1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt

89 1,9K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Kế Toán Chi Phí
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết chuyển hoặc phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ vào bên nợ tài khoản 154 “Chi phí sản xuất” kinh doanh dở dang “hoặc bên nợ

Trang 1

Giáo trình kế toán chi phí

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ

TOÁN CHI PHÍ

Trang 2

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1

Ch ương 1 ng 1

NH NG V N Đ CHUNG V K TOÁN CHI PHÍỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ ẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ Ề CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ Ề CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ Ế TOÁN CHI PHÍ

Nghiên cứu kế toán chi phí giúp cho chúng ta thấy rõ vai trò của nhà quản trị lẫn vai trò của kếtoán viên trong quản lý chi phí ở một tổ chức Nhà quản trị thực hiện các giai đoạn nào của quátrình quản lý ? Kế toán chi phí có thể giúp cho nhà quản trị như thế nào trong các giai đoạn này ?Quyển sách này đề cập đến những câu hỏi đó Trong chương này chúng ta xem xét vai trò của kếtoán chi phí ở đâu trong một tổ chức, và chủ yếu đề cập đến tổ chức là công ty sản xuất, trên cơ sở

đó làm nền tảng để nghiên cứu các chương tiếp theo

MỤC ĐÍCH VÀ CHỨC NĂNG CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ

Mục đích 2: Cung cấp thông tin liên quan đến các giai đoạn phân bổ nguồn lực như sản phẩm vàtrọng tâm khách hàng và định giá, thường được thực hiện qua các báo cáo về khả năng sinh lời củasản phẩm dịch vụ, loại nhãn hiệu, khách hàng, kênh phân phối v.v…

Mục đích 3: Phục vụ cho việc lập kế hoạch chi phí và kiểm soát chi phí của các mặt hoạt động,được thực hiện qua các báo cáo về các khoản thu, chi, tài sản và trách nhiệm của các bộ phận vànhững khu vực trách nhiệm khác

Mục đích 4: Đo lường kết quả và đánh giá con người Gồm những so sánh kết quả thực tế với kếhoạch Nó có thể dựa vào các thước đo tài chính và phi tài chính

Mục đích 5: Thỏa mãn các quy định và yêu cầu pháp lý, các quy định và chế độ thường ấn địnhcác phương pháp kế toán phải tuân thủ Những báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định củachế độ kế toán, cũng như chịu ảnh hưởng của các Cơ quan Nhà nước, như vụ chế độ kế toán hoặchội đồng chuẩn mực kế toán

Tong 5 múc đích trên, kế toán quản trị tập trung vào các mục đích từ 1 đến 4, kế toán tài chính chútrọng vào mục đích 5 Kế toán chi phí cung cấp thông tin phục vụ cho kế toán quản trị và kế toántài chính, nên kế toán chi phí hướng đến cả 5 mục đích nói trên

Chức năng của kế toán chi phí

Để đạt được những mục tiêu nói trên, kế toán chi phí cung cấp thông tin hỗ trợ cho một số chứcnăng khác nhau về mặt tổ chức – kiểm soát hoạt động, tính giá thành sản phẩm, kiểm soát quản lý

và kiểm soát chiến lược – được trình bày qua bảng tóm tắt dưới đây:

CHỨC NĂNG CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ

Kiểm soát hoạt động Cung cấp thông tin phản hồi về tính hiệu quả và chất lượng của

các công việc hoàn thành

Kiểm soát chiến lược Cung cấp thông tin về kết quả tài chính và kết quả có tính cạnh

tranh lâu dài, các điều kiện thị trường, thị hiếu của khách hàng,

và các cải tiến về mặt kỹ thuật của công ty

Nhu cầu thông tin về chi phí của các cấp quản trị thì khác nhau ở cấp thi hành, là cấp chế tạonguyên liệu thành thành phẩm hay thực hiện dịch vụ cung cấp cho khách hàng, thông tin cần thiếtchủ yếu nhằm để kiểm soát và cải tiến các thao tác Thông tin không tổng hợp và thường xuyên,thông tin có tính vật chất và hành động hơn là tài chính và kinh tế Ở những cấp quản trị cao hơn,như các cấp quản trị trung gian, là cấp giám sát công việc và được ra các quyết định về các nguồn

Trang 3

lực tài chính và vật chất, sản phẩm, dịch vụ, và khách hàng Những nhà quản trị này có thể khôngcần được thường xuyên cung cấp thông tin kế toán, nhưng thông tin có mức tổng hợp hơn Họ sửdụng những thông tin này để nhận diện những dấu hiệu cảnh báo về các lĩnh vực hoạt động khácvới kế hoạch cũng như những quyết định tốt hơn.

Các Ủy viên hội đồng quản trị, là cấp quản trị cấp cao được cung cấp thông titn viề chi phí có tínhtổng hợp các giao dịch và các sự kiện xảy ra ở từng cấp thi hành, khách hàng và từng bộ phận; họ

sử dung những thông tin nay để hỗ trợ cho các quyết định có hiệu quả lâu dài đối với công ty Các

uy viên thường nhận thông tin về chi phí ít thường xuyên hơn vì họ sử dung thông tin cho cácquyết định có tính chiến lược nhiều hơn là có tính tác nghiệp Trước đây, các nhà quản trị cấp cao

có thói quen chỉ sử dụng thông tin tài chính để đánh giá mặt kinh tế của các sự kiện xảy ra trong tổchức

PHÂN BIỆT KẾ TOÁN CHI PHÍ, KẾ TOÁN TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊCác chuyên ngành kế toán

Kế toán cung cấp hệ thống thông tin đáng tin cậy cho nhiều đối tượng sự dụng khác nhau Nhu cầuthông tin của các nhóm người sử dụng thông tin khác nahu để ra quyết định có thể khái quát qua

sơ đồ sau:

LOẠI QUYẾT ĐỊNH

Chủ nợ Tăng, giảm hoặc giữ nguyên mức tín dụng nợ

Nhân viên Đệ trình yêu cầu tăng lương, thay đổi việc làm

Chính phủ Tính thuế, đánh giá tác động của công ty đến môi

trường kinh doanh

Nhà quản trị Xác định trình độ và hiệu quả để điều hành hoạt

động kinh doanhCông chúng Đánh giá tác động về kinh tế và xã hội của công ty

Như vậy, rõ ràng những người cần ra các quyết định khác nhau luôn luôn có nhu cầu thông tinkhông giống nhau Ví dụ: Thông tin cho biết về việc công ty không chấp hành an toàn lao độngtheo quy định có thể ảnh hưởng đến các quyết định của nhân viên, nhưng lại không được sự quantâm của khách hàng Phân biệt nhu cầu thông tin của những đối tượng sử dụng khác nhau là mộtkhó khăn lớn đối với kế toán viên hoặc những người cung cấp thông tin khác mà muốn thõa mãntất cả đối tượng này bằng một báo cáo duy nhất hoặc bằng một số lượng báo cáo ít nhất

Do thông tin kế toán có thể đáp ứng cho nhiều đối tượng có nhu cầu sử dụng khác nhau nên kếtoán được chia thành một số chuyên ngành sau:

Kế toán tài chính (KTTC)

Kế toán tài chính đặt trọng tâm vào việc ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã xảy

ra trong quá khứ, để phục vụ cho quá trình soạn thảo các báo cáo tài chính theo quy định chung

Kế toán tài chính phản ánh sự hình thành và vận động của tài sản, nguồn vốn; quá trình kinhdoanh và kết quả của quá trình kinh doanh trong một đơn vị cụ thể, nhằm cung cấp thông tin choquản lý va chủ yếu cho những người bên ngoài công ty

Kế toán chi phí (KTCP)

Là một lĩnh vực của kế toán có liên quan chủ yếu với việc ghi chép và phân tích các khoản mauc5chi phí (nhằm tính giá thành và kiểm soát chi phí) và dự toán chi phí cho kỳ kế hoạch (nhằm mụcđích lập kế hoạch và là căn cứ để dánh giá) Đôi khi kế toán chi phí còn được gọi là kế toán quảntrị vì nó cung cấp thông tin phục vụ cho chức năng quản trị, trong đó chủ yếu cho chức năng kiểmsoát và đánh giá chi phí kinh doanh cả quá khứ và tương lai

Kế toán quản trị (KTQT)

Kế toán quản trị đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản tri ở công ty Do vậy kế toán quản trịthiết kế thông tin kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản trị dùng vào việc hoạch định, điều hành

và ra quyết định kinh doanh sẽ xảy ra trong tương lai

Phân biệt giữa kế toán chi phí, kế toán tài chính và kế toán quản trị

Trang 4

Người t thương phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính Kế toán quản trị đo lường và báocáo các thông tin có tính chất tài chính cũng như các loại thông tin khác (phí tài chính) có tác dụng

hổ trợ cho các nhà quản trị hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Kế toán tài chính bị gò bó trongcác quy định pháp lý Chế độ kế toán quy định các nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí, cáckhoản mục được xếp vào các loại tài sản, công nợ hay định ra các quy định pháp lý về lập báocáo… Kế toán chi phí đo lường và báo cáo thông tin chi phí và những thông tin khác có liên quanđến quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực của tổ chức, do đó kế toán chi phí cung cấpthông tin cho cả kế toán tài chính và kế toán quản trị

Để phân biệt rõ kế toán chi phí, kế toán tài chính và kế toán quản trị, chúng ta nghiên cứu cáclaoi5 thông tin do chúng cung cấp qua minh họa 1.1

Mục tiêu của minh họa 1.1 nhằm khái quát các căn cứ phân biệt có tính chất phổ biến, thông dung

để làm rõ các loại thông tin, qua đó làm cơ sở định hướng để tạo lập thông tin trên các báo cáo của

kế toán tài chính, kế toán quản trị và kế toán chi phí

Minh họa 1.1: SƠ ĐỒ PHÂN BIỆT CÁC LOẠI THÔNG TIN KẾ TOÁN

QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CHI PHÍ TRONG CÔNG TY SẢN XUẤT

Tất cả các tổ chức đều cần thông tin kế toán để tồn tại và phát triển Trong chương trình này,chúng ta chỉ tập trung vào các tổ chức có mục đích lợi nhuận, mà đặc biệt là các công ty sản xuất,

Bên trong và ngoài DN

Bên trong doanh nghiệp

Đặc điểm

thông tin

Cố định, quá khứ, nguyên tắc

Đáp ứng theo yêu cầu Linh hoạt, thích hợp, tương lai

Báo cáo theo yêu cầu quản trị

định

Định kỳ và thường xuyên

Định kỳ và thường xuyênPhạm vibáo

Trang 5

Kế toán chi phí là một chuyên ngành đặc biệt của kế toán, được thiết kế cho quá trình báo cáo cáchoạt động kinh doanh của công ty.

Đăc điểm hoạt động của công ty sản xuất

Cơ cấu tổ chức của công ty sản xuất

Công ty sản xuất có ba chức năng chính hay ba mặt hoạt động trong quá trình kinh doanh đó là:Sản xuất: bao gồm quá trình chế tạo thành phẩm để bán cho người tiêu dùng

Bán hàng: bao gồm các hoạt động cần thiết để tiêu thụ sản phẩm

Quản lý hành chính: bao gồm quá trình liên kết các hoạt động sản xuất với hoạt động bán hàng vàcác hoạt động khác phát sinh tai công ty

Tất cả các hoạt động đều đóng góp vào sự thành công của công ty Người ta thương cho rằng hoạtđộng sản xuất và bán hàng là hoạt động trực tiếp, có vai trò quan trọng trong các hoạt động ở công

ty, còn hoạt động nhân sự, kỹ thuật, tài chính là hoạt động gián tiếp có tính chất hành chính Cáchoạt động thường được chia nhỏ thành nhiều bộ phận gắn với các quyền hạn và trách nhiệm cụ thểcông việc Việc phân chia nhỏ các bộ phận tùy thuộc vào quan điểm phân quyền và đặc điểm, điềukiện kinh doanh của từng công ty

Cơ cấu tổ chức của công ty sản xuất có thể khía quát qua sơ đồ sau:

Minh họa 1.2 : SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA DNSX

Qua sơ đồ trên cho ta thấy Tổng Giám đốc là nhà quản trị có toàn quyền trong điều hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh, phân quyền cho các Giám đốc có quyền điều hành các mặt hoạt động,trong phạm vi và quyền hạn được giao Theo quyền hạn đó Giám đốc phân quyền cho các bộ phậncấp dưới là các bộ phận , phân xưởng sản xuất, các phòng ban…

Thông thường những người ở vị trí gián tiếp hoàn thành các chức năng quản lý hành chính củacông ty và hỗ trợ cho những ở vị trí trực tiếp Theo nguyên tắc chung phần lớn các công ty làkhông ai được phá vỡ hệ thống, mắt xích quyền hạn trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra.Quá trình hoạt động của công ty sản xuất

Quá trình hoạt động của công ty sản xuất có thể mô tả là quá trình mà theo đó tổ chức liên kết các thị trường để mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất, va2ban1 sản phẩm Chi phí của quá trình này bao gồm tất cả các khoản chi phí cần thiết để đưa sản phẩm vào vị thế có thể bán được, nghĩa là chúng bao gồm các chi phí mua vào, sản xuất, tiêu thụ, hành chính và tài chính Quá trình này được minh họa qua sơ đồ sau:

Minh họa 1.3 : QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DNSX

Tổng Giám đốc

Giám đốc

Sản xuất

Giám đốc Kinh doanh

Giám đốc Nhân sự

Giám đốc Tài chính

B, C…)

- Phòng Q

lý nhân viên

- Đề đạt khen thưởng

- Kế toán

- Thủ quỹ

- Kiểm toán

- P.K tra chất lượng

- P.N cứu PTS xuất

 Đất đai

 Nhà xưởng

 Máy móc thiết bị

 Nguyên vật liệu

 Dầu, than

Quátrìnhsảnxuất

Tồn kho thành phẩm

Bánthànhphẩm

Trang 6

Quá trình hoạt động qua sơ đồ trên gồm 5 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Mua các nguồn lực

Quá trình bắt đầu tổ chức, mua các yếu tố khác nhau của quá trình sản xuất Công ty thường muacác yếu tố sản xuất theo khối lượng đủ để đề phòng thiếu hụt đình trệ quá trình sản xuất

Có hai nguồn lực cần phân biệt: Loại thứ nhất chúng ta thường gọi là nguồn lực lâu dài hay cốđịnh, như đất đai nhà xưởng, máy móc thiết bị Nguồn lực cố định tạo thành năng lực sản xuất củacông ty, nó biểu hiện đến mức tối đa Loại thứ 2 liên quan đến yếu tố sản xuất ngắn hạn nhưnguyên vật liệu, năng lượng… chúng được tiêu dùng nhanh chóng trong quá trình sản xuất, cònnguồn lực lao động đượcbỏ qua không thuộc loại dài hạn hay ngắn hạn; nghĩa là lao động khôngphải lực lượng tồn trữ sản xuất

Giai đoạn 2: Tồn trữ nguồn lực

Khi các yếu tố đầu vào của các quá trình sản xuất được mua, chúng được dự trữ để chờ đưa vàoquá trình sản xuất Tồn trữ các yếu tố đầu vào dễ nhận diện nhất là nguyên liệu cất giữ trong kho,tùy vào nhu cầu sản xuất, đặc điểm của từng loại nguyên liệu mà công ty mua vào dự trữ cho sảnxuất

Dự trữ các nguồn lực dài hạn và ngắn hạn phụ thuộc vào bản chất của quá trình sản xuất, cũng nhưcác mức giá trên thị trường của các yếu tố đó

Giai đoạn 3: Quá trình sản xuất

Quá trình sản xuất được bắt đầu từ quá trình chuyển nguyên liệu từ kho vào phân xưởng sản xuất,

ở đó chúng được kết hợp với máy móc, sức lao động, năng lượng, phụ liệu và các nguồn lực kháctheo tỷ lệ nhất định để tạo ra thành phẩm

Độ dài của chu kỳ sản xuất (quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành thành phẩm) sẽ phụ thuộcvào bản chất của quá trình đó

Dù cho phương pháp hoặc tốc độ quá trình sản xuất như thế nào, kỹ thuật của quá trình đó cơ bản

là giống nhau Ở đầu vào các yếu tố đưa vào quá trình theo các tỷ lệ và ở đầu kia, thành phẩm tạora

Giai đoạn 4: Sự tồn trữ thành phẩm

Vào giai đoạn hoàn thành quá trình sản xuất thành phẩm được chuyển vào kho để đem bán Mụcđích của công ty là đảm bảo sao cho có sự cân đối giữa số lượng thành phẩm với số lượng có thểtiêu thụ Số lượng thành phẩm trong kho ở bất kỳ thời điểm nào cũng đại diện cho số lượng thànhphẩm hoàn thành, nhưng chưa tiêu thụ được

Giai đoạn cuối cùng của quá trình hoạt động là bán thành phẩm cho khách hàng Quá trình tiêu thụđược xem là chấm dứt khi thành phẩm đã giao cho khách hàng Giai đoạn này của quá trình sẽ baogồm các yếu tố đầu vào, các yếu tố của quá trình tiêu thụ, tiếp thị và quản lý hành chính

Quá trình vận động của chi phí trong công ty SX

Công ty sản xuất cung cấp sản phẩm hữu hình, mà chúng hình thành từ nguyên vật liệu được mua

từ các công ty sản xuất hoặc công ty thương mại Đến cuối kỳ, tồn kho của công ty sản xuất gồmnguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm Quá trình vận động của chi phí trong công tysản xuất được khái quát qua sơ đồ sau:

khac

TỒN KHO SPDD

Doanh thu

Tồn kho thành phẩm

Giá vốn hàng bán CPSX gián tiếp

CPKHTSCĐ

TSCĐ

Lãi gộp

CP đầu tư vào TSCĐ

CP HĐKD khác

CP HĐKD phát sinh trong kỳ

Lãi HĐKD

(-)

(=) (-)(=)

Trang 7

Sơ đồ trên nhằm minh họa quá trình vận động của chi phí ở công ty sản xuất, bao gồm các loại chiphí của các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, với quá trình vận động của chúng qua cácbáo cáo tài chính.

Từ sơ đồ trên cho ta thấy mối liên hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh Căn cứ trên mối quan hệ đó, giá vốn hàng bán ở công ty sản xuất có thể được xác định quacác bước sau:

trong kỳ

trong kỳ

KẾ TOÁN CHI PHÍ TRONG MÔI TRƯƠNG CẠNH TRANH TOÀN CẦU

Khởi sự vào giữa thập nie6n, các công ty sản xuất ở Bắc Mỹ và Châu Âu phải đối đầu với sự cạnhtranh gay gắt với các công ty nước ngoài có ưu thế hàng hóa chất lượng cao và giá thấp Các mạnglưới toàn cầu huy động và chi tiêu vốn để mua và vận chuyển nguyên liệu, và để phân phối thànhphẩm cho phép những nhà sản xuất giỏi nhất dù đóng ở bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tiếp cậnvới những thị trường nội địa trên khắp thế giới Trong môi trường toàn cầu hiện nay, một công ty

có chi phí và chất lượng ngang băng với các đối thủ cạnh tranh nội địa chưa đủ để có thể tồn tại vàthịnh vượng nếu chi phí, chất lượng và sản phẩm của công ty đó không tốt như các công ty hàngđầu trên thế giới

Các hệ thống trước đây mà các công ty đã sử dụng trong nhiều thập niên để đo lường chi phí sảnphẩm ngày nay đã cung cấp những thông tin bị bóp méo nhiều Những hệ thống này không thểphân bổ một cách chính xác chi phí của những nguồn lực gián tiếp khổng lồ cần thiết để thiết kế,sản xuất, tiếp thị,bán, giao sản phẩm và dịch vụ Những sai sót do hệ thống tính giá thành gây ra vì

Trang 8

không còn phản ảnh được mặt kinh tế của các hoạt động hiện hành đã khiến các nhà quản lý, cácnhà thiết kế, và các nhà điều hành trực tiếp không có được các quyết định đúng đắn.

Những yêu cầu mới đối với thông tin kế toán chi phí

Trong môi trường cạnh tranh mãnh liệt, các nhà quản lý của cả các tổ chức dịch vụ lẫn các công tysản xuất đầu cần có thông tin chính xác, thích hợp về các chi phí thực tế Đối với các công ty sảnxuất, các nhà quản lý cần thông tin để làm các việc sau:

Giúp các kỹ sư thiết kế những sản phẩm mà có thể được sản xuất một cách hiệu quả

Báo hiệu nơi nào trong các hoạt động sản xuất cần cải tiến về chất lượng, năng suất, và tốc độ.Hướng dẫn các quyết định về cơ cấu sản phẩm

mà có thể giúp họ cải tiến chi phí, cải tiến chất lượng, và giảm thời gian làm việc của nhân viên.Ngày nay kế toán viên chi phí thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi thông tin tốt hơn bằng cách sử dung hệthống tính giá thành dựa trên hoạt động, là hệ thống đo lường chính xác hơn chi phí của cáchoạt động, sản phẩm, dịch vụ, và khách hàng Các hệ thống kiểm soát chi phí dựa trên hoạt động

là hệ thống cung cấp thông tin phản hồi đúng lúc để nhận biết và cải tiến chi phí, là hệ thống liênkết các quyết định và hành động hiện hành với các lợi ích tài chính lâu dài

Hệ thống tính giá thành dựa trên hoạt động

Ngày nay, các tổ chức sản xuất và dịch vụ đang vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trênhoạt động gọi tắt là ABC, để giải quyết hạn chế của các hệ thống tính giá thành truyền thống trongviệc phân bổ một cách chính xác các khoản chi phí gián tiếp của họ Ngày nay có rất nhiềucông ty sản xuất có chi phí gián tiếp gấp 5, 10 lần chi phí lao động trực tiếp Các hệ thống tính giáthành truyền thống phân bổ những khoản chi phí để lộ những sai lầm lớn trong chi phí phânbo613cho sản phẩm và khách hàng

Các hệ thống tính giá thành dựa trên các hoạt động (ABC) tránh được những phân bổ chủ quan vànhững nhầm lẫn về chi phí theo sau bằng cách: Trước hết phân bố chi phí của các nguồn nhân lựccho những hoạt động có sử dung các nguồn lực đó Sau đó chi phí của hoạt động được phân bổcho sản phẩm, dịch vụ và khách hàng mà gây ra nhu cầu hoặc được hưởng lợi từ những hoạt động

đã hoàn thành đó Điều này có nghĩa là chi phí mua nguyên liệu được phân bổ cho các mặt hàngmua vào, chi phí thiết kế sản phẩm được phân bổ cho những sản phẩm mới được thiết kế, và chiphí hỗ trợ khách hàng được phân bổ cho cá nhân khách hàng

Quản lý dựa trên hoạt động

Lúc đầu các công ty sử dụng phương pháp tính giá thành dựa trên hoạt động để phân tích các sốliệu tài chính trước đây Họ phân bổ các chi phí hoạt động kinh doanh của kỳ gần nhat61cho sảnphẩm và dịch vụ sản xuất và khách hàng được phục vụ trong kỳ đó Quá trình này cho phép cácnhà quản lý nhận biết chi phí thực tế của các hoạt động và quy trình thực hiện trong kỳ vừa qua vàkhả năng sinh lợi của các loại sản phẩm, dịch vụ và khách hàng của kỳ trước đó Thông tin này trởthành thông tin căn bản để hành động, thường được xem như quản lý dựa trên hoạt động(ABM) trong kỳ sắp đến ABM bao gồm rất nhiều quyết địh để thực hiện các công việc sau:Điều chỉnh phương pháp tính giá, cơ cấu sản phẩm, và cơ cấu khách hàng

Củng cố mối quan hệ giữa khách hàng với nhà cung cấp

Cải tie5n1 mẫu mã của sản phẩm và dịch vụ

Thực thi các hoạt động hiệu quả hơn

Loại bỏ nhu cầu phải thực hiện một số hoạt động nhất định mà không tạo ra giá trị đối với kháchhàng

Thí dụ ABM quản lý dực trên hoạt d9o6ng556bao gồm những nỗ lực hiện nay để tái bố trí và cảitiến các quá trình kinh doanh và đầu tư vào những công nghệ mới mà làm giảm chi phí thực hiệncác hoạt động chủ yếu

Ngày nay các công ty hàng đầu còn vận dụng các hệ thống tính giá thành dựa trên hoạt động của

họ tròng các mô hình dự báo Thay vì chỉ nhập các số liệu lịch sử vào hệ thống tính giá thành dựctrên hoạt động, các công ty này đã sử dụng các số liệu dự toán để ước tính chi phí của hoạt động

Trang 9

trong kỳ tương lai Ngoài ra họ còn ước tính chi phí tương lai của việc sản xuất sản phẩm và phục

vụ khách hàng Những con số dự báo này giúp các nhà quản trị có các quyết định tốt hơn trước khicác sự kiện thực tế xảy ra và tác động vào cách ứng xử của chi phí tương lai một cách chủ độnghơn Thí dụ, bằng cách sủ dụng hệ thống tính giá thành dựa trên hoạt động, nhà quản lý có thểđiều chỉnh mức cung các nguồn lực (con người, thiết bị và phương tiện) ở các kỳ tương lai với nhucầu ước tính đối với các hoạt động nhằm đáp ứng số lượng và cơ cấu dự kiến về sản phẩm, dịch vụ

và khách hàng Một khi các nhà quản trị còn sử dụng hệ thống tính giá thành dực trên hoạtđộng làm nền tảng cho hệ thống dự toán của họ thì rất nhiều khoản mục chi phí trước đâyđược xem là cố định sẽ trở thành khả biến, vì nhà quản trị có thể điều chỉnh mức cung củacác nguồn lực này cho phù hợp với nhu cầu sử dụng tiềm năng của chúng

Sự đổi mới của kế toán chi phí

Việc tính toán chi phí của các hoạt động, sản phẩm và khách hàng của kế toán chi phí trước đâycho thấy là không phù hợp trong môi trường cạnh tranh và công nghệ sản xuất không ngừng thayđổi như hiện nay Với các báo cáo tổng hợp hàng tháng về kết quả tài chính, hệ thống kiểm soátchi phí của công ty dã gửi quá trễ các báo cáo đến cho các nhà quản lý để họ kịp có hành động sửasai Đồng thời, thông tin trên các báo cáo này quá tổng hợp để cho phép các nhà quản trị nhận biếtđược những nguyên nhân gây ra các biến động xấu Điều này cho thấy kế toán chi phí cần phải co

sự thay đổi để đáp ứng được nhu cầu thông tin kịp thời cho công tác quản lý và thông tin do kếtoán chi phí cung cấp phải thật chi tiết đủ để giúp cho người quản lý kiểm soát và nghiên cứu cảitiến chi phí

Có một nhà quản trị cấp cao đã nhận xét: Để hiểu được vấn đề của thông tin tài chính chậm trễ vàtổng hợp, bạn hãy hình dung nhà quản trị như một người chơi bowling, đang mỗi phút thảy tráibanh vào các chai nhưng lại không được thông báo cho biết mỗi lần thảy trái banh đã làm ngãđược bao nhiêu chai Đến cuối tháng chúng ta kết sổ, tính tổng số chai bị thảy ngã trong tháng, sosánh số liệu này với mức chuẩn, và báo lại cho người chơi biết số tổng cộng và số chênh lệch Nếu

số tổng cộng thấp hơn mức chuẩn, chúng ta đòi hỏi người chơi giải thích và khuyến khích anh tanên cố g8ang1 hơn vào tháng sau Chúng ta bắt đầu hiểu ra rằng chúng ta sẽ không thể đào tạođược nhiều người chơi bowling đẳng cấp thế giới với một hệ thống báo cáo như thế này

Báo cáo kết quả hàng tháng của rất nhiều bộ phận kinh doanh cũng bắt đầu dày đặc với nhữngkhoản phân bổ chi phí khiến cbo các nhà quản tri phải chịu trách nhiệm đối với kết quả mà họkhông đặt dưới sự kiểm soát của họ cũng như không thể truy cứu chúng Chi phí của các nguồnlực cấp công ty, như chi phí thắp sáng và điều hòa nhiệt độ trong văn phòng hay ở khuôn viên bênngoài, cũng được phân bổ một cách tùy tiện cho từng bộ phận cho dù những bộ phận này không cótrách nhiệm với các khoản chi phí đó Thí dụ, hãy trở lại với ví dụ trên, hãy nghĩ về các kế toánviên, sau khi một quả banh được thảy xuống mỗi một làn trong sân chơi 35 làn bóng, đếm tất cả sốchai bị ngã của cả sân chơi 35 làn rồi sau đó chia tổng số chai bị ngã cho 35 và báo cáo lại số bìnhquân cho từng người chơi Con số này có thể được tính rất chính xác nhưng nó vô nghĩa đối với cánhân người chơi Từng người chơi muốn biết kết quả của chính họ, họ không cần số bình quân.Những người chơi không muốn kết quả của bản thân họ bị ảnh hưởng bởi hành động của nhữngngười khác mà họ không thể kiểm soát được

Những dấu hiệu bị bóp méo và chậm trễ của các hệ thống KTCP đã có những biểu hiện thay đổisâu sắc trong các tổ chức Bản chất của công việc đã có những biến đổi về căn bản Các tiêu chuẩncông việc và chi phí tiêu chuẩn đã được các kỹ sư thiết lập từ một thế kỷ nay trong phong tràoquản lý khoa học Hệ thống tiêu chuẩn công việc và chi phí phản ảnh một quan điểm mà qua đócác nhà quản trị xác định công việc của những người thừa hành Những người thừa hành đượchướng dẫn để tuân thủ các thủ tục này, và hệ thống đo lường (so sánh kết quả thực tế với các tiêuchuẩn đã xây dựng) được dùng để kiểm tra liệu công nhân có tuân theo các thủ tục đó hay không.Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các Công ty chỉ so sánh kết quả với các tiêuchuẩn quá khứ thì chưa đủ Cải tiến không ngừng kết quả là cần thiết để sánh vai hoặc vượt trộicác đối thủ cạnh tranh hàng đầu Cải tiến không ngừng ngụ ý là những quá trình mà người côngnhân không ngừng giải quyết vấn đề và tìm tòi cách thức để làm giảm hoặc loại trừ hao hụt, nângcao chất lượng, và giảm thiểu khiếm khuyết

Ngày nay nhiều nhà quản trị đã nhận thức rằng nguồn sáng kiến mới tốt nhất để cải tiến khôngngừng chính ở chỗ công nhân trực tiếp sản xuất, là những người gắn bó nhất với công việc đangđược thực hiện Những người này nhìn thấy các hình thức khiếm khuyết đang xảy ra và những

Trang 10

nguyên nhân chính gây nên các khiếm khuyết đó Cho phép công nhân được hành động mà không

áp đặt lệnh từ các nhà quản trị trung gian và cấp cao được xem là sự trao quyền hạn chp côngnhân Troa quyền hạn cho công nhân là nhà quản trị cho phép những công nhân trực tiếp sảnxuất, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và nhà cung cấp được quyền ra quyết định Công nhânđược khuyến khích giải quyết vấn đề và sáng tạo ra những phương pháp mới để thực thi công việc

và làm vừa lòng khách hàng Tuy nhiên, để áp dụng những cải tiến này, công nhân không thể gắn

bị gắn một cách chặt chẽ với các tiêu chuẩn do các kỹ sư và các nhà quản lý xây dựng từ trước màđúng hơn họ cần thông tin để thử nghiệm các giải pháp được thiết kế nhằm sử chữa tận gốc cácnguyên nhân gây ra khiếm khuyết Họ cũng cần thông tin:

Để nhận diện nguồn gốc và những nguyên nhân có thể có của các khiếm khuyết

Để thấy ngay lập tức những hậu quả từ việc cố gắng sửa chữa các nguyên nhân gây ra khiếmkhuyết

Trong quan điểm quản lý chất lượng toàn diện (TQM) này, công nhân chính là người giải quyết

vấn đề Họ là một bộ phận của quá trình mà giúp cho họ tìm ra giải pháp để loại bỏ sản phẩmhỏng, hao hụt, và các hoạt động không tăng thêm giá trị cho khách hàng Như vậy vai trò của côngnhân đã thay đổi Họ không còn chỉ phải tuân thủ các thủ tục hoạt động tiêu chuẩn và giám sátmáy móc sản xuất sản phẩm Bây giờ họ phải nhanh chóng nhận ra vấn đề khi chúng phát sinh,nghĩ ra các phương pháp chống lại các vấn đề đó, áp dụng các phương pháp này, và thử nghiệm vàcông nhận các vấn đề đã được các phương pháp đó giải quyết Đối với trách nhiệm này, công nhâncần thông tin mới để giúp họ giải quyết vấn đề chứ không chỉ so sán h chúng với các chuẩn mực

có sẵn mà nhanh chóng trở nên lạc hậu Ngày nay thông tin kế toán chi phí đã chuyển từ sự chútrọng vào quá khứ qua việc kiểm soát các hành động của công nhân Thay vào đó, các nhà quản trịđang triển khai những hình thức thông tin kế toán chi phí mới để hỗ trợ và gai tăng quyền hạn chocông nhân viên nhằm giúp họ liên tục cải tiến hoạt động của mình

Trang 12

Chươg 3

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO CHI PHÍ THỰC TẾ

Chương này trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản như sau:

Mục tiêu, đăc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế

Lý luận cơ bản về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Quy trình kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế

Vận dụng những lý luận cơ bản kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế vào:

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công nghiệp

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp

Kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nông nghiệp

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN PHẨM VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO CHI PHÍ THỰC TẾ

Mục tiêu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế là một trong những mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ra đời sớm nhất Từ khi ra đời cho đến nay, mục tiêu mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế vẫn gắn liền với quá trình tập hợp, phân bổ chi phí sản xuất thực tế để tính giá thành thực tế sản phẩm nhằm hướng đến 3 mục tiêu cơ bản:

Mục tiêu thứ nhất, cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính

Mục tiêu thứ hai, cung cấp thông tin phục vụ cho hoạch định, kiểm soát và ra quyết định trong nội

bộ công ty

Mục tiêu thứ ba, cung cấp thông tin để tiến hành việc nghiên cứu cải tiến chi phí sản xuất

Trong 3 mục tiêu trên, mục tiêu thứ nhất thường gắn liền và chỉ thay đổi cùng với những nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán của từng quốc gia Mục tiêu thứ hai và mục tiêu thứ ba thường gắnliền và thay đổi theo nhu cầu thông tn quản trị chi phí sản xuất của từng công ty

Đăc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế

Đặc điểm của mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo chi phí thực tế là:

Tập hợp chi phí sản xuất căn cứ vào chi phí sản xuất thực tế phát sinh

Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đều dựa trên cơ sở chi phí sản xuất thực tế Những đặc điểm trên đây thể hiện thông tin giá thành sản phẩm theo mô hình kế toán chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế chi có được sau khi quá trình sản xuất kết thúc,giá thành sản phẩm thể hiện chi phítrong quá khứ, rất phù hợp với thông tin theo yêu cầu kế toán, nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán chung khi lập và trình bày báo cáo tài chính Sự phù hợp này đã thể hiện vai trò tích cực của mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí sản xuất thực tế qua một thời kỳ lịch sử khá dài Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi mà công nghệ sản xuất thay đổi nhanh chóng, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế đang đứng trước nhu cầu cải tiến bức bách để đáp ứng tốt hơn về cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình quản trị chi phí

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vị, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định chi phí sản xuất phát sinh ở những nơi nào (phân xưởng, bộ phận, quy trình sản xuất…) và thời kỳ chi phí phát sinh (trong kỳ hay trước kỳ) để ghi nhận vào nơi chịu chi phí (sản phẩm A, sản phẩm B…)

Để xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất người ta thường dựa vào những căn cứ như: địa bàn sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm sản phẩm, yêu cầu quản lý, trình độ và phương tiện của kế toán Các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là phân xưởng sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm hay nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, công trường thi công…

Trang 13

Trong công tác kế toán, xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở xây dựng hệ thống chứng từ ban đầu liên quan đến chi phí sản xuất, xây dựng hệ thống sổ chi tiết của chi phí sản xuất.

Đối tượng tính giá thành:

Đối tượng tính giá thành sản phẩm là khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định mà công

ty cần tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn liền với giải quyết hai vấn đề cơ bản Vấn đề thứ nhất, về mặt kỹ thuật, khi nào một sản được công nhận là hoàn thành; vấn đề thứ hai, về mặt thông tin, khi nào cần tính tổng giá thành và giá thành đơn vị Để xác định đối tượng tính giá thành, kế toán có thể dựa vào những căn cứ như: quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm sản phẩm, yêu cầu quản lý, trình độ và phương tiện của kế toán

Đối tượng tính giá thành sản phẩm thường được chọn là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, hoặc những chi tiết, khối lượng sản phảm dịch vụ đến một điểm dừng thích hợp mà nhà quản lý cần thông tin về giá thành

Lựa chọn đối tượng tính giá thành thích hợp sẽ là cơ sở để tính giá thành chính xác

Giữa đối tượng tính giá thành với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường có nhữngn mối quan

Nghiên cứu mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất với đối tượng tính giá thành giúp

kế toán thiết lập quy trình kế toán chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm và phân bổ chính xác hơn chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm

Kỳ tính giá thành:

Kỳ tính giá thành sản phẩm là khoảng thời gain cần thiết phải tiến hành tổng hợp chi phí sản xuất

và tính tổng giá thành, giá thành đơn vị Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh kế, kỹ thuật sản xuất và nhucầu thông tin giá thành, kỳ tính giá thành có thể được xác định khác nhau Trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế, kỳ tính giá thành được chọn trùng với kỳ

kế toánnhư tháng, quý, năm

Xác định kỳ tính giá thành sẽ giúp cho kế toán xác định rõ khoảng thời gian chi phí phát sinh, thời gian tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm để thu nhập, cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo kế toán; ra quyết định và đánh giá hoạt động sản xuất theo yêu cầu nhà quản lý trong từng thờikỳ

Quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế

Quá trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế có thể tiến hành theo nhiều quy trình khác nhau Quá trình này có thể khái quát qua sơ đồ sau:

Trang 14

Quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế có thể trình bày qua các bước cơ bản như sau:

Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành và kết cấu giá thành sản phẩm thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp

Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để làm cơ sở xây dựng hệ thống chứng từ ban đầu củachi phí, mở sổ chi tiết ci phí và tiến hành tập hợp chi phí sản xuất Theo chế độ kế toán hiện nay, chứng từ chi phí và sổ chi tiết đều mang tính hướng dẫn các doanh nghiệp có thể linh hoạt điều chỉnh hay tự xây dựng theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật và nhu cầu thông tin cho quản lý

Xác định đối tượng tính giá thành để làm cơ sở tiến hành tổng hợp chi phí sản xuất và tính tổng giá thành, giá thành đơn vị sản phẩm

Xác định kết cấu giá thành sản phẩm theo từng loại hình doanh nghiệp để làm nền tảng nhận diện quan hệ, phạm – vi chi phí sản xuất có liên quan Kết cấu giá thành sản phẩm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật – sản xuất của từng ngành Tuy nhiên về cơ bản, theo chế độ kế toán Việt Nam hiện nay, chỉ được tính vào giá thành sản phẩm phần chi phí sản xuất Các chi phí khác, như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp hay các khoản chi do nguồn vốn chuyên dùng tài trợ như quỹ đầu tư xây dựng, quỹ phúc lợi… không được tính vào giá thành sản phẩm

Tập hợp chi phí SX theo từng đối tượng tập hợp chi phí

Quá trình tập hợp chi phí sản xuất tuỳ thuộc vào đặc điểm ban đầu của chi phí sản xuất phát sinh, môi1 quan hệ giữa nchi phí phát sinh với từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Tiến hành tập hợp trực tiếp từ chứng từ vào đối tượng tập hợp chi phí hoặc từ chứng từ tập hợp chung sau đó chọn tiêu thức thích hợp để phân bổ cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Quá trình tập hợp chi phí sản xuất thường phải được xem xét theo 3 loại chi phí: chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ, chi phí trả trước và chi phí phải trả liên quan trong kỳ

Tổng chi phí sản xuất

Tiến hành tổng hợp chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng đối tập hợp chi phí sản xuất Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất có thể tiến hành thông qua kết chuyển trực tiếp chi phí sản xuất trực tiếp hoặc phải chọn tiêu thức phân bổ thích hợp để phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp vào các đối tượng tính giá thành

Tính tổng giá thành, giá thành đơn vị từng sản phẩm

Việc tính tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị từng sản phẩm có thể thực hiện theo một trong 2 trình tự sau:

Từ tổng chi phí đầu vào (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ) tiến hành tính chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ và loại trừ chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ ra khỏitổng chi phí đầu vào để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm

Từ tổng chi phí đầu vào (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ) tiến hành tính chi phí sản xuất của mỗi sản phẩm hoàn thành tương đương sau đó tính chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tổng CPSX và CPSX đơn vị cho sản phẩm hoàn thành tương đương trong kỳ

KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP

Khái quát về sản xuất công nghiệp

Trang 15

Sản xuất công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất tạo ra các sản phẩm hàng hoá đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt, trong sản xuất… Doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp là hoạt động chính, đây chính là những sản phẩm đã đăng ký sản xuất kinh doanh.

Sản xuất công nghiệp thường ổn định, do các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thường có nhữngqui trình công nghệ sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất tương đối ổn định, sản xuất thường tập trungtheo từng phân xưởng; chủng loại vật tư và nguồn nhân lực sử dụng cũng thường ổn định theo từng quá trình sản xuất Đây chính là đặc điểm của sản xuất công nghiệp giúp phân biệt với nhữngngành sản xuất vật chất khác như xây lắp, nông nghiệp và cũng giúp cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đầu tư, đổi mới và tự động hoá quá trình sản xuất Những đặc điểm này chi phối cơ bản đến đặc điểm chi phí sản xuất, phương pháp lập dự toán và quản lý chi phí sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm công nghiệp

Ngoài ra, sản xuất công nghiệp cũng rất phong phú và đa dạng Quá trình sản xuất có thể bao gồm nhiều qui trình công nghệ chế biến khác nhau và mỗi doanh nghiệp có những qui trình công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất khác biệt Đặc điểm này chi phối đến sự khác biệt trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở từng bộ phận, từng doanh nghiệp

Về phương diện tổ chức và quản lý sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chủ yếu là thực hiện sản xuất các sản phẩm theo chức năng Tuy nhiên, để tận dụng năng lực sản xuất hoặc đôi khi để đảm bảo chất lượng sản phẩm, chủ động trong sản xuất, các đơn vị sản xuất công nghiệp còn tổ chức các hoạt động phục vụ cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho hoạt động sản xuất chức nănbg Về cơ bản, những hoạt động phục vụ này cũng gắn liền với những đặc điểm kỹ thuật sản xuất như sản xuất công nghiệp Tuy nhiên, nó không phải là hoạt động chứv năng nên thường

có quy mô nhỏ, qui trình công nghệ sản xuất giản đơn

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Kế toán tập hợp chi phí nguyeên vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp để chế tạo ra sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu …Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh có thể liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí nguyên vật liệu chính, hoặc có thể liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí như chi phí nguyên vật liệu phụ…

Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán thường căn cứ vào các chứng từ và sử dụng những tài khoản sau:

Chứng từ sử dụng:

Phiếu xuất kho (02-VT)

Bảng phân bố nguyên liệu, vật liệu (07-VT)

Tài khoản sử dụng: TK 621 “Chi phí NVL trực tiếp”

Tài khoản 621 dùng để theo dõi tình hình tập trung và kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp trong quá trình sản xuất với nội dung kinh tế và kết cấu như sau:

SỐ PHÁT SINH NỢ:

Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho

Kết chuyển hoặc phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ vào bên nợ tài khoản 154 “Chi phí sản xuất” kinh doanh dở dang “hoặc bên nợ tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” và chi tiết cho từng đối tượng để tính giá thành công trình xây lắp,giá thành sản phẩm, dịch vụ

Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường vào tài khoản 632

Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ

Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng đối tượng kế toán chi phí và quá trình tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp như sau:

Nếu liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí, căn cứ vào chứng từ ghi vào từng sổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp được mở rộng cho từng đối tượng

Nếu liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, căn cứ vào chứng từ tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu chung theo từng loại hoặc từng nhóm sau đó chọn tiêu thức phân bổ và ghi mức phân

bổ vào từng sổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp được mở rộng cho từng đối tượng

Kế toán tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp được phản ảnh qua sơ đồ sau: (trường hợp hoạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên)

Trang 16

(2)

TK 111

(1) Tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp xuất từ kho

(2) Tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp mua ngoài xuất dùng trực tiếp không nhập kho

Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội của công nhân trực tiếp chế tạo ra sản phẩm

Chi phí nhân công trực tiếp có thể liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí hoặc có thể liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí

Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán thường căn cứ vào các chứng từ và sử dụng những tài khoản sau:

Chứng từ sử dụng:

Bảng chấm công (01a – LĐTL)

Bảng chấm công làm thêm giờ (01b – LĐTL )

Bảng thanh toán tiền lương (02 – LĐTL)

Bảng thanh toán tiền thưởng (03 – LĐTL)

Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành (05 – LĐTL)

Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ (06 – LĐTL)

Bảng thanh toán tiền thuê ngoài (07 – LĐTL)

Hợp đồng giao khoán (08 – LĐTL)

Biên bảng thanh lý (nghiệm thu) hợp đồng giao khoán (09 – LĐTL)

Bảng kê trích nộp các khoản theo lương (10 – TĐTL)

Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội (11 – LĐTL)

Tài khoản sử dụng: 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”

Tài khoản 622 dùng để theo dõi tình hình tập hợp và kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp trong quá trình sản xuất với nội dung kinh tế và kết cấu như sau:

SỐ PHÁT SINH NỢ:

Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm (Xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp….) bao gồm: Tiền lương, tiền công lao động và khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định hiện hành (19%) trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất (Riêng đối với hoạt động xây lắp không bao gồm các khoản trên lương về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn)

Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ tài khoản 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dởdang” hoặc bên nợ tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”

Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào tài khoản 632

Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ

Tài khoản 622 được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí

Nếu liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí, căn cứ vào chứng từ ghi vào từng sổ chi phí nhân công trực tiếp được mở cho từng đối tượng

TK 621

TK 152

Trang 17

Nếu liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, trước hết căn cứ vào chứng từ tập hợp chi phí nhân công trực tiếp chung theo từng loại hoặc từng nhóm sản phẩm, sau đó chọn tiêu thức phân bổ

để tính toán mức phân bổ cho từng đối tượng và ghi mức phân bổ vào từng sổ chi phí nhân công trực tiếp được mở cho từng đối tượng tập hợp chi phí.Kế toán tập hợp CP nhân công trực tiếp được phản ánh qua sơ đồ sau:

(1) Tập hợp chi phí tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất

(2) Trích các khoản kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tính vào chi phí.(3) Trích trước tiền lương nghỉ phép công nhân sản xuất

(4) Nếu doanh nghiệp phân bổ khoản trích trước tiền lương nghỉ phép công nhân trực tiếp sản xuất khi phát sinh ghi NỢ TK 142 / CÓ TK 334 và sau đó định kỳ phân bổ NỢ TK / CÓ TK 142

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trên Các khoản mục ch phí thuộc chi phí sản xuất chung như:

Chi phí lao động gián tiếp, phục vụ, tổ chức quản lý sản xuất tại phân xưởng

Chi phí nguyên vật liệu dùng trong máy móc thiết bị

Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất

Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong hoạt động sản xuất

Chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước, sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại xưởng sản xuất

Phiếu xuất kho

Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ

Bảng phân bổ tiền lương

Bảng phân bổ khấu hao

Hoá đơn dịch vụ

Tài khoản sử dụng : TK 627 “Chi phí sản xuất chung”

Tài khoản 627 dùng để theo dõi tình hình tập hợp và kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất với nội dung kinh tế và kết cấu như sau:

SỐ PHÁT SINH NỢ:

TK 622(1)

Trang 18

Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ, bao gồm: Lương, phụ cấp lương, tiền ăn giữa ca của công nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất; Khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định hiện hành (19%) trên tiền lương phải trả nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất; Khấu hao tài sản cố định dùng chung chohoạt động của phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất.

SỐ PHÁT SINH CÓ:

Các khoản giảm chi phí sản xuất chung

Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung vào bên nợ tài khoản 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc bên nợ tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”

Kết chuyển biến phí sản xuất chung vượt trên mức bình thường vào tài khoản 632

Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ do mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn mức công suất bình thường

Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ

Tài khoản 627 được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng)

Kế toán tập hợp chi phí SX chung được phản ánh qua sơ đồ sau:

Trang 19

Tập hợp chi phí tiền lương, kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của bộ phận quản

lý, phục vụ sản xuất

Tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu liên quan đến quản lý, phục vụ sản xuất

Tập hợp chi phí công cụ, dụng cụ dùng trực tiếp sản xuất; quản lý, phục vụ sản xuất

Tập hợp chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định dùng sản xuất, phục vụ sản xuất.Tập hợp CP dịch vụ thuê ngoài liên quan phục vụ sản xuất

Tập hợp CP khác bằng tiền liên quan đến phục vụ sản xuất

Trích trước chi phí liên quan đến quản lý, phục vụ sản xuất

Phân bổ chi phí sản xuất liên quan đến quản lý, phục vụ sản xuất

Kế toán tập hợp chi phí thiệt hại trong sản xuất

Các khoản thiệt hại trong sản xuất bao gồm: Thiệt hại về sản phẩm hỏng và thiệt hại ngừng sản xuất

Trang 20

Kế toán các khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng:

Phân

loại sản phẩm

hỏng

Căn cứ vàomức độ khôngđạt tiêu chuẩn

kỹ thuật

Sản phẩm hỏng sửa chữa được: là sản phẩm

hỏng xét về mặt kỹ thuật có thể sửa chữa được

và xét về mặt kinh tế thì chi phí sửa chữa không vượt quá chi phí chế tạo (giá thành), đồng thời việc sửa chữa có lợi về mặt kinh tế

Sản phẩm hỏng không sửa chữa được: là

những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật khôngthể sửa chữa được, hoặc về mặc kinh tế thì chi phí sửa chữa lớn hơn chi phí chế tạo mới sản phẩm vì vậy việc sửa chữa không có lợi về mặt kinh tế

Phân loại

sản phẩm

hỏng

 Căn cứ vàomối quan hệvới việc hạchtoán và lập kếhoạch

Sản phẩm hỏng trong định mức: là những sản

phẩm hỏng không thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất Các nhà quản trị chấp nhận 1 tỷ lệ sản phẩm hỏng vì họ không muốn tốn thêm chi phí

để hạn chế hoàn toàn sản phẩm hỏng khi việc bỏthêm chi phí này sẽ tốn kém nhiều hơn việc chấp nhận 1 tỷ lệ tối thiểu về sản phẩm hỏng

Sản phẩm hỏng ngoài định mức: là các sản

phẩm hỏng nằm ngoài dự kiến của nhà sản xuất

do các nguyên nhân bất thường như nguyên vật liệu không đảm bảo chất lượng, máy móc thiết

bị hư hỏng đột xuất, …

Thiệt hại sản phẩm hỏng = (Chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng + Giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được) – (Giá trị phế liệu thu hồi + Khoản thu bồi thường của cá nhân, tập thể gây ra sản phẩm hỏng)

Nguyên tắc

hạch toán Thiệt hại sản phẩm hỏng trong định mức: được xem như chi phísản xuất thành phẩm trong kỳ.

Thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức: không được tính vàoCPSX, thường được xem là một khoản phí tổn thời kỳ phải trừvào doanh thu trong kỳ và được hạch toán vào giá vốn hàng bán

Chứng từ

sử dụng Phiếu báo sản phẩm hỏng: nêu rõ tên bộ phận sản xuất, tên sảnphẩm và số lượng sản phẩm hỏng, nơi phát sinh sản phẩm hỏng,

nội dung và mức độ hư hỏng; nguyên nhân và người chịu tráchnhiệm

Các chứng từ phản ánh chi phí sửa chữa (nếu là sản phẩm hỏngsửa chữa được)

Nội dung hạch

toán Đối với sản phẩm hỏng trong định mức:

Thiệt hại về sản phẩm hỏng trong định mức được xem như chi phísản xuất chính phẩm trong kỳ Vì vậy, trường hợp này, kế toán chỉcần theo dõi các khoản giá trị tận thu từ sản phẩm hỏng nhằm điềuchỉnh giảm giá thành Căn cứ vào Phiếu nhập kho phế liệu, hoặccác chứng từ phản ánh khoản thu tiền bán phế liệu, phế phẩm Kếtoán ghi: Nợ TK 152, 112, 131 / Có TK 154 “SP đang chế tạo”Đối với sản phẩm hỏng trên định mức:

Trường hợp sản phẩm hỏng sửa chữa được:

Trang 21

Trường hợp phát hiện và sửa chữa ngay trong kỳ: Chi phí sửa chữasản phẩm hỏng được phản ánh vào các TK 621, 622, 627 chi tiết

“sửa chữa sản phẩm hỏng” Cuối kỳ, kết chuyển vào 154 “Sửa chữasản phẩm hỏng” để kết chuyển vào giá vốn hàng bán sau khi trừ cáckhoản thu bồi thường hoặc giá trị phế phẩm thu bồi,

Trường hợp phát hiện SP hỏng trong hoặc cuối kỳ, sang kỳ sau mớisửa chữa:

Kết chuyển giá trị sản phẩm hỏng sửa chữa được sang TK 154 “Sửachữa sản phẩm hỏng”:

Nợ TK 154 “Sửa chữa sản phẩm hỏng”/ Có TK 154 “Sản phẩm đangchế tạo”: theo Chi phí sản xuất thực tế

Sang đầu kỳ sau, căn cứ vào chứng từ có liên quan, phản ánh chi phísửa chữa phát sinh:

Nợ TK 155/ Có TK 154 “Sửa chữa chi phí hỏng”

Khoản chi phí sửa chữa sản phẩm được xác định là khoản chi phí sảnxuất phát sinh trên mức bình thường sẽ được tính vào giá vốn hàngbán sau khi đã loại trừ giá trị phế liệu thu bồi hoặc khoản thu bổithường

Nợ TK 152, 138, 632/ Có TK 154 “Sửa chữa sản phẩm hỏng”

Trường hợp SP hỏng không được sửa chữa được:

Cuối kỳ, căn cứ vào chi phí thực tế hoặc giá thánh kế hoạch hoặc giáthành định mức phản ánh giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữađược Trường hợp đã xác định được ngay nguyên nhân làm hỏng sảnphẩm, kế toán ghi:

Nợ TK 152, 1388: Giá trị phế liệu thu bồi hoặc khoản thu bồi thường

Nợ TK 632: Thiệt hại tính vào giá vốn hàng bán sau khi đã trừ cáckhoản thu hồi

Có TK 154 “Sản phẩm đang chế tạo”: Trị giá sản phẩm hỏng

Trường hợp chưa xác định được ngay nguyên nhân, kê toán sẽ kếtchuyển giá trị sản phẩm hỏng vào TK 1381 để chờ xử lý: Nợ TK1381/ Có TK 154 “Sản phẩm đang chế tạo”: trị giá sản phẩm hỏng.Sang kỳ sau, căn cứ vào biên bản xử lý và các chứng từ có liên quan,

kế toán phản ánh:

Nợ TK 152,1388: Giá trị phế liệu thu hồi hoặc khoản thu bồi thường

Nợ TK 632: Thiệt hại tính vào giá vốn hàng bán sau khi đã trừ cáckhoản thu bồi

Có TK 1381: Trị giá sản phẩm hỏng

Trang 22

Kế toán khoản thiệt hại ngừng sản xuất:

Thiệt hại ngừng sản xuất là khoản thiệt hại xảy ra do việc đình chỉ sản xuất trong một thời gian do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan

Phân

loại:

Ngừng sản xuất có kế hoạch: Là các trường hợp mà doanh nghiệp dực kiếntrước được thời gian, thời điểm ngừng sản xuất là đã lập được kế hoạch chiphí trong thời gian ngừng sản xuất (Ví dụ: ngừng sản xuất theo mùa vụ, hay

do sửa chữa lớn máy móc thiết bị)Chi phí dự tính phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất gồm:

Lương phải trả bộ phận sản xuất trực tiếp, gián tiếp và các tài khoản tríchbảo hiểm, kinh phí công đoàn

Chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, chi phí khấu hao Nhà xưởng, máymóc thiết bị…

hư hỏng đột xuất…

Trường hợp ngừng sản xuất có kế hoạch:

Căn cứ vào dự toán chi phí phải chi ra trong thời gian ngừng sản xuất  kếtoán tiến hành trích trước chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuấtvào giá thành sản phẩm hàng tháng:

Nợ TK 622, 627 / Có TK 335Khi ngừng sản xuất, căn cứ vào các chứng từ có liên quan phản ánh chi phíphát sinh:

Căn cứ vào chứng từ có liên quan phản ánh chi phí phát sinh: Nợ TK 622,627/ Có TK 152, 334, 338, 111, 112,…

Cuối kỳ, kết chuyển các chuyển các khoản chi phí này vào TK 154 “Thiệthại ngừng SX”: Nợ TK 154 “Thiệt hại ngừng sản xuất”/ Có TK 622, 627Các khoản thu bồi thường (nếu có): Nợ TK 111, 112, 138 / Có TK 154

“Thiệt hại ngừng sản xuất”

Khoản thiệt hại còn lại được hạch toán vào giá vốn hàng bán: Nợ TK 632 /

Có TK 154 “Thiệt hại ngừng sản xuất”

Lưu ý: Trường hợp thiệt hại ngừng sản xuất vì thiên tai, hoả hoạn,… có thể

bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính sau khi đã trừ đi khoản được bồithường bởi công ty bảo hiểm

Ví dụ 1: Doanh nghiệp K kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, thực hiện

mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo chi phí thực tế Trong tháng 5 có tình hình

về sản phẩm hỏng như sau:

Theo phiếu báo sản phẩm hỏng của bộ phận KCS, trong kỳ có 100 sản phẩm hỏng trên định mức

Số sản phẩm này nếu sửa chữa thì không có lợi về mặt kinh tế

Số phế liệu thu được từ sản phẩm hỏng đã nhập kho: 950.000đ

Theo biên bản xử lý sản phẩm hỏng: nguyên nhân gây ra sản phẩm hỏng vượt định mức là do côngnhân vận hành máy không đúng quy trình Vì vậy, công nhân sản xuất phải bồi thường 70% thiệt hạibằng cách khấu trừ lương trong 5 tháng, bắt đầu từ tháng sau Khoản thiệt hại còn lại được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ

Trị giá sản phẩm hỏng được tính theo giá thành kế hoạch Giá thành kế hạch đơn vị sản phẩm: 30.000đ/ sản phẩm

Trang 23

Yêu cầu: Phản ánh tình hình trên vào các tài khoản có liên quan.

GiảiTrị giá 100 sản phẩm hỏng ngoài định mức:

100 x 30.000 = 3.000.0000

Giá trị phế phẩm thu hồi: 950.000

Khoản thu bồi thường từ công nhân:

(3.000.000 – 950.000) x 70% = 1.435.000

Thiệt hại sản phẩm hỏng không sửa chữa được trên định mức tính vào TK 632 trong kỳ:

(3.000.000 – 950.000) x 30 = 615.000

Kế toán ghi sổ như sau:

Nợ TK 154 “Sản phẩm hỏng không sửa chữa được” 3.000.000

Kế toán chi phí sản xuất của bộ phận phục vụ:

Hoạt động phục vụ là những hoạt động sản xuất các loại sản phẩm hay dịch vụ chủ yếu để cung ứng trong nội bộ doanh nghiệp như:

Hoạt động sơ chế, sản xuất các loại nguyên liệu, vật liệu cho hoạt động chức năng

Hoạt động sản xuất công cụ, dụng cụ cung ứng cho hoạt động chức năng

Hoạt động sửa chữa, vận tải trong nội bộ doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất điện, nước, hơi gió cung ứng cho các hoạt động sản xuất, bán hàng, quản lý của doanh nghiệp

Hoạt động phục vụ ăn uống…

Với mục đích phục vụ trong nội bộ doanh nghiệp, hoạt động phục vụ thường có quy mô nhỏ, quy trình công nghệ sản xuấtgiảm đơn, tổ chức sản xuất tập trung theo từng phân xưởng Chi phí sản xuất của hoạt động động phục vụ liên quan đến chi phí sản xuất của bộ phận chức năng Vì vậy, chi phí sản xuất của hoạt động phục vụ được tập trung theo từng bộ phận, sau đó, tổng hợp và phân bổ cho các bộ phận sản xuất chức năng Sự phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận phục vụ sẽ chi phối đến chi phí sản xuất của từng bộ phận chức năng Về phương diện tổng số, sự phân bổ chiphí bộ phận phục vụ không thay đổi Tuy nhiên, khi đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, việc phân bổ chi phí sản xuất của từng bộ phận Cho nên, việc phân bổ chi phí sản xuất bộ phận phục vụ được quan tâm nhiều hơn trong mục đích cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị sản xuất

Ngày nay, với sự tiến bộ của trình độ quản lý, trình độ kế toán, phân bổ chi phí sản xuất bộ phận phục vụ có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, trong lĩnh vực kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, các phương pháp phân bổ chi phí sản xuất của hoạt động phục vụ cho các hoạt độngsản xuất chức năng có thể tiến hành theo những phương pháp phổ biến như: phân bổ theo phương pháp trực tiếp, phân bổ theo phương pháp bậc thang và phân bổ theo phương pháp phân bổ lẫn nhau

Phương pháp phân bổ trực tiếp:

Với phương pháp này, điều quan tâm khi phân bổ chi phí sản xuất của từng bộ phận phục vụ là sảnphẩm, dịch vụ các bộ phận phục vụ cung ứng cho các bộ phận chức năng Chi phí sản xuất của bộ phận phục vụ chỉ phân bổ cho các bộ phận chức năng Vì vậy, tính chính xác của mức chi phí sản xuất của bộ phận phục vụ phân bổ cho các bộ phận chức năng phụ thuộc rất nhiều vào sản phẩm, dịch vụ các bộ phận phục vụ cung ứng lẫn nhau Nếu các bộ phận phục vụ có sự chuyển giao sản phẩm dịch vụ lẫn nhau lớn thì mức phân bổ chi phí sản xuất không chính xác, phương pháp này không còn thích hợ nữa

Trang 25

Chi phí phátsinh trong kỳcủa bộ phận phục vụ

-

Chi phí sản xuất dở dang

cuối kỳ của bộ phận phục vụ

Số lượng sản phẩm,dịch vụ sản xuấttrong kỳ của bộ phận phục vụ

-Số lượng sản phẩm, dịch tiêudùng nội bộ và cung ứng chocác bộ phận phục vụ khác

Chi phí sản xuất đơn vị sảnphẩm, dịch vụ của bộ phận

phục vụ cần phân bổ

Ví dụ 2: Công ty ABC tổ chức sản xuất gồm 2 bộ phận phục vụ là phân xưởng điện và phân xưởng sửa chữa, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Theo tài liệu về chi phí sản xuất của 2 phân xưởng trong tháng 9 năm 2001 như sau:

Tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ:

Sản xuấtsản phẩm

Phục vụ,quản lý

 Giá thực tế NVL xuất dùng 3.000.000 100.000 5.200.000 150.000

 Các khoản trích theo lương 144.000 38.000 190.000 38.000

Kết quả sản xuất của từng phân xưởng:

Phân xưởng điện: Thực hiện 12.000 kwh điện, trong đó dùng ở phân xưởng điện 600 kwh, thắp sáng phân xưởng sửa chữa 1.400 kwh, cung cấp phân xưởng sản xuất chính 5.000 kwh, cung cấp cho bộ phận bán hàng 3.000 kwh, cung cấp bộ phận quản lý doanh nghiệp 2.000 kwh

Phân xưởng sửa chữa: Thực hiện 440 giờ công sửa chữa, trong đó máy móc thiết bị ở phân xưởng sửa chữa 10 giờ, sửa chữa máy móc thiết bị ở phân xưởng điện 3o giờ, sửa chữa thường xuyên máy móc thiết bị ở phân xưởng sản xuất 100 giờ, sửa chữa lớn máy móc thiết bị ở bộ phận bán hàng 200 giờ, sửa chữa sản phẩm bảo hành trong kỳ 80 giờ, sửa chữa thường xuyên máy móc thiết

bị ở bộ phận quản lý doanh nghiệp 20 giờ

Cho biết định mức chi phí 500đ/kwh điện, 25.000đ/ giờ công sửa chữa

Trang 26

Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ của phân xưởng điện và phân xưởng sửa chữa là bằng

0

Căn cứ vào số liệu ví dụ 1, chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của bộ phận phục vụ điện và sửa

chữa được tính theo phương pháp trực tiếp như sau:

Tổng chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của bộ phận sản xuất điện:

00 + 5.720.000 đ - 00 = 5.720.000 đChi phí sản xuất thực

tế cần phân bổ 1 kwh

5.720.000đ

= 572 đ/kwh12.000kwh - 600kwh- 1.400kwh

Phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận điện cho:

bổ 1 giờ sửa chữa = 440h - 10 h - 30 h9.04.000 đ = 22.600đ/h

Phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận sửa chữa cho:

Bộ phận sản xuất chính: 100 h  22.600đ/h = 2.260.000đ

Bộ phận bán hàng: 280 h  22.600đ/h = 6.328.000đ

Bộ phận quản lý doanh nghiệp: 20 h  22.600đ/h = 450.000đ

Phương pháp phân bổ bậc thang:

Với phương pháp này, khi phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận phục vụ cho các bộ phận chức

năng phải chú ý đến vị trí, mức độ ảnh hưởng chi phí của từng bộ phận phục vụ Thông thường, kế

toán sẽ tiến hành phân bổ trước chi phí sản xuất của bộ phận có số lượng sản phẩm, dịch vụ cung

ứng lớn nhất hoặc có chi phí sản xuất ảnh hưởng lớn nhất đến các bộ phận phục vụ khác và bộ

phận chức năng Quá trình phân bổ được tóm tắt theo sơ đồ sau:

Chi phí sản xuất đơn

vị sản phẩm, dịch vụ

của bộ phận phục vụ

= Tổng chi phí sản xuất của bộphận phục vụ +

Chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ của bộphận phục vụ trước phân bổ sang

Chi phí bộ phận phục vụ

Bộ phận chức năng X

Bộ phận chức năng Y

Bộ phận chức năng Z

Phân bổ

Phân bổPhân bổ

Trang 27

cần phân bổ sản xuất trong kỳ củaSố lượng SP, dịch vụ

bộ phận phục vụ

-Số lượng sảnphẩm, dịch vụtiêu dùngnội bộ của bộphận phục vụ

-Số lượng SP, dịch vụcung ứng cho bộphận phục vụ phậnphục vụ phân

 Chi phí sản xuất đơn vị sảnphẩm, dịch vụ của bộ phận phục vụ

Ví dụ 3: Căn cứ vào số liệu ví dụ 2, chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của bộ phận phục vụ điện

và sửa chữa được tìn theo phương pháp bậc thang được tính như sau:

Chọn phân xưởng điện để phân bổ chi phí sản xuất trước

Tổng CPSX thực tế cần phân bổ của bộ phận sản xuất điện:

00 + 5.720.000đ - 00 = 5.720.000đGiá thành thực tế cần

phân bổ 1kwh điện =

5.720.000đ

= 502 đ/kwh12.000 kwh- 600 kwh

Phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận điện cho:

thực tế cần phân bổ

1 giờ sửa chữa =

9.742.800đ

= 24.357 đ/h440h - 10h - 30h

Phân bổ chi phí sản xuất của bộ phận sửa chữa:

Bộ phận sản xuất chính: 100 h  24.357đ/h = 2.435.700 đ

Bộ phận bán hàng: 280 h  24.357đ/h = 6.819.960 đ

Bộ phận quản lý doanh nghiệp: 20 h  24.357đ/h = 487.140 đ

Phương pháp phân bổ lẫn nhau

Với phương pháp phân bổ này, khi phân bổ chi phí sản xuất của các bộ phận phục vụ cho

các bộ phận chức năng sẽ phải tính đến chi phí của các bộ phận phục vụ cung ứng lẫn

nhau Việc phân bổ lẫn nhau giữa các bộ phận phục vụ có thể tính theo chi phí kế hoạch,

theo chi phí ban đầu hoặc theo phương pháp đại số

kỳ của

BP phụcvụ

-CPSX phátsinh trong

kỳ của BPphục vụ

-CPSX dởdang cuối kỳcủa bộ phậnphục vụ

-CPSX của

SP, DVnhận từ các

-Số lượng AP, DV của bộ phận phục

vụ tiêu dùng nội bộ

-Số lượng SP, DV của

bộ phận phục vụ cung ứng cho các bộ phận phục vụ khác

Trang 28

vụ cung ứng cho

bộ phận chức năng

x

Chi phí sản xuất thực

tế đơn vị sản phẩm, dịch vụ của bộ phận phục vụ

x

Giá thành kế hoạch đơn vịsản phẩm, dịch vụ cungứng lẫn nhau

Ví dụ 4: Căn cứ vào số liệu ví dụ 2, chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của hoạt động phục vụ khi tính chi phí chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ cung ứng giữa các bộ phận phục vụ theo chi phísản xuất kế hoạch như sau:

Chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ của bộ phận điện cung ứng cho bộ phận sửa chữa:

nhau

x

Chi phí sản xuất banđầu mỗi đơn vị sảnphẩm, dịch vụcung ứng lẫn nhau

+

CPSX phát sinhtrong kỳ của bộphận phục vụ -

CPSX dở dangcuối kỳ của bộphận phục vụ

Số lượng sản phẩm, dịch

vụ sản xuất trong kỳ của

- Số lượng SP, dịch vụ tiêu dùng

nội bộ

Trang 29

bộ phận phục vụ của bộ phận phục vụ

Ví dụ 5: Theo số liệu của ví dụ 2, chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của hoạt động phục vụ khi tính chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ phân bổ lẫn nhau giữa các bộ phận phục vụ theo chi phí sản xuất ban đầu:

Chi phí sản xuất ban

đầu 1 kwh điện cung

ứng lẫn nhau

12.000 kwh-600 kwh

Chi phí sản xuất ban đầu

1 giờ công sửa chữa cung

x: Chi phí sản xuất đơn vị thực tế sản phẩm, dịch vụ của bộ phận phục vụ 1

a: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và phát sinh trong kỳ của bộ phận phục vụ 1

b: Số lượng sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ 1 cung ứng cho bộ phận phục vụ 2.c: Số lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành (đã trừ tiêu dùng nội bộ) và số lượng sản phẩm

dở dang cuối kỳ đã quy đổi về sản phẩm hoàn thành tương đương của bộ phận phục vụ 1

y: Chi phí sản xuất đơn vị thực tế sản phẩm, dịch vụ của bộ phận phục vụ 2

m: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và phát sinh trong kỳ của bộ phận phục vụ 2

k: Số lượng sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ 2 cung ứng cho bộ phận phục vụ 1

Trang 30

t: Số lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành (đã trừ tiêu dùng nội bộ) và số lượng sản phẩm

dở

dang cuối kỳ đã quy đổi về sản phẩm hoàn thành tương đương của bộ phận phục vụ 2

Ví dụ 6: Căn cứ số liệu ví dụ 2, chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của hoạt động phục vụ khi tính và phân bổ chi phí sản xuất giữa các bộ phận phục vụ theo phương pháp đại số

Đặt chi phí sản xuất thực tế 1 kwh điện (x) và một giờ công sửa chữa (y) thì x và y là nghiệm của

Tập hợp CP nhân công gián tiếp thực tế ở bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí nguyên vật liệu thực tế dùng phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phục vụ

Trang 31

Tập hợp chi phí công cụ dụng cụ thực tế dùng sản xuất ở bộ phận phục vụ.

Tập hợp chi phí khấu hao tài sản cố định thực tế dùng ở bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí dịch vụ thuê ngoài thực tế phục vụ sản xuất bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí khác bằng tiền phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phục vụ

Phân bổ chi phí phát sinh lớn đã thực tế phát sinh và ảnh hưởng đến nhiều kỳ hạch toán liên quan đến việ phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phục vụ

Trích trước chi phí phát sinh lớn và ảnh hưởng nhiều kỳ hạch toán liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phục vụ dự toán trước được

Kết chuyển CP NVL trực tiếp thực tế của bộ phận phục vụ

Kết chuyển CP nhân công trực tiếp thực tế của bộ phận phục vụ

Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung thực tế liên quan đến bộ phận phục vụ

Kết chuyển chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ nhận từ các bộ phận phục vụ khác

Kết chuyển chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ cung ứng cho các bộ phận phục vụ khác

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu nhập kho

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là công cụ, dụng cụ nhập kho

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là những sản phẩm, dịch vụ dùng hoạt động sản xuất kinh doanh chức năng trong nhiều kỳ hạch toán

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu chuyển dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất chức năng

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu, công cụ, dịch vụ chuyển dùng trực tiếp phục vụ, quản lý hoạt động sản xuất chức năng

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu, công cụ, dịch vụ chuyển dùng trực tiếp cho hoạt động bán hàng

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu, công cụ, dịch vụ chuyển dùng trực tiếp cho hoạt động quản lý chung toàn doanh nghiệp

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu, công cụ, dịch vụ bán ra bên ngoài

Căn cứ vào số liệu ví dụ 4, chi phí sản xuất và việc phân bổ được thể hiện trên tài khoản như sau:

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sản xuất điện

TK 621 Đ3.000.000 3.000.000

3.000.000 3.000.000

TK 627 Đ100.000

TK 622 Đ600.000

114.000

714.000 714.000

714.000

TK 154 ĐIỆN000

3.000.000 700.000714.000

2.006.000

750.000

2.885.0001.731.000

1.154.0006.470.000 6.470.000000

Trang 32

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sửa chữa.

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm hoạt động phục vụ trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ

TK 621 SC5.200.000 5.200.000

5.200.000 5.200.000

TK 627 SC150.000

190.000

1.190.000 1.190.000

1.190.000

TK 154 SC800.0005.200.000 750.000

1.190.000

2.700.000700.000

2.247.500

6.293.000449.500

9.790.000 9.740.000850.000

Trang 33

Giá thực tếnguyên vậtliệu nhập khotrong kỳ

-Giá thực tếnguyên vật liệutồnkho cuối kỳTập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm ở bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí nhân công gián tiếp thực tế ở bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ thực tế dùng sản xuất, phục vụ, quản lý sản xuất của bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí dịch vụ thuê ngoài thực tế phục vụ sản xuất ở bộ phận phục vụ

Tập hợp chi phí khác bằng tiền phục vụ, quản lý sản xuất liên quan đến phục vụ, quản lý ở bộ phận phục vụ

Phân bổ chi phí phát sinh lớn đã thực tế phát sinh và ảnh hưởng đến nhiều kỳ hạch toán liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phcu5 vụ

Trích trước chi phí phát sinh lớn và ảnh hưởng nhiều kỳ hạch toán liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất ở bộ phận phục vụ dự toán trước được

Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế thực tế của bộ phận phục vụ

Kết chuyển chi phí chi phí nhân công trực tiếp thực tế của bộ phận phục vụ

Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung thực tế liên quan đến bộ phận phục vụ

Kết chuyển chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ nhận từ các bộ phận phục vụ khác

Trang 34

Kết chuyển chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ cung ứng cho các bộ phận phục vụ khác.

Kết chuyển chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của bộ phận phục vụ

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho hoặc dùng trực tiếp ở các hoạt động sản xuất kinh doanh chức năng

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm bộ phận phục vụ là các dịch vụ dùng trực tiếp ở các hoạt động sản xuất kinh doanh chức năng

Chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm, dịch vụ bộ phận phục vụ bán ra ngoài

Ví dụ 7: Công ty A có một bộ phận phục, sản xuất nguyên vật liệu cung ứng cho hoạt động sản xuất chức năng làm nguyên vật liệu chính, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Theo tài liệu của bộ phận sản xuất nguyên vật liệu như sau:

Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ (Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp): 468.000đ

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ:

Giá thực tế nguyên vật liệu chính xuất kho: 4.200.000đ

Giá thực tế nguyên vật liệu phụ xuất kho dùng sản xuất sản phẩm 500.000đ, dùng cho máy móc thiết bị sản xuất 200.000đ, dùng cho các công việc khác tại xưởng 100.000đ

Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất 800.000, nhân viên phục vụ 400.000đ.Khấu hao tài sản cố định ở phân xưởng sản xuất phụ: 300.000đ

Dịch vụ điện nước dùng sản xuất với giá thanh toán là 55.000đ (bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%)

Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản bằng tiền mặt là 54.000đ

Trích kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo chế độ quy định

Kết quả sản xuất trong kỳ:

Hoàn thành nhập kho 100kg nguyên vật liệu chính, dùng trực tiếp ở phân xưởng sản xuất chính lả 400kg nguyên vật liệu chính, bán cho bên ngoài là 300kg nguyên vật liệu chính

Số lượng sản phẩm đang chế biến dở dang cuối kỳ là 50kg Số sản phẩm này được đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trị giá 300.000đ

Theo tài liệu trên, quá trình tính toán và phản ảnh trên tài khoản như sau:

Tổng chi phí sản xuất thực tế cần phân bổ của bộ phận sản xuất nguyên liệu chính:

= 468.000đ + 6.832.000đ - 300.000đ = 7.000.000đChi phí sản xuất thực tế

Chi phí sản xuất thực tế nguyên vật liệu

Chi phí sản xuất thực tế nguyên vật liệuchính dùng sản xuất 400 kg  8.750đ/kg = 3.500.000đChi phí sản xuất thực tế nguyên vật liệu

chính bán cho bên ngoài 300 kg  8.750đ/kg = 2.625.000đ

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sản xuất nguyên vật liệu chính

[152] 500.000 4.700.000 [631] [621] 4.700.000

Trang 35

4.700.000 4.700.000

TK 622[334] 800.000

Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi phí thực tế Giai đoạn này phân tích chi phí đã tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất để kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất vào đối tượng tính giá thành Trên cơ sở đó, tính tổng giá thành thực tế và giá thành thực tế từng đơn vị sản phẩm Quá trình này được tiến hành theo những nội dung sau:

Tổng hợp chi phí sản xuất theo phạm vi tính giá thành

Đánh giá các khoản điều chỉnh giảm giá thành

Lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm

Sau khi đã điều chỉnh chi phí sản xuất, kế toán kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất thực tế vào từng đối tượng tính giá thành Theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho, giá thành của sản phẩm chế tạo chính là giá gốc Vì vậy, việc tổng hợp chi phí sản xuất tính giá thành như sau:

Với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp tiến hành kết chuyển hoặc phân

bổ cho từng đối tượng liên quan để tính giá thành theo chi phí thực tế đã phát sinh sau khi trừ đi phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường

Với chi phí sản xuất chung được phân bổ như sau:

Biến phí sản xuất chung sẽ được phân bổ vào chi phí biến đổi cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh sau khi trừ đi phần biến phí vượt trên mức bình thường

Định phí sản xuất chung phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm được dựa trên mức công suất bình thường của máy móc sản xuất Công suất bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình thường

Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh

Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường thì định phí sản xuất chung chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường Khoản định phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi

Trang 36

phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ và được hạch toán vào TK 632 “Giá vốn hàng bán” Khoản định phí sản xuất chung phân bổ vào chi phí chế biến được tính như sau:

Định phí sản xuất chung tính

vào chi phí

chế biến

=

Định phí sảnxuất chung

Mứcsảnxuấtthựctế

Mức sản xuất bình thường

Sau khi điều chỉnh, nếu chi phí sản xuất chung liên quan trực tiếp đến từng đối tượng thì kết chuyển cho từng đối tượng, nếu chi phí sản xuất chung hợp lý liên quan đến nhiều đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ thích hợp để phân bổ cho từng đối tượng Theo những kỹ thuật phân bổ truyền thống, kế toán thường chọn tiêu thức phân bổ như chi phí sản xuất chung dự toán, chi phí nhân công trực tiếp thực tế, số giờ lao động của nhân công sản xuất thực tế, số giờ máy hoặc số ca máy thực tế …

Quá trình tổng hợp chim phí sản xuất, tùy thuộc vào hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ có thể sử dụng tài khoản và bút toán thích hợp

Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, tài khoản sử dụng tổng hợp chi phí sản xuất làm cơ sở tính giá thành là tài khoản 154 – chi phí sản xuất dở dang

Tài khoản 154 dùng để tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ

ở những doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên với nội dung và kết cấu:

Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được…

Trị giá nguyên liệu, vật liệu hàng hóa gia công xong nhập lại kho

Giá thành thực tế của sản phẩm đã chế tạo xong nhập kho hoặc chuyển đi bán

Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao từng phần hoặc toàn bộ trong kỳ; hoặc bàn giao cho đơn vị nhận thầu chính xây lắp(Cấp trên hoặc nội bộ) Chi phí thực tế khối lượng dịch vụ đã hoàn thành cung cấp cho khách hàng

Kết chuyển chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ)

SỐ DƯ BIÊN NỢ:

Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

TK 154 được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí và quá trình tổng hợp chi phí sản xuất được phản ánh qua sơ đồ như sau:

Trang 37

Kết chuyển CP nhân công trực tiếp

K/C CPNCTT vượt trên mức bình thường

K/C (phân bổ) CP sử dụng máy thi công

K/C CP SD MTC vượt trên mức bình thường

K/C hoặc phân bổ chi phí SXC

K/C biến phí sản xuất chung vượt trên mức bình thường

TK 632

Trang 38

Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, tài khoản sử dụng

để tổng hợp chi phí sản xuất làm cơ sở tính giá thành sản phẩm là tài khoản 631 – giá thành sản xuất

Tài khoản 631 dùng để tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ

ở những doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ với nội dụng và kết cấu:

SỐ PHÁT SINH NỢ:

Giá trị của sản phẩm dở dang đầu kỳ

Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ

Tài khoản 631 không có số dư cuối kỳ

TK 631 cũng được mở chi tiết cho từng đối tượng và quá trình tổng hợp chi phí sản xuất được phản ánh khái quát theo sơ đồ sau:

Kết chuyển CP nhân công trực tiếp

K/C CPNCTT vượt trên mức bình thường

K/C (phân bổ) CP sử dụng máy thi công

K/C CP SD MTC vượt trên mức bình thường

K/C hoặc phân bổ chi phí SXC

K/C biến phí sản xuất chung vượt trên mức bình thường

TK 632

Trang 39

TK 154 TK 111, 152, 138, 334

Đánh giá và điều chỉnh các khoản giảm giá thành

Các khoản giảm giá thành là những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không được

tính vào giá thành hoặc những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không tạo ra giá trị sản phẩm chính Những khoản điều chỉnh giảm giá thành như là chi phí thiệt hại ngừng sản xuất, chi phí thiệt hại về sản phẩm hỏng, giá trị phế liệu… Tùy thuộc vào tính chất trọng yếu của các

khoản giảm giá thành, kế toán có thể đánh giá và điều chỉnh giảm giá thành theo giá bán, giá

vốn… Khi hạch toán các khoản điều chỉnh giảm giá thành kế toán phản ánh như sau:

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Sản phẩm dở dang cuối kỳ là những sản phẩm tại thời điểm tính giá thành chưa hoàn thành về mặt

kỹ thuật sản xuất và thủ tục quản lý ở các giai đoạn của qui trình công nghệ chế biến sản phẩm

Sản phẩm dở dang có thể là những sản phẩm đang trên qui trình công nghệ chế biến hoặc có thể

chưa hoàn tất thủ tục kiểm tra chất lượng Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ là xác định chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ có thể tiến hành trước khi tính giá thành hoặc song song với khi tính giá thành Tùy thuộc vào đặc điểm, mức độ chi phí sản xuất trong sản phẩm dở dang và yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất, có thể đánh giá sản phẩm

dở dang bằng một trong những phương pháp sau:

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Theo phương pháp này chỉ tính vào chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, các chi phí còn lại được tính vào chi phí sản xuất của sản phẩm hoàn thành Vì thế, chi

phí sản xuất dở dang cuối kỳ theo phương pháp này được tính theo công thức sau:

kỳ

+

CP nguyên vậtliệu trực tiếpphát sinh trongkỳ

x

Sốlượngsảnphẩmdởdangcuối kỳ

x Tỷ lệhoàn

thành

Số lượng SPhoàn thànhtrong kỳ

+

Số lượng

SP dởdangcuối kỳ

x

Tỷ lệhoànthành

Lưu ý: Trong công thức trên, nấu ci phí nguyên vật liệu trực tiếp được sử dụng toàn bộ ngay từ

đầu của quy trình sản xuất, thì tỉ lệ hoàn thành của khoản mục chi phí này trong sản phẩm dở dangcuối kỳ được tính là 100%

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và số lượng sản phẩm dở dang qua các kỳ ít biến động

Ngoài ra, trong trường hợp chi phí nguyên vật liệu chính chiếm một tỷ trọng lớn, để đơn giản có

thể đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu chính Thực chất của phương pháp này là chỉ tính chi phí nguyên vật liệu chính cho sản phẩm dở dang cuối kỳ, tất cả chi phí sảnxuất khác phát sinh được tính toàn bộ cho thành phẩm trong kỳ

Ví dụ 8: Công ty ABC có qui trình công nghệ sản xuất giản đơn Theo tài liệu trong tháng 9 năm

2005 như sau:

Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ 10.000.000đ (Trong dó chi phí nguyên vật liệu chính 8.000.000đ, chi phí vật liệu phụ là 2.000.000đ)

Trang 40

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 101.000.000đ (Trong đó chi phí nguyên vật liệu chính

81.000.000đ, chi phí vật liệu phụ 20.000.000đ)

Chi phí nhân công trực tiếp 18.000.000đ

Chi phí sản xuất chung 19.000.000đ

Số lượng thành phẩm nhập kho trong kỳ 90 sản phẩm

Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ là 20 sản phẩm với tỷ lệ hoàn thành 40%

Nguyên vật liệu chính còn thừa tại xưởng trị giá xuất thực tế 1.000.000đ

Cho biết nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ sử dụng từ đầu qui trình sản xuất

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như sau:

Chi phí sản xuất dở

dang cuối kỳ =

10.000.000đ + 100.000.000đ

x 20sp = 20.000.000đ90sp + 20sp

Căn cứ vào số liệu ví dụ 1, giả sử nguyên vật liệu chính sử dụng từ đầu qui trình sản xuất, vật liệu phụ sử dụng từ đầu qui trình sản xuất, vật liệu phụ sử dụng theo mức độ sản xuất thì chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được tính như sau:

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo sản lượng hoàn thành tương đương

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ bao gồm tất cả các khoản mục chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ thể hiện tổng quát theo công thức tính sau:

Chi phí sảnxuất dở dangcuối kỳ

=

Số lượng sản phẩm dở dangcuối kỳ qui đổi theo sảnphẩm hoàn thành tương

đương

x

Chi phí sản xuấttính cho mỗi sảnphẩm hoàn thànhtương đương

Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ qui đổi theo sản phẩm hoàn thành tương đương có thể đực tính theo phương pháp trung bình hoặc phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) Trong phạm vichương này, chúng tôi chỉ giới thiệu đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ trường hợp số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ qui đổi theo sản phẩm hoàn thành tương đương theo phương pháp trung bình

Chi phí sản xuất tính vào chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ khi đánh giá sản phẩm dở dang theo sảnlượng hoàn thành tương đương được tính như sau:

Những chi phí sản xuất sử dụng toàn bộ ngay từ đầu qui trình sản xuất, tham gia vào sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang cuối kỳ cùng mức độ được tính vào chi phí sản xuất dở dang cuối

kỳ theo công thức:

Ngày đăng: 19/02/2014, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Minh họa 1.1: SƠ ĐỒ PHÂN BIỆT CÁC LOẠI THÔNG TIN KẾ TOÁN - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
inh họa 1.1: SƠ ĐỒ PHÂN BIỆT CÁC LOẠI THÔNG TIN KẾ TOÁN (Trang 4)
Sơ đồ trên nhằm minh họa quá trình vận động của chi phí ở công ty sản xuất, bao gồm các loại chi phí của các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, với quá trình vận động của chúng qua các báo cáo tài chính. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ tr ên nhằm minh họa quá trình vận động của chi phí ở công ty sản xuất, bao gồm các loại chi phí của các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, với quá trình vận động của chúng qua các báo cáo tài chính (Trang 7)
Bảng phân bổ tiền lương - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Bảng ph ân bổ tiền lương (Trang 17)
Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Bảng ph ân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ (Trang 17)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sản xuất điện - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sản xuất điện (Trang 31)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm hoạt động phục vụ trường hợp doanh nghiệp  hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm hoạt động phục vụ trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ (Trang 32)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sửa chữa. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và giá thành bộ phận sửa chữa (Trang 32)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp,  tính giá thành theo phương án kết chuyển tuần tự, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê  khai thường xuyên. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, tính giá thành theo phương án kết chuyển tuần tự, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên (Trang 61)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp tính  giá thành theo phương án kết chuyển song song và hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai  thường xuyên. - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp tính giá thành theo phương án kết chuyển song song và hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên (Trang 61)
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp (kế toán  hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên) - Tài liệu Giáo trình kế toán chi phí : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ 1 ppt
Sơ đồ k ế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp (kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w