và được vận dụng nhanh chóng vào cuộc sống

-Cuối cùng, sự tác động của lý luận của các chủ thể hoạt động Lý luận là nghiệm nên lý luận chỉ ra những cái sâu vào các đặc thù Song khi vận những điều kiện, những hoàn cảnh hết thuộc vào những điều kiện cụ thể để hướng hoạt động phù hợp

Từ tất cả những điều trên có thể rút ra nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin là:

-Mọi lý luận phải xuất phát

từ thực tiễn, phải phục vụ thực tiễn, được phát triển, bổ sung qua thực tiễn

lý luận, phải được lý luận dẫn đường

Hay nói cách khác: Lý luận mà không

mà không lý luận là thực tiễn mù quán

Sự vận dụng vào việc nhận thức con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay

Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa thức con đường quá độ đi lên chủ chất là quá trình kết hợp giữa lý luận tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đổi tìm bước đi thích hợp, đưa Việt Nam

xã hội chủ nghĩa Quá trình này có hai học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – tổng kết thực tiễn sinh động của đất

kỳ đổi mới

Quá trình nhận thức về chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi mới

Với sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lê chuyển từ không tưởng trở thành khoa của chủ nghĩa xã hội hiện thực vào tranh thế giới thứ 2 Sự ra đời của chủ

sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin trên thế giới Tuy nhiên, phong trào

ở các nước tư bản chưa phát triển và chưa qua chủ nghĩa tư bản nên sự nhiều lệch lạc Một xu hướng phổ

Lê nin, biến chủ nghĩa Mác – Lê nin tắc giáo điều Xu hướng thứ hai là nhắc, không tính toán đến điều kiện tộc hay mỗi thời điểm khác nhau của lịch sử

Việt Nam là một quốc gia không xuất rất thấp, lại liên tục trải qua các với những hậu quả hết sức nặng nề

nhiều những tổn thất, những hi sinh,

tư tưởng về chủ nghĩa xã hội ở Việt

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam còn dựa theo kinh nghiệm của các nước khác Bệnh chủ quan

là những căn bệnh khá nghiêm trọng

Từ mô hình đến con đường đi lên vào kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt với tinh thần khoa học của chủ nghĩa Chí Minh và cũng không xuất phát từ nghiêm trọng nguyên tắc thống nhất nghĩa Mác – Lê nin

Quá trình nhận thức về chủ nghĩa

xã hội trong thời kỳ đổi mới

-Điểm nổi bật nhất của thời kỳ đổi của chủ nghĩa xã hội và mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Thành tựu Cộng sản Việt Nam về mô hình chủ nghĩa xã hội trước hết thể hiện ở chỗ

là “nhìn thẳng vào sự thật”, đánh giá dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và định quan điểm và phương pháp của Mác – Lê nin vào thực tiễn đổi mới ở chân giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê dụng sáng tạo những lý luận này vào tưởng giáo điều, chủ quan, siêu hình

và chủ nghĩa kinh nghiệm -Dựa trên những kinh nghiệm lịch sử, luận chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn,

sử cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và Việt Nam Đại hội VII đã nêu ra 6 đặc phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã được tiếp tục phát triển và đến Đại hội

X đã đi đến kết luận: “Xã hội xã hội nhân dân ta xây dựng là một xã hội chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; lực lượng sản xuất hiện đại và quan triển của lực lượng sản xuất; có nền tộc; con người được giải phóng khỏi

no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng hợp tác với các nước trên thế giới.”

Tiếp tục tổng kết thực tiễn để phát triển bổ sung cho lý luận

-Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận xây dựng, hoàn thiện các lý luận khoa hỏi phải tổng kết thực tiễn để bổ sung, tiễn phải được tiến hành một cách nghĩa hình thức, bệnh qua loa, đại Tổng kết thực tiễn đòi hỏi phải thực cái được và cái chưa được, tránh bệnh tổng kết chỉ để tán dương những lý

đề Tổng kết thực tiễn phải nhằm rút biến, phải phát hiện những cái mới, sinh để từ đó xem xét, đánh giá lại lý sát thực tiễn, lý luận sẽ trở nên khô khan

-Như vậy nguyên tắc thống nhất lý vững những nguyên lý cơ bản của chủ Minh, vừa đòi hỏi lý luận phải luôn cầu đổi mới phát triển lý luận chính là yêu cầu của thực tiễn

-Một lý luận khoa học chỉ có thể ra của nhân loại và trên cơ sở phát triển giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết tiễn là phương thức cơ bản nhất để

cơ sở vững chắc nhất để có thể chống trong quá trình tiến hành cách mạng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 4

thực tiễn công cuộc đổi mới ở

nước ta.

Khái niệm Hình thái kinh tế - xã

hội

-Chủ nghĩa Mác xem quan hệ sản

thượng tầng là ba nhân tố cơ bản

nhất của một hình thái kinh tế xã

hội, là cơ sở sâu xa của mọi sự vận

động xã hội

-Hình thái kinh tế - xã hội là một

phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch

sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai

đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu

hội đó, phù hợp với một trình độ

và với một kiến trúc thượng tầng

sản xuất ấy.

-Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội

của xã hội, Trong mỗi hình thái, lực

lượng sản xuất là tiền đề vật chất,

thái ấy và đồng thời nó cũng quyết

định việc chuyển từ hình thái kinh tế

xã hội này lên hình thái kinh tế

-xem là nhân tố đặc trưng của hình

phân biệt hình thái này với hình thái

xây dựng trực tiếp từ quan hệ sản

các yếu tố khác của hình thái Mối

trên là nguồn gốc cơ bản để tạo ra

hình thái kinh tế - xã hội

-Ngoài ba yếu tố đó, trong các giai

có các yếu tố khác như gia đình, giai

đều chịu sự chi phối trực tiếp hoặc

dù chúng có tính độc lập tương đối

và vai trò không nhỏ đối với sự phát

triển xã hội

Biện chứng của quá trình

vận động và phát triển của các

hình thái kinh tế - xã hội

Xã hội vận động và phát triển là do

nhân tố tạo thành nó Tuy nhiên,

phối là mối quan hệ giữa lực lượng

sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng

tầng

Biện chứng giữa lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất

-Lực lượng sản xuất

+Lực lượng sản xuất hay sức sản

người và tự nhiên biểu hiện năng lực

thực tiễn của con người

+Lực lượng sản xuất là sự thống

sản xuất

+Người lao động với sức lao động,

những tri thức lao động cần thiết là

thể của quá trình sản xuất, là người

chế tạo và sử dụng công cụ lao động

động có hai yếu tố cơ bản là sức lao

hội càng phát triển thì yêu cầu về trí

được đưa vào trong sản phẩm lao

động ngày càng lớn

+Tư liệu sản xuất bao gồm công cụ

lao động, đối tượng lao động và

tố này, công cụ lao động có vai trò

quan trọng nhất Tư duy con người

công cụ lao động càng được cải tiến,

càng trở nên tinh vi và tác động

càng lớn đến việc tăng năng suất lao

động Công cụ lao động là thước đo

xuất, là nhân tố cơ bản để hình

thành các xã hội khác nhau, là cơ sở

để tạo nên các xã hội khác nhau

Quan hệ sản xuất

-Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa

xuất ra của cải vật chất trong đời

gồm: quan hệ sở hữu với tư liệu sản

lý sản xuất và quan hệ trong việc

phân phối các sản phẩm làm ra

-Các yếu tố của quan hệ sản xuất có

đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết

trưng của quan hệ sản xuất đồng

chế độ khác nhau Trong lich sử, có

sở hữu tư nhân và sở hữu công

thống nhất nên quan hệ quản lý,

trở lại quan hệ sở hữu Cùng một

phân phối tốt thì sản xuất mới được

tổ chức quản lý không tốt hoặc phân

loạn, sản xuất sẽ ngưng trệ và chế

dạng, bị phá vỡ

-Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản với nhau Trong mối quan hệ này,

vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất là nội

thức xã hội của một phương thức đều có một trình độ phát triển nhất định Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được đánh giá trên

độ của lực lượng sản xuất quyết định tính chất của nó Tính chất của trên cơ sở số người tham gia làm ra một sản phẩm Tính chất và trình độ rời nhau Sự thay đổi của trình độ chất của nó và đòi hỏi quan hệ sản hợp

-Mỗi hình thức sở hữu cũng như giới hạn của nó Vì vậy, khi đã phát lực lượng sản xuất lại đòi hỏi quan

hệ sản xuất phải thay đổi từng phần triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất không còn khả thế bởi quan hệ sản xuất khác tiến

bộ hơn Đó là tất yếu của lịch sử

Mặc dù bị lực lượng sản xuất quyết tính độc lập tương đối, nó có thể tác động rất mạnh mẽ trở lại lực lượng sản xuất Thể hiện ở việc quan hệ

của sản xuất và quan hệ lợi ích giữa sản xuất, từ đó hình thành hệ thống kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếu trình độ của lực lượng sản xuất nó

sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất, thậm chí phá vỡ lực lượng sản xuất kỷ

-Tất nhiên, trong mọi giai đoạn của xuất với trình độ lực lượng sản xuất thực tế, lực lượng sản xuất bao giờ xuất là yếu tố tĩnh Quan hệ sản xuất chóng cùng với lực lượng sản xuất

quan hệ sản xuất luôn nảy sinh mâu giải quyết lại tạo ra một bước phát triển mới

Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ

tế của xã hội ở một giai đoạn phát

cơ sở hạn tầng thực chất là nói đến kết cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội Cơ sở hạ tầng có nhau nhưng chung quy lại có ba loại quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống Trong ba loại hình quan hệ sản xuất ấy thì quan hệ phối các quan hệ xã hội khác và quyết định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội Ở giai đoạn cuối của một hình thái kinh tế - xã hội,quan hệ sản xuất mầm mống sẽ mặt kinh tế nhưng nó vẫn bị sự khống chế của các thể chế xã hội

Kiến trúc thượng tầng

-Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ hội tương ứng như nhà nước, các đảng phái chính trị, xã hội… được tầng nhất định Kiến trúc thượng nhân tố vật chất và tinh thần nhưng ngang nhau

-Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng mọi hình thái kinh tế - xã hội, chúng trình tồn tại, vận động và biến đổi

Trong mối quan hệ này, cơ sở hạ định đối với kiến trúc thượng tầng.

thể hiện tập trung ở vai trò của quan sản xuất đặc trưng Chính quan hệ hình ý thức tư tưởng và các thiết chế

tổ chức xã hội trong mỗi thời kỳ lịch

hạ tầng thay đổi thì kiến trúc thượng kiến trúc thượng tầng không chỉ diễn ra khi thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội mà nó còn diễn ra của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Quá trình vận động, phát triển của cơ sở hạ tầng, của các quan đến kiến trúc thượng tầng

-Mặc dù bị cơ sở hạ tầng quyết tính độc lập tương đối và có thể tác

Sự tác động của kiến trúc thượng theo hai chiều thuận và nghịch khác

là sự tác động phù hợp với các quy luật khách quan làm cho cơ sở hạ tầng được củng cố khi nó còn mang trong quá trình biến đổi của lực lượng sản xuất Chiều nghịch là cho cơ sở hạ tầng trở nên khô cứng, đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển tất yếu của sản xuất, làm cho thuẫn với lực lượng sản xuất ngày hội bị kìm hãm và đi vào bế tắc

giữa cơ sở hạ tầng và kiển trúc

là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Trong mối quan hệ này chính trị trung của kinh tế, phản ánh các mối thời, chính trị cũng định hướng cho động lực cho sự phát triển kinh tế triển kinh tế Nếu chính trị không

tế vững chắc, nếu chính trị không năng quản lý, điều khiển kinh tế,

sẽ lung lay Mặt khac, nếu sự phát chính trị, kinh tế cũng rối loạn Cho phải có sự gắn bó hữu cơ

Vai trò và ý nghĩa phương pháp

xã hội

Vai trò phương pháp luận của lý hiện ở chỗ:

Thứ nhất, lý luận hình thái kinh tế -chất của đời sống xã hội Từ lý luận

cơ bản này có thể thấy tất cả các hội, văn hóa tư tưởng đều nảy sinh

từ cơ sở kinh tế và bị chi phối vởi các mối quan hệ kinh tế trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của nó

tố cơ bản của một hình thái và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng, lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã cho thấy thống nhất toàn vẹn

-Ba là, từ những điều kiện cơ bản

xã hội càng giúp cho con người có cải tạo xã hội

Ý nghĩa phương pháp luận:

Lý luận hình thái chỉ cho con người

xã hội phải xuất phát từ nguồn gốc quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản

hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mới có thể giải quyết được những trong xã hội Mục tiêu của việc giải quyết các mối quan hệ đó cuối cùng phát triển Chỉ có sự phát triển của cho sự phát triển của xã hội Phát triển lực lượng sản xuất tạo tiền đề cho sự hình thành quan hệ sản xuất đến kiến trúc thượng tầng mới , đó không thể đảo được Những chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất tiên tiến, đi trước mở đường cho lực mới đổi mới kinh tế là những quy trình ngược chỉ có thể dẫn tới thất bại

Sự vận dụng vào thực tiễn ta.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng đổi mới, sau nhiều năm nghiên cứu

đã đi đến kết luận: “Con đường đi

độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa, bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa

đặc biệt về khoa học và công nghệ, xuất, xây dựng nền kinh tế hiện

đã lựa chọn là đúng đắn vì điều đó nước có thể rút ngắn nhưng vẫn đảm bảo tiến trình lịch sử tự nhiên, phù lịch sử

Quá trình lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là từng bước hình thành các nhân tố của một hình thái kinh tế - xã hội mới Thực chất đó là quá trình biến đổi

về chất trên tất cả các mặt của đời này, trước hết phải tạo ra những biến những nhân tố cơ bản của hình thái của lực lượng sản xuất, quan hệ sản thực hiện yêu cầu đó, phải đẩy mạnh với phát triển kinh tế tri thức để xây phải xây dựng và phát triển kinh tế nghĩa đồng thời kết hợp giữa phát các mặt khác của đời sống xã hội, quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân là cốt yếu

Tóm lại, lý luận hình thái kinh tế - xã hội là một lý chẳng những được lịch sử kiểm chứng tỏ sức sống mạnh mẽ và tính đổi mới ở Việt Nam sở dĩ thành vận dụng sáng tạo lý luận này Để có quá trình phát triển đất nước, cần

lý luận hình thái kinh tế - xã hội, những nội dung cơ bản nhất của lý chỉ đạo thực tiễn của các địa phương trong cả nước

Ngày đăng: 18/04/2022, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w