Nó mở ra những cơ hội và thách thức mới cho các nước sản xuất, kinh doanh hàng dệt may trên thị trường dệt may thế giới: một mặt, các nước này sẽ phải đối phó với những hình thức bảo hộ
Trang 1MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHIẾN LƯỢC
CỦA VIỆT NAM NĂM 2005
1 Dầu thô
* Thị trường thế giới
Sản lượng dầu thô trên toàn thế giới năm 2005 đạt khoảng 30,2 tỷ thùng, đây là mức sản lượng cao nhất từ khi tìm thấy nguồn vàng đen này Tổng nhu cầu dầu năm
2005 ước đạt 85 triệu thùng/ngày, tiêu thụ dầu toàn thế giới năm 2005 ước đạt 83,8 triệu thùng/ngày, tăng 1,94% so với năm 2004, trong đó Mỹ là nước tiêu thụ lớn nhất
thế giới, sau đó là Trung Quốc
Tiêu thụ dầu thô của Mỹ năm 2005 trung bình ước đạt 20 triệu thùng/ngày, tăng 1% so với năm 2004 Tiêu thụ dầu của Trung Quốc năm 2005 tăng khoảng 15%, trung bình đạt 6,4 triệu thùng/ngày Tiêu thụ dầu của các nước OECD năm 2005 đạt khoảng
50 triệu thùng/ngày, tăng 1,1% so với năm 2004 Dự báo mức tiêu thụ dầu của các nước OECD năm 2006 sẽ giảm xuống
Theo báo cáo của Tổ chức Xuất khẩu dầu mỏ OPEC, tính trung bình giá dầu mỏ thế giới năm 2005 đã tăng 42% so với năm 2004 Giá dầu mỏ tăng cao chỉ có lợi cho các nước xuất khẩu dầu, ước tính tổng doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ của các nước sản xuất ở Trung Đông đã đạt khoảng 300 tỷ USD trong năm 2005 Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho rằng, mức doanh thu từ dầu mỏ trong năm 2006 sẽ tương tự như năm
2005, trong khi đó, Bộ Năng lượng Mỹ dự báo, nguồn thu của các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ kể trên sẽ tăng lên mức cao kỷ lục là 522 tỷ USD
Trong bối cảnh giá dầu mỏ tăng cao, các nước nhập khẩu dầu mỏ bị tác động và thiệt hại hơn
* Dầu thô Việt Nam
Theo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), năm 2005 ngành dầu khí
đã khai thác được 18,6 triệu tấn dầu thô, thu gom, khai thác và vận chuyển vào bờ 6,6
tỷ m3 khí cung cấp cho các nhà máy chế biến khí, sản xuất điện, phân đạm và các ngành kinh tế khác Trong năm 2005, toàn ngành dầu khí đã xuất khẩu được 18,1 triệu tấn dầu thô, đạt kim ngạch xuất khẩu 7,37 tỷ USD, tăng hơn mức kỷ lục đã đạt được trong năm 2004 gần 1,33 tỷ USD Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á - Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Xingapo, Ôxtrâylia, Inđônêxia, Thái Lan, Nhật Bản Các khách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới như: Shell (Hà Lan); BP (Anh); Exxon Mobil và Chevron (Mỹ); Chinaoil, Sinopec và Sinochem (Trung Quốc); Sumitomo, Sojitz và Mitsubishi (Nhật Bản)
2 Dệt may
Trang 2* Thị trường hàng dệt may thế giới
Thực hiện Hiệp định Dệt may (ATC) ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay, kể từ ngày 01/01/2005 hạn ngạch dệt may được bãi bỏ hoàn toàn Sự kiện này đã đánh dấu một bước quan trọng trong ngành dệt may thế giới, đồng thời cũng đánh dấu một bước quan trọng của xu thế tự do hóa thương mại quốc tế Tuy nhiên, điều này có tác động rất khác nhau đến các quốc gia liên quan Nó mở ra những cơ hội và thách thức mới cho các nước sản xuất, kinh doanh hàng dệt may trên thị trường dệt may thế giới: một mặt, các nước này sẽ phải đối phó với những hình thức bảo hộ mới mà Mỹ
và Liên minh Châu Âu (EU) áp dụng, mặt khác lại phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt với nhau dẫn đến những thiệt hại nặng nề do mất thị phần, suy giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu và tăng tỷ lệ thất nghiệp
Kể từ khi chế độ hạn ngạch được dỡ bỏ đối với các nước là thành viên WTO (trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ và Pakixtan), bức tranh thị trường dệt may thế giới đã
có sự thay đổi rõ nét, mà phần thắng chủ yếu thuộc về ngành dệt may Trung Quốc, trong khi đó các doanh nghiệp dệt may ở nhiều nước khác lao đao vì không thể cạnh tranh, hàng nghìn công nhân mất việc và kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác
Theo nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, năm 2005 Trung Quốc đứng đầu thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm dệt may, chiếm khoảng 50% thị phần nhập khẩu dệt may của Mỹ và 29% của châu Âu; trong khi đó Ấn Độ đứng thứ hai với 15%
và 9% ở hai thị trường trên Chính vì vậy, tại thị trường EU và Mỹ, hàng dệt may của Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh rất lớn
* Hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những cơ hội to lớn cho ngành dệt may Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức mà từng doanh nghiệp đơn lẻ khó vượt qua Tuy Việt Nam đạt được thỏa thuận với EU và Canađa không phải chịu hạn ngạch đối với hàng dệt may, nhưng kim ngạch xuất khẩu vào các nước có hạn ngạch vẫn chiếm đến 70% tổng kim ngạch hàng dệt may Việt Nam hiện nay Các chuyên gia cho biết tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam vào các nước này năm 2005 đã giảm xuống so với năm trước, kể cả các thị trường truyền thống do sự cạnh tranh thị phần quyết liệt hơn, đặc biệt là với các nước có kim ngạch xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… Dù phải gồng mình trong sự cạnh tranh, nhưng ngành dệt may Việt Nam năm 2005 đã vươn lên đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 4,83 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2004
Tại thị trường EU
Thị trường EU tuy là thị trường truyền thống nhưng khó tính, đơn hàng thường nhỏ lẻ, chi phí cao, khó sản xuất, do đó thị trường này có thể chưa thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Việt Nam Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do hàng dệt may Việt Nam chưa cạnh tranh được với hàng dệt may Trung Quốc tại thị trường
Trang 3này Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU đạt 882,6 triệu USD, chiếm thị phần 18,24% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
Tháng 6/2005 EU đã ký một hiệp định với Trung Quốc, theo đó áp đặt hạn ngạch nhập khẩu mới đối với 10 mặt hàng dệt may của Trung Quốc, hạn chế mức tăng mặt hàng này trong khoảng 8-12,5% mỗi năm Hiệp định này có hiệu lực đến năm 2007 và đó cũng là điều thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam có thể tăng cường xuất khẩu vào thị trường EU Mặc dù hàng dệt may của Trung Quốc đang bị EU hạn chế, nhưng trong nửa cuối năm 2005 Việt Nam vẫn chưa thực sự tận dụng được cơ hội này để mở rộng xuất khẩu sang EU
Tại thị trường Mỹ
Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ vẫn phải chịu hạn ngạch Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ đạt 2,60 tỷ USD (thị phần lớn nhất), chiếm 53,74% trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, giảm nhẹ so với năm 2004 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng chậm lại là do Hoa Kỳ thực hiện bỏ hạn ngạch đối với các nước thành viên WTO Các nước này, đặc biệt là Trung Quốc đã tăng mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ và kèm theo đó là mặt bằng giá nhập khẩu vào Hoa Kỳ giảm
mạnh Theo Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, nếu năm 2006 khi hạn ngạch dệt may
được dỡ bỏ thì xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ có thể đạt tới trên 4 tỷ USD/năm
Tại thị trường Nhật Bản
Thị trường Nhật Bản có nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may từ nước ngoài rất lớn (nhập đến 95% hàng dệt may tiêu thụ trên thị trường nội địa nước này) Các nước xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản nhiều nhất là Trung Quốc, các nước ASEAN (trong
đó có Việt Nam), Hàn Quốc, Pháp, Ý và Mỹ Kể từ tháng 5/2005, nhiều nhà nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản đã có hướng chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam Theo tính toán, chỉ cần nhận được 10% số đơn hàng dệt may của Nhật Bản đang sản xuất tại Trung Quốc là Việt Nam đã có thể tăng xuất khẩu lên hơn 1 tỷ USD Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị tốt để nắm bắt thông tin và đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản
Hiện nay Nhật Bản đã trở thành thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ ba của Việt Nam (sau Mỹ và EU) Năm 2005 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt 603,9 triệu USD, chiếm 12,48% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2004
3 Da giày
Trong những năm gần đây, sản phẩm da giày xuất khẩu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao với kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm tăng trên 20% so
Trang 4với cùng kỳ năm trước
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng da giày Việt Nam sang các thị trường châu
Á và châu Mỹ vẫn tăng khá so với cùng kỳ năm 2004, nhưng lại giảm mạnh đối với thị trường EU (đặc biệt là Đức và Pháp) Trong 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước
ta trong khu vực châu Âu, chỉ có xuất khẩu sang Italia, Tây Ban Nha đạt tốc độ tăng trưởng khá và xuất khẩu sang Hà Lan tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2004
Mặt hàng da giày trên thị trường thế giới vẫn tiếp tục gặp phải những thách thức mới trong sự cạnh tranh lẫn nhau
Tại thị trường EU
Trung Quốc xuất khẩu giày dép vào thị trường EU trung bình các loại tăng đến 30%, cá biệt có những chủng loại tăng từ 681% - 1.000% Tại thị trường này, giày dép của Việt Nam không chỉ phải đối mặt với hàng của Trung Quốc mà còn phải cạnh tranh với sản phẩm của nhiều nước bị ảnh hưởng của đợt sóng thần được miễn thuế xuất khẩu vào thị trường này
Năm 2005, do xuất khẩu sang EU gặp nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu giày dép của nước ta chỉ đạt gần 3,04 tỷ USD, thấp hơn 60 triệu USD so với kế hoạch Trong năm 2005, Việt Nam xuất khẩu mặt hàng giày dép các loại sang các nước EU với thị phần lớn nhất đạt 1.783,4 triệu USD - chiếm 58,67% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam Trong khi đó, gần 80% sản phẩm giày mũ da của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường EU Vụ kiện bán phá giá vẫn còn đang diễn biến rất phức tạp, số lượng các đơn hàng từ các đối tác EU vẫn thưa thớt Thị trường EU không giảm nhu cầu sử dụng nhưng sau khi doanh nghiệp sản xuất giày da Việt Nam
bị điều tra bán phá giá, đối tác nước ngoài chuyển sang mua sản phẩm da giày từ các nước như Thái Lan, Inđônêxia, Campuchia Tại thời điểm cuối quý II/2005, có hơn
20 doanh nghiệp chuyên sản xuất da giày xuất khẩu không có đơn hàng xuất khẩu cho những tháng tiếp theo Thị trường tiêu thụ gần như bị phong tỏa, chỉ vì EU áp thuế giày mũ da ở mức tối đa
Để khắc phục vấn đề này, các doanh nghiệp đã đưa ra hướng sản xuất và bán sản phẩm tại thị trường nội địa, đồng thời tìm thêm cơ hội bán hàng ra nước ngoài Song trên thực tế, làm được điều này không dễ vì lâu nay các doanh nghiệp này chỉ chú trọng vào thị trường xuất khẩu, gia công hay sản xuất cũng toàn là sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU, Mỹ, Đông Âu… trong khi đó thị trường nội địa lại bị bỏ ngỏ Mặc
dù vậy, ngay từ đầu năm 2005 khi xuất khẩu vào thị trường EU gặp khó khăn, các
doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tích cực xúc tiến xuất khẩu vào các thị trường lớn ngoài EU như Mỹ, Nhật Bản, châu Phi
Tại thị trường Mỹ, kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam cả năm 2005 đạt
611,05 triệu USD, chiếm 20,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2005, Việt Nam
đã vượt qua Inđônêxia trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 4 về giày dép vào Hoa Kỳ
Trang 5(năm 2004, Việt Nam xếp thứ 5 sau Trung Quốc, Italia, Braxin và Inđônêxia) Nguyên nhân chính dẫn đến tăng trưởng xuất khẩu giày dép Việt Nam sang Hoa Kỳ là khả năng cung về số lượng và cạnh tranh về chất lượng và giá cả sản phẩm của Việt Nam được nâng cao, do vậy nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã chọn Việt Nam là nguồn cung để nhập khẩu vào Hoa Kỳ Mặt khác, nhu cầu nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ tiếp tục tăng, và dự báo năm 2006 sẽ còn tăng so với năm 2005
Thị trường Mỹ có nhu cầu rất lớn về nhiều chủng loại giày dép khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội để khai thác Một điểm thuận lợi là hiện nay, rất nhiều hàng giày nổi tiếng thế giới của Mỹ như Nike, Reebok đã chọn Việt Nam là nơi gia công sản phẩm để xuất khẩu đi các nước khác và ngày càng tin tưởng vào năng lực của các doanh nghiệp da giày Việt Nam
4 Thủy sản
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủy sản đạt 2,74 tỷ USD, tăng
14% so với năm ngoái Hàng thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu tới 105 nước
và vùng lãnh thổ, trong đó thị trường Mỹ, Nhật, EU chiếm trên 69,8% về giá trị và 55,8% sản lượng hàng xuất khẩu Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam của kỳ kế hoạch 5 năm 2001-2005 đạt trên 11 tỷ USD, tăng 32% so với kỳ 1996-2000, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,5%/năm
Năm 2005, thị trường thế giới có nhu cầu lớn về sản phẩm thuỷ sản, nhất là khi dịch cúm gia cầm có nguy cơ bùng phát Nhờ vậy, mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn như những rắc rối do vụ kiện bán phá giá tôm gây ra, các hàng rào kỹ thuật do các nước nhập khẩu dựng lên nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam năm 2005 vẫn tăng mạnh
Các hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm thuỷ sản Việt Nam tại các thị trường nước ngoài đã mang lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt trong việc kích thích các hoạt động mua bán hàng thuỷ sản Việt Nam Theo số liệu 10 tháng đầu năm 2005 cho thấy, xuất khẩu vào một số thị trường tăng lên mạnh mẽ như Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất tăng 108%, Nga tăng 196%, Bỉ tăng 53%, Pháp tăng 55% và Hà Lan tăng 82% so với cùng kỳ năm trước
Nổi bật nhất là cú bứt phá ngoạn mục khi thủy sản Việt Nam vượt qua rào cản thuế quan và phi thuế quan tại hai thị trường lớn là Mỹ và EU Năm 2005 mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam gặp khó khăn tại thị trường Mỹ, nhưng bù lại chúng ta đã phát triển thị trường tiêu thụ hải sản tại các nước EU, tăng trưởng xuất khẩu tại thị trường này là rất cao, khoảng trên 65% so với năm 2004
5 Gạo
* Thị trường thế giới
Sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2005/2006 đạt khoảng 405,3 triệu tấn Tiêu thụ
Trang 6gạo niên vụ 2005/2006 đạt 413,6 triệu tấn Tồn kho kết thúc niên vụ 2005/2006 còn khoảng 66,5 triệu tấn, thấp hơn 11% so với kết thúc niên vụ trước
Các nước xuất khẩu gạo chính của châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan đang gia tăng sản lượng cũng như thị phần gạo xuất khẩu trên thế giới Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, năm 2005 xuất khẩu được 7,27 triệu tấn Xuất khẩu gạo của Ấn Độ - nước sản xuất gạo lớn thứ 2 thế giới - đạt khoảng 4,5 đến 5 triệu tấn trong tài khóa 2005/06 (kết thúc vào tháng 3) so với 4,7 triệu tấn trong niên vụ trước, trong đó xuất khẩu gạo basmati sẽ đạt khoảng 1,2-1,5 triệu tấn, so với 1,2 triệu tấn năm ngoái Hàng năm, Ấn Độ sản xuất khoảng 85-90 triệu tấn, và hầu như tiêu thụ hết trên thị trường nội địa Những đối thủ cạnh tranh chính của Ấn Độ trên thị trường gạo là Thái Lan, Việt Nam và Pakixtan Xuất khẩu gạo basmati của nước này sẽ liên tiếp tăng lên vì nhu cầu gạo chất lượng cao đang tăng trên thị trường thế giới Còn xuất khẩu gạo phi basmati của nước này sẽ ổn định ở mức khoảng 3 triệu tấn mỗi năm sau khi dao động trong mấy năm qua Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo basmati lớn nhất thế giới, chủ yếu sang Ảrập Xêút, các nước Trung Đông khác, châu
Âu và Mỹ Những thị trường chính tiêu thụ gạo phi Basmati của Ấn Độ là Bănglađét, Inđônêxia, Philippin, Nigiêria, Nam Phi…
Theo Viện nghiên cứu Gạo Quốc tế, tốc độ tăng sản lượng gạo ở châu Á đã giảm 60%, từ mức trung bình 2,7% mỗi năm ở thập niên 70 hiện xuống chỉ còn 1,1% mỗi năm, đây là cơ sở để các chuyên gia lương thực cảnh báo về một tương lai thiếu gạo trầm trọng Thực tế là giá gạo đã tăng mạnh trong năm qua Giá tham khảo gạo xuất khẩu của Thái Lan năm 2005 tăng 30 USD/tấn hay gần 12% so năm 2004 Do cung trong nước không đủ cầu, Trung Quốc hiện đang chuyển từ một nước xuất khẩu gạo sang nước nhập khẩu mặt hàng này Trung Quốc chiếm tới ít nhất 40% nguồn cung gạo châu Á Ở Philippin, mặc dù sản lượng gạo đang tăng, song dân số cũng đang tăng nhanh nên vẫn phải nhập khẩu nhiều gạo
* Thị trường trong nước
Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu trên 5,2 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch hơn 1,4 tỷ USD Giá bán trung bình 268 USD/tấn, tăng hơn 21% so với năm 2004 Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan (giá bình quân gạo xuất khẩu của Thái Lan gần 300 USD/tấn) Ngành nông nghiệp Việt Nam cần
có chính sách phát triển nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm gạo để cạnh tranh được với gạo của Thái Lan và đứng vững trên thị trường gạo thế giới Chất lượng gạo của Việt Nam thường không ổn định, cùng một loại gạo đặc sản, nhưng độ đồng đều của hạt gạo không có, chất lượng thì vụ đông xuân khác vụ hè thu điều này làm cho giá trị hạt gạo Việt Nam thua xa gạo của Thái Lan Chính vì vậy, chừng nào chưa giải được bài toán chất lượng cho hạt gạo thì khó có thể xây dựng và giữ được thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới Hiện nay, khâu yếu nhất trong lĩnh vực xuất khẩu
Trang 7gạo là chưa xây dựng được thương hiệu cho gạo Việt Nam Mặc dù là nước xuất khẩu gạo lớn nhưng chưa có thương hiệu hoặc nhãn hiệu gạo nổi tiếng hoặc đặc trưng cho gạo Việt Nam, trong khi các thương hiệu gạo "hương nhài - Jasmine", gạo basmati đã được gắn liền với các quốc gia sản xuất là Thái Lan, Ấn Độ và Pakixtan trên thị trường thế giới
6 Cà phê
* Thị trường cà phê thế giới
Thị trường cà phê thế giới trong những năm qua biến động thất thường Giá cà phê robusta năm 2004 trung bình đạt 703 USD/tấn, giảm 3,7% so với năm trước Giá
cà phê năm 2005 không giảm mạnh như năm trước mà hồi phục dần Tổng nguồn cung
cà phê của các nước sản xuất trong vụ 2004/05 đạt 143,2 triệu bao, tăng 1% so với vụ 2003/2004, nhưng xuất khẩu lại giảm 2% (xuống 90 triệu bao) do nhu cầu tiêu dùng nội địa tại các nước này đang tăng lên Dự kiến cầu về cà phê của thế giới sẽ tăng lên
146 triệu bao vào năm 2015 (so với gần 119 triệu bao như hiện nay)
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, sản lượng cà phê toàn cầu vụ 2005/2006
sẽ đứng ở mức 108 triệu bao (loại 60 kg/bao), giảm khoảng 7% so với niên vụ trước Braxin, Côlômbia, Guatêmala, Ấn Độ, En Xanvađo, Mêhicô, Việt Nam là những nước sản xuất cà phê lớn trên toàn cầu Theo Bộ Nông nghiệp Braxin, nước này dự kiến sẽ giữ vững thị phần 40% trong xuất khẩu cà phê của thế giới; nước này cũng dự kiến nâng sản lượng lên cao để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ toàn cầu ngày càng tăng Năm 2005, ước tính sản lượng cà phê của Braxin đạt khoảng 33,3 triệu bao, chiếm 31% trên tổng sản lượng cà phê của thế giới Xuất khẩu cà phê năm 2005 của Braxin ước đạt khoảng 3 tỷ USD
Liên đoàn các nhà trồng cà phê Quốc gia Côlômbia dự đoán, sản lượng cà phê niên vụ 2005-2006 sẽ đạt 11,7 triệu bao loại 60kg, tăng 1,7% so với niên vụ trước và xuất khẩu dự đoán sẽ đạt 10,2 triệu bao
Theo Liên đoàn những người trồng cà phê Guatêmala (Anacafe), xuất khẩu cà phê của nước này niên vụ 2005/06 (T10/05 – T9/06) dự kiến chỉ đạt 3,37 triệu bao, giảm 3,2% so với niên vụ trước
Sản lượng cà phê niên vụ 2005/06 của Ấn Độ giảm do mưa lớn và sâu bệnh Dự kiến mức sản lượng của năm tài khóa 2005/06 (từ tháng 4/05 đến tháng 3/06) sẽ giảm khoảng 15-30% so với con số dự đoán 294.000 tấn hồi tháng 7/2005 Ấn Độ sản xuất cà phê chiếm 4,5% sản lượng cà phê thế giới và Ấn Độ thường xuất khẩu tới 70-80% sản lượng sản xuất ra Cà phê Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu sang châu Âu và Mỹ: hiện nay lượng xuất khẩu sang Nga và Trung Quốc cũng đang tăng mạnh
Trong niên vụ 2005/06, sản lượng cà phê của En Xanvađo dự kiến tăng 5% Nhiều đồn điền cà phê của En Xanvađo đã lâm vào tình trạng thê thảm sau khi giá cà
Trang 8phê thế giới giảm mạnh vào cuối thập niên 90 Sự phục hồi của giá cà phê thế giới vào cuối năm 2004 đã khuyến khích nông dân nước này đầu tư nhiều hơn vào cây cà phê,
vì thế sản lượng thu hoạch vụ 2005/06 đạt tới 1,46 triệu bao (loại 60 kg) cao hơn so với mức 1,39 triệu bao của vụ 2004/05
Sản lượng cà phê của Mêhicô niên vụ 2005/06 ước tăng 14% Dự đoán sản lượng
cà phê niên vụ 2005/06 của Mêhicô đạt 4 triệu bao loại 60 kg, tăng 14% so với 3,5 triệu bao niên vụ 2004/05 Theo Bộ Nông nghiệp Mêhicô, tổng khối lượng cà phê xuất khẩu nước này từ tháng 10/2004 đến tháng 7/2005 đã giảm 26% so với 1,6 triệu bao cùng kỳ niên vụ trước
* Thị trường cà phê Việt Nam
Từ năm 2000, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới (chỉ sau Braxin) và đứng đầu về xuất khẩu cà phê robusta Cà phê là mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam với mức khoảng 800.000 tấn/năm đạt giá trị xuất khẩu gần
650 triệu USD/năm, trong đó tỉnh Đắc Lắc chiếm gần 80% sản lượng
Năm 2005 giá cà phê xuất khẩu đứng vững ở mức cao do sản lượng của một số nước xuất khẩu cà phê lớn bị giảm mạnh Giá cà phê loại 1 của Việt Nam dao động ở mức 970 - 980 USD/tấn (FOB- TP Hồ Chí Minh), tăng hơn 30% so với đầu niên vụ, còn giá cà phê arabica đang đứng ở mức 2.000 USD/tấn Các nhà giao dịch hy vọng, giá cà phê xuất khẩu niên vụ 2005/06 sẽ tăng 5 - 10% so với những tháng cuối cùng của niên vụ 2004/05 do dự trữ cà phê thế giới giảm
Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu hơn 892 ngàn tấn cà phê, giảm 13,6 ngàn tấn so với năm 2004 nhưng đạt được giá trị xuất khẩu là 735,485 triệu USD cao hơn năm
2004 là 141,48 triệu USD; mức giá bình quân là 824 USD/tấn – cao hơn 169 USD/tấn
so với mức giá bình quân của năm 2004
Đến năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu cà phê sang 39 nước Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam hiện nay Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ hơn 117 nghìn tấn cà phê với kim ngạch xuất khẩu hơn 97 triệu USD, chiếm 13,25% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
7 Sản phẩm gỗ
Tiêu thụ đồ gỗ nội thất đang gia tăng trên tất cả các thị trường lớn Sự mở cửa các thị trường nhập khẩu đã tác động mạnh lên các hoạt động giao dịch đồ gỗ nội thất trên toàn cầu Chính điều này đã tạo cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ, đóng góp thêm vào tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước Với tốc độ tăng trưởng bình quân 57,5%/năm trong hai năm gần đây, đồ gỗ đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 1,56 tỷ USD, tăng khoảng 40% so với năm 2004 và là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Trang 9Việt Nam hiện được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến như là một nơi sản xuất các sản phẩm gỗ có chất lượng cao Hiện nay thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, Nhật Bản và EU
Thị trường Mỹ là một trong hai thị trường (cùng với Nhật Bản) nhập khẩu đồ gỗ
nội thất lớn nhất thế giới Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt xấp xỉ 360 - 365 triệu USD Các sản phẩm chủ yếu là giường, tủ, bàn ghế, bàn dùng trong gia đình và văn phòng, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất là đồ gỗ dùng trong phòng ngủ (tăng 156% so với cùng kỳ năm 2003) Năm 2004,
Mỹ đã áp mức thuế chống bán phá giá rất cao cho hàng Trung Quốc Năm 2005 một số công ty Mỹ đã có xu hướng khai thác thêm nguồn hàng ngoài Trung Quốc để đối phó với thuế chống bán phá giá Thuế nhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam vào thị trường Mỹ giảm mạnh (trung bình từ 50-55% xuống còn 0-3%) Có thể nói, đây là cơ hội thuận lợi cho xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Mỹ Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 566,96 triệu USD, tăng khoảng 50% so với năm 2004
Tại thị trường Nhật Bản, trên 90% sản phẩm đồ gỗ nhập khẩu trong những năm
gần đây có xuất xứ từ các nước châu Á, trong đó Trung Quốc đang dẫn đầu thị phần xuất khẩu vào Nhật Bản, chiếm 32%; kế đến là Thái Lan chiếm 17,4%; Malaixia đạt 9,2% và Việt Nam cũng nằm trong tốp 5 nước dẫn đầu với thị phần khoảng 7,3% Sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản tăng trong 5 năm gần đây là nhờ biết tận dụng nguồn lao động rẻ, chi phí vận chuyển thấp, mức độ tinh xảo ngày càng cao của sản phẩm đang dần thu hút thị hiếu tiêu dùng của người Nhật Một nguyên nhân quan trọng nữa là do các nhà đầu tư của Nhật Bản cũng đang chuyển hướng chia sẻ đầu tư từ các vùng khác trong khu vực Đông Nam Á (như từ Malaixia, Inđônêxia) sang Việt Nam, góp phần tạo ra những sản phẩm xuất khẩu cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt 240,87 triệu USD Dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam vào thị trường Nhật
sẽ tăng từ 5-7% trong giai đoạn từ 2006 đến 2010
8 Cao su
* Thị trường cao su thế giới
Giá cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp trong thời gian gần đây liên tục duy trì
ở mức cao do tác động của giá dầu thô, do nhu cầu cao và nguồn cung hạn hẹp Trong năm 2005, lượng tiêu thụ cả cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp trên thị trường thế giới đều tăng do doanh số bán ô tô ở Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác tăng lên
đã làm tăng nhu cầu về lốp ô tô Chính điều này làm cho nhu cầu cao su thiên nhiên năm 2006 sẽ tăng so với năm trước
Trang 10Tại thị trường cao su châu Á, trước tình trạng thiếu hụt nguyên liệu thô, trong
khi nhu cầu đang tăng, giá cao su tự nhiên gần đây đã tăng tới mức cao kỷ lục và ít có
triển vọng giảm trong tương lai gần Ngoài ra, do ảnh hưởng của giá dầu cao làm cho
cao su tổng hợp đắt hơn, nên các nguồn cung cấp muốn chuyển sang sử dụng cao su tự nhiên
Giá cao su RSS3 của Thái Lan hiện nay đang giao dịch ở mức 189 US cent/kg, mức cao nhất kể từ năm 1994 Giá cao su SMR20 của Malaixia giao dịch ở mức 176,85 US cent/kg Cao su SIR20 của Inđônêxia thường rẻ hơn nhưng vẫn đứng ở mức 180 US cent/kg, mức cao nhất trong 11 năm qua
* Thị trường cao su Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu cao su của Việt Nam liên tục sôi động từ đầu năm 2005, đặc biệt sang các nước Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc Mặt hàng cao su SVR3L tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, chiếm 45,8% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước Giá xuất khẩu cao su cũng không ngừng tăng, đạt khoảng 1.580-1.658 USD/tấn Xuất khẩu mủ cao su đang có chiều hướng chậm lại Năm 2005, các doanh nghiệp Trung Quốc nhập khoảng 28.000 tấn mủ cao su của Việt Nam Sau khi Việt Nam ngừng xuất khẩu mủ cao su nguyên khai, khu vực tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), thị trường tiêu thụ chính mặt hàng này trở nên rất khan hiếm nguyên liệu cao su Diễn biến này đã dẫn đến việc giá các loại mủ cao su có khả năng tăng trở lại
Ngoài thị trường Trung Quốc, giá cao su Việt Nam xuất sang các thị trường khác cũng ở mức cao như cao su SVR CV60 xuất sang Mỹ đạt 1.305 USD/tấn (FOB), giá cao su sang Canađa cao hơn xuất sang Mỹ 40-50 USD/tấn, cao su dạng lỏng latex xuất sang Bỉ đạt 670 USD/tấn (FOB), cao su SVR 3L xuất sang Hàn Quốc đạt 1.263 USD/tấn Dự báo giá cao su xuất khẩu trong năm 2006 sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung
từ ba nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới là Thái Lan, Inđônêxia và Malaixia bị ảnh hưởng bởi thiên tai
Giá dầu thô tăng tạo thuận lợi cho giá cao su tăng theo Các doanh nghiệp Việt Nam qua kinh nghiệm buôn bán với các khách hàng quen thuộc đã tạm nhập tái xuất các nguồn cao su từ Campuchia, Thái Lan, Malaixia Ngoài yếu tố thuận lợi về thị trường, các doanh nghiệp đã tích cực thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, chủ động đầu tư và đưa vào hoạt động nhiều dây chuyền chế biến mủ cao su ly tâm - latex, là sản phẩm có giá trị cao và được thị trường ưa chuộng
Năm 2005, Việt Nam đã thu từ xuất khẩu sản phẩm cao su hơn 804 triệu USD với sản lượng là 587,11 ngàn tấn, vượt kế hoạch đề ra cả về sản lượng và giá trị Sản phẩm cao su xuất khẩu của Việt Nam đã được đa dạng hóa theo hướng giảm bớt các sản phẩm cao su khối có giá trị không cao bằng các loại cao su có giá trị xuất khẩu cao, như mủ latex tăng từ 7,6% năm 2002 lên 15,96% năm 2005 Mặt khác, tăng