1. Trang chủ
  2. » Tất cả

46 CS Pham Xuan Vu

54 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 457,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lời khuyên chân thành đầy kinh nghiệm của các nhà giáo dục trong cuốn “Những lời khuyên sinh viên Đại học” các Thầy đã đưa ra những chỉ dẫn cho sinh viên về cách đọc sách, cách

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người muốn chiếm lĩnh tri thức một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn thì điều cần thiết nhất là phải được giáo dục ở nhà trường trong một thời gian dài Đó là một quá trình đòi hỏi người được giáo dục phải có sự nổ lực phấn đấu rất lớn để lĩnh hội được những tri thức khoa học tiến bộ của nhân loại Những tri thức đó không chỉ học ở trường, ở lớp, thầy cô, bạn bè mà còn học hỏi ở môi trường xã hội bên ngoài, hay nói đúng hơn là quá trình người được giáo dục phải tự học, tự rèn luyện để chiếm lĩnh tri thức

Tục ngữ có câu: “Cần cù bù thông minh” hoặc

“Có công mài sắt có ngày nên kim”

Thông qua câu tục ngữ này, đã khẳng định được tầm quan trọng và vai trò

to lớn của việc tự học, tri thức sẽ đến với những ai chăm chỉ, chịu khó, có ý chí phấn đấu học hỏi để tìm ra cái mới và học tập tích cực, tự giác, chủ động và có lòng say mê, có mục đích lí tưởng “Tự học” là một yêu cầu được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp đào tạo và giáo dục hiện nay, nó mang một ý nghĩa và tầm quan trọng vô cùng to lớn Đã có rất nhiều tấm gương về tinh thần tự học trong lịch sử nước ta nhưng đáng khâm phục nhất là tấm gương tự học của chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu Nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Người đã tự tìm tòi học hỏi những điều tiến bộ của thế giới, nhân loại Người đã vượt qua nhiều thử thách, khó khăn với tinh thần và ý chí mãnh liệt, để dân tộc Việt Nam được sống trong nền độc lập tự do, nhân dân với cuộc sống ấm no, hạnh phúc và hôm nay đất nước đang sống trong những tháng ngày hân hoan chào đón những sự kiện lớn

“Tự học” là con đường tự khẳng định mình của mỗi con người, chúng ta cần phải “Học! Học nữa! Học mãi!” phải học suốt đời Đặc biệt đối với học sinh, sinh viên thì việc tự học có tầm quan trọng vô cùng to lớn trên con đường lĩnh hội tri thức, để có thể trở thành những người có tài, có đức, những người cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” giúp ích cho xã hội, thực hiện mục tiêu xây

Trang 2

dựng, phát triển đất nước giàu mạnh Và đối với sinh viên các ngành khoa xã hội nhân văn, đặc biệt là chuyên ngành lịch sử thì “Tự học”càng có tầm quan trọng

to lớn Đối với ngành Sử thì để hiểu bản chất của sự kiện lịch sử ngoài việc nắm được nội dung sự kiện sinh viên còn phải biết khái quát hóa sự kiện đó, nhưng đây là cả một quá trình đòi hỏi sinh viên cần có sự đầu tư cao vừa thời gian và công sức Chính vì vậy, mà việc tự học có một tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với sinh viên nói chung và sinh viên ngành Sử của trường nói riêng Thế nhưng, ngày nay việc tự học sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp nói chung và sinh viên ngành Sử nói riêng nhìn chung có những dấu hiệu giảm đi Và xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở đại học, yêu cầu đổi mới hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ theo chủ trương của Bộ Giáo Dục và Đào tạo [13] Do đó, hoạt động tự học của sinh viên trở nên quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo ở trường đại học

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề này

để phần nào thấy được thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Trường ĐH Đồng Tháp nói chung và sinh viên ngành Lịch sử nói riêng Từ đó tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên và nêu lên một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao

ý thức học tập của sinh viên, nâng cao hiệu quả đào tạo của Khoa, của Trường

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để đất nước hội nhập với thế giới, bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phương châm “Giáo dục cho mọi người”, “Học suốt đời” đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục đào tạo

Các văn kiện của Đảng chỉ rõ: “Đa dạng hóa các loại hình giáo dục- đào tạo, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình… Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo

từ xa, từng bước hiện đại hình thức giáo dục…” Nghị quyết Hội nghị Trung

ương lần II Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII

“Xây dựng quy hoạch đào tạo theo phương hướng kết hợp học tập tập trung, học từ xa, học qua máy tính, đẩy mạnh phong trào học tập trong nội dung

Trang 3

bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành xã hội học tập… từng bước cải tiến việc nối mạng Internet ở các trường học, tạo điều kiện học tập…” Văn kiện Đại hội lần IX Đảng cộng sản Việt Nam

Luật giáo dục của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã khẳng định giáo dục

từ xa, vừa học vừa làm thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: “Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức: Vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn…” Mục D, Điều 41- Luật Giáo dục

Bộ giáo dục đào tạo đã từng bước thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và luật giáo dục thành các văn bản pháp quy…

Vì vậy, mà việc “Tự học” là vấn đề tập trung nghiên cứu của nhiều chuyên ngành, đặc biệt là ngành giáo dục Nhiều tác giả đã coi việc “Tự học” như một

đề tài nóng bỏng, một mãnh đất màu mỡ để khai thác Mỗi tác giả tìm thấy ở chủ

đề này một khía cạnh để bàn, để viết Mỗi bài viết, mỗi tác giả đều có cách viết riêng và đề cập đến những mảng nhỏ trong vấn đề tự học:

Quyển “Để tự học đạt hiệu quả cao” của Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến đề

cập đến phương pháp tự học tương đối sát với hoàn cảnh để người học có thể vận dụng những kinh nghiệm đó, những phương pháp khoa học và hiệu quả vào việc tự học của bản thân Hay cuốn: “Quá trình dạy- tự học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, nội dung cuốn sách đề cập đến phương châm cơ bản đảm bảo thắng lợi của việc tự học, cũng như những giải pháp và kinh nghiệm khắc phục khó khăn để việc tự học đạt kết quả cao Với những lời khuyên chân thành đầy kinh nghiệm của các nhà giáo dục trong cuốn “Những lời khuyên sinh viên Đại học” các Thầy đã đưa ra những chỉ dẫn cho sinh viên về cách đọc sách, cách ghi bài trên lớp, cách phân bố thời gian cho việc tự học của sinh viên…

Hay quyển “Phương pháp học tập và nghiên cứu Lịch sử”, Đại học Huế,

TTDTTX của tác giả Phan Ngọc Liên Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã trình bày một số vấn đề có tính chất lí luận về phương pháp học tập, nghiên cứu đối với sinh viên nói chung và sinh viên chuyên ngành Lịch sử nói riêng Ví như

Trang 4

quan niệm về phương pháp học tập ở Đại học là bao gồm các khâu nghe giảng

và ghi chép ở trên lớp, làm bài tập, tự kiểm tra và đánh giá…đặc biệt là việc tự học, tự nghiên cứu tài liệu giáo khoa và tài liệu tham khảo Đây là cuốn tài liệu quan trọng để chúng tôi có cơ sở về mặt lí luận nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề nghiên cứu

Tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức với quyển “Lí luận dạy học Đại học” (1998), và tác giả Lưu Xuân Mới cũng với quyển sách cùng tên “Lí luận dạy học Đại học” (2000) Ở hai quyển sách các tác giả đã trình bày lí luận hệ thống

các phương pháp dạy học Đại học và đặc trưng của dạy- học ở Đại học Từ đây, chúng tôi sẽ tiến hành khái quát trên cơ sở lí luận chung đó để tìm ra các vấn đề

có liên quan trực tiếp đến việc tự học của sinh viên nói chung và sinh viên ngành

sư phạm Lịch sử nói riêng ở giảng đường Đại học

Với hai quyển “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, “Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 2” của tác giả Phan

Ngọc Liên đã trình bày có hệ thống lí luận về dạy học môn Lịch sử ở trường THPT Đây là hai cuốn giáo trình chính được đưa vào chương trình bắt buộc đối với sinh viên sư phạm Lịch sử trong chương trình đào tạo Vì vậy, đây cũng là những cuốn tài liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo khi nghiên cứu lí luận của đề tài

Ngoài những công trình nghiên cứu quy mô viết thành sách còn có hàng loạt các bài viết trên các tạp chí: đổi mới giáo dục- đào tạo ở Việt Nam, tạp chí Trí Tuệ…cũng viết về vấn đề tự học và đề tài này là đề tài mang tính xã hội đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo và sử dụng các tài liệu trên websites có liên quan khác

Tất cả các cuốn sách trên dù ít hay nhiều đều đề cập đến những khía cạnh của việc tự học trong sinh viên Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về thực trạng và giải pháp hoạt động tự học của sinh viên chuyên ngành sư phạm Lịch sử trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Và ngay ở Trường ĐH Đồng Tháp thì vấn đề này vẫn chưa nghiên cứu một cách chi tiết

Trang 5

Chính vì vậy, với đề tài này tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu thực trạng vấn đề tự học của sinh viên ngành sư phạm Lịch sử ở Trường ĐH Đồng Tháp Trên cơ sở

đó, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp và phương hướng để giúp sinh viên đạt kết

quả cao hơn trong học tập, xứng đáng là những cán bộ trong tương lai “vừa hồng, vừa chuyên” chung tay ra sức xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp hoạt động tự học của sinh viên ngành sư phạm Lịch sử các khóa 2008, 2009, 2010 trong đào tạo tín chỉ ở trường

4.2 Nhiệm vụ

Thông qua việc tiến hành khảo sát điều tra xã hội học trong các đối tượng sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, về ý thức và sự định hướng cũng như phương pháp tự học, thời gian biểu, các vấn đề về nội dung tự học của sinh viên ngành sư phạm Lịch sử trường ĐH Đồng Tháp

Đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên ngành sư phạm Lịch sử

và rút ra những kết luận, nhận xét Từ đó, đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm giúp sinh viên có được một định hướng, phương pháp tự học tốt và khoa học, có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Ngành và của Trường về đội ngũ giáo viên THPT cho địa phương và cả khu vực

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận khoa học Mác- Lênin và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành thuộc khoa học Phương pháp cụ thể nghiên cứu khoa học giáo dục:

Trang 6

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc, phân tích, tổng hợp tư liệu…

Phương pháp quan sát: thu thập thông tin ban đầu về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp và ghi lại các dấu hiệu đặc trưng có giá trị cho mục tiêu nghiên cứu

Phương pháp điều tra bằng câu hỏi: thu thập tư liệu thực tế bằng phiếu điều tra gồm hệ thống câu hỏi đã được chuẩn hóa…

Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục

Phương pháp nghiên cứu các văn bản, quy định, quy chế

6 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu thành công đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với việc học tập của sinh viên chuyên ngành sư phạm Lịch sử nói riêng và sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp nói chung Quan trọng hơn nghiên cứu thành công đề tài có thể tìm ra được những định hướng, giải pháp và phương pháp tự học có giá trị thực tiễn góp phần vào việc hoàn thiện chương trình đào tạo theo tín chỉ của Trường Đại học Đồng Tháp

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm hai chương

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phương pháp học tập, nghiên cứu và

phương pháp tự học của sinh viên ở Trường Đại học

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động

tự học của sinh viên ngành sư phạm Lịch sử trong đào tạo tín chỉ ở Trường Đại học Đồng Tháp

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA

SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Phương pháp tự học của sinh viên

1.1.1 Mục tiêu của giáo dục đại học

Mỗi chế độ xã hội- chính trị có những yêu cầu riêng trong giáo dục nói chung, đào tạo ở đại học nói riêng

Mục tiêu của chúng ta xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng của đất nước và thay đổi tùy theo tình hình nhiệm vụ nói chung Trong tình hình kinh tế- xã hội hiện nay mục tiêu phấn đấu chung của cơ sở giáo dục Đại học và Cao đẳng của Việt Nam là thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Nghị quyết này chỉ rõ những mục tiêu giáo dục như sau:

“Xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật và quản lí kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công- nông, vừa có trình độ khoa học kĩ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững những quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội, có năng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kĩ thuật và quản lí kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kĩ thuật tiên tiến trên thế giới”.[11; tr.8]

Trong mục tiêu chung của trường Đại học, nhiệm vụ của trường Đại học

Sư phạm đào tạo giáo viên có trình độ Đại học cho hệ thống giáo dục phổ thông hiện tại và tương lai, đó là những người có phẩm chất chính trị vững vàng, có lập trường tư tưởng đúng đắn, có tư cách đạo đức tốt, yêu nghề và sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo, có khả năng chuyên môn và nghiệp vụ,

có óc sáng tạo, có khả năng và sự say mê tự học, tự nghiên cứu, vừa có khả năng đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của thực tiễn giáo dục phổ thông ngay sau khi tốt nghiệp vừa được chuẩn bị tìm năng cơ bản cho sự thích ứng để có thể đương đầu

Trang 8

và không ngừng phát triển nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách trong tương lai

GD được dự báo là biến đổi không ngừng

Đối với sinh viên hệ Cao đẳng, mục tiêu đào tạo: giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thường thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đối với sinh viên hệ Đại học, mục tiêu đào tạo: giúp sinh viên nắm vững những kiến thức chuyên môn và có kĩ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đối với học viên trình độ thạc sĩ, mục tiêu đào tạo: giúp học viên nắm vững lí thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đối với trình độ tiến sĩ, mục tiêu đào tạo: giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lí thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn

1.1.2 Quan niệm về tự học

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm,

cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[18; tr 621]

Theo các nhà giáo dục học, tự học có những đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, nó có tính độc lập cao; thứ hai, trong tự học, động cơ học tập mang tính nội sinh; thứ ba, nội dung, phương pháp, hình thức tự học rất đa dạng; thứ

tư, phương pháp tự học mang tính cá nhân cao

Trang 9

Như vậy, “tự học” là quá trình người học tự vận dụng tất cả ý chí, nghị

lực, phẩm chất, tư duy của bản thân để vượt qua mọi khó khăn, tự so sánh, đối chiếu, tự phê bình, sửa chữa để chiếm lĩnh tri thức Hoạt động tự học của sinh

viên diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau như: Tự học có hướng dẫn của giảng viên; tự học không có sự hướng dẫn; tự học mò mẫm; tự học trong cuộc sống, v.v

Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định

“Tự học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học

có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học” [12; tr 276]

Nội dung của tự học rất phong phú, bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi do tập thể sinh viên tiến hành ngoài giờ học chính khóa, hoặc do bản thân sinh viên độc lập tiến hành ngay cả trong giờ học trên lớp Chẳng hạn như chỉnh lí lại vở ghi, làm bài tập, chuẩn bị xêmina, làm thí nghiệm, tham gia các hoạt động thực tế, thực tập…

Khối lượng công việc tự học rất lớn, tính chất hoạt động tự học đa dạng, thời gian dành cho sinh viên tự học tương đối nhiều, tương đương với thời gian học chính khóa, trung bình tỉ lệ giữa thời gian tự học và trên lớp là 1/1 (khoảng

24 đến 30 tiết trong một tuần)

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của tự học đối với sinh viên

Do tính chất và yêu cầu của việc học tập ở trường đại học, việc tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với tất cả những hình thức khác của quá trình học tập Có thể nói tự học là hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình

Trang 10

Việc tự học có đặt điểm riêng về nội dung, phương pháp, phương thức tiến hành, trên cơ sở phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của sinh viên Việc tự học của sinh viên được tiến hành trong ba hình thức chủ yếu:

Tự học trong quá trình nghe giảng, tham dự xêmina

Tự học trong nghiên cứu tài liệu tham khảo ở nhà, chuẩn bị ôn thi

Tự học trong những hoạt động ngoài trường (thực tập, thực hành chuyên môn sư phạm), tham gia các hoạt động khoa học, phục vụ các mục tiêu kinh tế

xã hội địa phương

Tự học của sinh viên xuất phát từ mục tiêu đào tạo của trường đại học và cũng là một trong những biện pháp tốt nhất để đào tạo có chất lượng Trong quá trình học việc tự học giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo về nghề nghiệp tương lai, mỗi sinh viên tự vận động từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người đã tích lũy trong quá trình lịch sử thành vốn tri thức riêng của bản thân

Việc tự học là một nhân tố quan trọng để rèn luyện và phát huy tư duy sáng tạo Vì vậy việc tự học phải được tiến hành thường xuyên, đều đặn, có kế hoạch theo một trình tự phù hợp với trình độ ngày càng được nâng cao của sinh viên Việc tự học phải lấy việc nổ lực chủ quan làm điều cốt lõi, chống việc dựa dẫm, ỷ lại người khác

Tự học không những giúp cho sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế trường đại học mà trong tương lai, người cán bộ khoa học- kĩ thuật cần phải có năng lực, thói quen, có phương pháp tự học thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình, tránh khỏi sự lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” khoa học kĩ thuật trong thời đại ngày nay

Tạo thói quen tự học là một trong những điểm quan trọng trong việc hình thành nhân cách người sinh viên Do đó việc tự học góp phần đáng kể vào việc phát triển thể chất, đạo đức, tư tưởng, văn hóa, niềm tin khoa học, ý chí phấn đấu…

Trang 11

Việc rèn luyện kỹ năng tự học có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức, giáo dục và phát triển toàn diện sinh viên

Về nhận thức: Tự học giúp hiểu sâu, và cũng cố kiến thức đã học Những

nghiên cứu của các nhà giáo dục học đã chứng minh, kiến thức do tự học đem lại bao giờ cũng vững chắc, lâu bền, thiết thực và sáng tạo Tự học là con đường nhanh nhất và ngắn nhất để khắc phục nghịch lý học vấn vô hạn mà thời gian học tập thì có hạn, giữa hoàn cảnh ngặt nghèo khắc nghiệt của cuộc sống với khát vọng cao đẹp về học vấn

Ví như trong năm học thứ nhất, sinh viên phải học nhiều môn mới với khối lượng kiến thức khá lớn như Lịch sử thế giới cổ - trung đại, Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại, Nhập môn sử học, Các môn khoa học Mác – Lênin …Trong khi đó thời gian trên giảng đường rất hạn chế Nếu sinh viên không có kỹ năng

tự học, tự nghiên cứu, thì không thể hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ môn học

Về thái độ: Thông qua tự học sẽ rèn luyện cho sinh viên thái độ đúng đắn

trong học tập và nghiên cứu Đó là ý chí kiên trì, tinh thần vượt khó, ý thức tự lực, lòng ham thích say mê nghiên cứu khoa học Bởi lẽ trong tự học sinh viên luôn vấp phải những khó khăn, đòi hỏi phải giải quyết Nếu không có ý chí quyết tâm, không có tinh thần vượt khó thì không thể tự học thành công Và

chính ý chí quyết tâm, có tinh thần vượt khó sẽ “khơi dậy ở sinh viên những tiềm năng to lớn vốn có trong họ tạo nên động lực nội sinh của quá trình tự học”

Về kỹ năng: Tự học rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng cần thiết trong

quá trình học tập của mình, đó là kỹ năng đọc sách, tài liệu, kỹ năng ghi chép,

kỹ nang lập kế hoạch tự học, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, kỹ năng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm v v những kỹ năng này được rèn luyện thường xuyên sẽ hình thành những kỹ xão Nó khiến việc tự học trở thành phẩm chất, một nhu

cầu cao cả của bản thân

1.1.4 Những yêu cầu đối với việc tự học của sinh viên

Trang 12

*Về nội dung

Việc tự học bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân, có khi do tập thể sinh viên tiến hành ngoài những giờ học chính khóa, hoặc bản thân người sinh viên độc lập tiến hành ngay cả trong giờ học trên lớp Đó là việc chỉnh lí lại

vở ghi, đọc sách, ghi nhớ bài, làm bài tập Chuẩn bị tham gia xêmina, làm thí nghiệm… Do học tập ở đại học nhiều nên khối lượng công việc tự học rất lớn, tính chất của nó cũng rất đa dạng Thời gian dành cho việc tự học tương đối nhiều Trong thực tế, thời gian tự học tương đương với thời gian học chính khóa

là quá ít Trung bình tỉ lệ giữa thời gian tự học và lên lớp phải nhiều hơn (24 đến

30 tiết trong một tuần.)

Do đó khi tự học sinh viên gặp khá nhiều mâu thuẩn: khối lượng công việc cần hoàn thành mâu thuẩn với khối lượng, chất lượng cần đạt, những điều kiện chủ quan (ý thức, trình độ tổ chức, điều kiện sức khỏe) và nhưng điều kiện khách quan…

Để giải quyết được các mâu thuẩn, đảm bảo được chất lượng tự học, sinh viên phải biết xây dựng kế hoạch tự học cũng như thời gian biểu tự học

Xây dựng thời gian biểu tự học cần quán triệt những nguyên tắc:

Thứ nhất, đảm bảo thời gian tự học cho từng môn phù hợp với khối lượng

thông tin tương ứng Ở trường đại học sinh viên phải học nhiều môn, nhiều chuyên đề, mỗi môn có vị trí, khối lượng thông tin, tính chất nội dung thông tin khác nhau Vì vậy, cần phân phối thời gian hợp lí để nắm vững mỗi môn Thường số tiết tự học tương đương với số tiết chính khóa

Thứ hai, đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lí các hình thức tự học,

các bộ môn có tính chất khác nhau

Trong quá trình tự học, sinh viên sẽ tiến hành lao động làm cho trí óc căng thẳng, vỏ não bị hưng phấn ở những vùng nhất định Nếu kéo dài một hoạt động đồng điệu dần dần sẽ gây ức chế (theo học thuyết Paplop) Do đó năng lực làm việc của sinh viên sẽ giảm sút, bị mệt mỏi…cho nên khi sắp xếp và tiến hành hoạt động tự học, cần thay đổi và luân phiên các dạng tự học (đọc sách, làm bài

Trang 13

tập, tìm hiểu các vấn đề khoa học tự nhiên lẫn xã hội phù hợp với yêu cầu và trình độ…)

Thứ ba, đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lí giữ tự học và

nghỉ ngơi

Khi tự học, lao động trí óc làm cho sinh viên dần dần có biểu hiện của sự mệt mỏi Sự mệt mỏi là trạng thái khách quan của cơ thể (kém thể lực…) có thể đưa sinh viên tới chổ bị quá sức không thể tiếp tục làm việc hăng say Cũng có trường hợp sự mệt mỏi là do trạng thái chủ quan của cá nhân sinh viên gây ra (như phung phí sức lực vào việc vui chơi không biết tự kiềm chế) Nó xuất hiện còn có thể do sinh viên không thỏa mãn với công việc học tập không có kết quả của mình (bị điểm kém, lo sợ thi cử…) Do đó, để tránh mệt nhọc cần phải nghỉ ngơi một cách hợp lí Khi được nghỉ ngơi hợp lí, các chức năng hoạt động của

cơ thể nói chung vỏ não nói riêng được hồi phục và sinh viên tiếp tục làm việc Cần nhớ rằng, trong quá trình làm việc, nghỉ ngơi sinh viên cần đảm bảo ngủ đúng giờ, dậy đúng giờ (thường 7-8 tiếng trong một ngày) Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu của tự học Trong quá trình học tập nên cố gắng hoàn thành những công việc quan trọng nhất công việc khác để đến hôm sau Tính linh động, mềm dẻo của quá trình lao động còn thể hiện ở việc thay đổi trình tự thực hiện các công việc cho thích hợp với hoàn cảnh cụ thể Tính mềm dẻo thể hiện ở chổ mỗi cá nhân sinh viên cần có kế hoạch và thời gian biểu riêng, vì mỗi sinh viên có những đặc điểm, điều kiện riêng…[11; tr 42- 45]

* Thực hiện kế hoạch và thời gian biểu tự học

Sau khi thiết kế thời gian biểu tự học sinh viên cần thực hiện một cách nghiêm túc và mang lại hiệu quả cao

Cần chú ý đảm bảo những yêu cầu khi thực hiện kế hoạch và thờ gian biểu

tự học

Trang 14

Thứ nhất, biết cách thức làm việc độc lập Hoạt động tự học đòi hỏi sinh

viên phải nắm được cách thức làm việc độc lập: đọc sách, các tài liệu, hoàn thành các loại bài tập…

Lao động trí óc độc lập sẽ giúp người ta rèn luyện được cách suy nghĩ độc lập, gợi cho sinh viên có những quan điểm và chính kiến riêng của mình đối với các vấn đề được học Những chính kiến đó phải do quá trình tự suy nghĩ, dứt khoát do mình tự tìm ra trong chính đầu óc của mình Do đó, cần tránh sao chép, bắt chước một cách mù quáng mà phải biết vận dụng có sáng tạo

Thứ hai, phải biết tập trung tư tưởng, lao động nói chung, lao động học tập

nói riêng đòi hỏi con người biết tập trung tư tưởng, vì có tập trung tư tưởng thì hiệu suất làm việc được nâng cao Cho nên khi bắt tay vào tự học sinh viên cần dần dần tạo cho mình thói quen tập trung tư tưởng nhanh chóng, không để lãng phí thời gian

Để tập trung tư tưởng tốt thì cần phải chú ý đến việc nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, phải hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của từng bộ môn, từng hoạt động học tập đối với nghề nghiệp tương lai của mình.Do đó gây được sự say mê học tập, tạo được cảm giác thoải mái và có thể kiên trì rèn luyện

sự tập trung tư tưởng, không sao động nản lòng…

Thứ ba, phải biết tiết kiệm thời gian là yếu tố quan trọng để việc học đạt

hiệu quả cao:

Trước hết cần phải biết làm việc tự giác tránh học lơ là, lười nhát, hời hợt trong lao động trí óc

Phải biết tổ chức ngăn nắp nơi tự học, tạo điều kiện để dễ dàng nhanh chóng tìm được những thứ đang cần dùng tránh thói quen bừa bãi lộn xộn, mất thì giờ tìm kiếm, nhiều lúc gây ra rối trí, bực tức

Biết tận dụng những thời giờ dự trữ bằng cách tận dụng cả những khoảng thời gian ngắn Biết tận dụng những tời giờ tưởng chừng như bỏ đi: xem sách báo lúc chờ đợi tàu xe…không để những giờ phút trôi đi một cách lãng phí

Thứ tư, có ý thức kiểm tra, kết hợp với tự kiểm tra

Trang 15

Quá trình tự học ở đại học là một quá trình điều khiển, điều chỉnh, tự điều chỉnh trong đó có những mối liên hệ xuôi và những mối liên hệ ngược Nhờ mối liên hệ ngược bên ngoài mà giáo viên thu được những tài liệu phản ánh sự vận động và phát triển của nhân tố học tập ở sinh viên Những tư liệu này giúp giáo viên phát hiện được những sai lệch của hoạt động học tập, từ đó có những biện pháp hữu hiệu, kịp thời để điều chỉnh hoạt động của sinh viên

Vì vậy, cần có một hệ thống kiểm tra nghiêm túc ở đại học Song song quá trình kiểm tra của thầy, sinh viên phải có đầy đủ ý thức và năng lực tự kiểm tra hoạt động học tập nói chung, hoạt động tự học nói riêng Làm được việc này sẽ có tác dụng trong học tập

1.1.5 Nội dung và một số hình thức tự học của sinh viên

Nội dung việc tự học của sinh viên rất phong phú đa dạng:

Thứ nhất, Sưu tầm, ghi chép và đọc tài liệu tham khảo, giáo trình:

Học tập ở đại học không thể giới hạn ở bài giảng trên lớp, sách giáo khoa

mà phải nghiên cứu thêm nhiều tài liệu tham khảo để mở rộng nguồn thu nhận kiến thức của mình Để việc đọc, nghiên cứu tài liệu tham khảo có kết quả, sinh viên phải biết cách đọc và biết ghi chép tài liệu

Biết cách đọc, phải biết lựa chọn những kiến thức để nghiền ngẫm, đi sâu

nghiên cứu, ghi nhớ những vấn đề thực chất, không phải học thuộc lòng một cách máy móc

Biết cách ghi, khi đọc sách cần ghi chép các phần như: Tên sách, tác giả,

thời gian đọc, ghi lại những nội dung chủ yếu của sách theo từng phần, từng chương Có thể ghi theo các dạng sau:

Ghi chép đại cương những vấn đề cơ bản trong nội dung sách

Ghi tóm tắt nội dung từng phần của toàn bộ quyển sách

Ghi chép nguyên văn những đoạn, câu quan trọng, dùng để trích dẫn sau này…

Việc ghi chép phải đảm bảo rõ ràng, đầy đủ, chính xác, phản ánh được các

ý chính của sách và có thái độ trung thực, khoa học khi sử dụng

Trang 16

Thứ hai, so sánh đối chiếu nội dung bài giảng trên lớp với giáo trình, tài liệu tham khảo

Bài giảng của giảng viên ở trên lớp là những nội dung chủ yếu, có tính gợi

mở cho sinh viên tự mình đi đến vấn đề để hiểu rõ và vận dụng kiến thức So sánh đối chiếu nội dung bài giảng trên lớp với tài liệu giáo trình để điều chỉnh những kiến thức chưa đúng của bản thân, bổ sung những nội dung chưa rõ…đồng thời khi đọc tài liệu tham khảo cần dựa vào nội dung bài giảng để biết vấn đề nào của tài liệu cần đọc kĩ, nghiên cứu sâu để hiểu bài giảng và vấn đề nghiên cứu

Nhìn chung khi học ở đại học việc đọc tài liệu tham khảo là điều rất cần thiết, nêu lên bản chất của việc học tập ở đại học Ở trường đại học càng không thể chấp nhận sinh viên không đọc thêm tài liệu tham khảo, không tiếp xúc với các tài liệu lịch sử gốc, các tác phẩm của các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin…sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng là những tài liệu học tập rất quan trọng song không phải là duy nhất Chỉ khi nào sinh viên biết cách đọc, biết ghi chép, sử dụng các tài liệu tham khảo cần thiết thì việc học tập mới thực sự mang phong cách đại học và đạt kết quả tốt [11; tr 49- 52]

1.2 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ và hoạt động tự học của sinh viên

1.2.1 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ- yêu cầu của đổi mới giáo dục đại học

Thế kỉ XXI được đánh dấu bằng các thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực: kinh tế toàn cầu hóa, quan hệ quốc tế, khoa học, công nghiệp, y tế và giáo dục có rất nhiều chuyển biến, trong đó các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đại học đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển của loài người Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người trong thế kỉ mới không ngừng có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp vào quy trình phát triển thế giới Mỗi một kinh nghiệm cá nhân, mỗi một thành tựu khoa học, mỗi một khám phá mới về kiến thức thông qua các nghiên cứu đều có xuất phát điểm là các kinh nghiệm của nhiều thế hệ và cá nhân đi trước, nền tảng cho các bước kế

Trang 17

tiếp sau này, mà cụ thể là thông qua các chương trình học ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học

Nhiều năm gần đây, vấn đề đổi mới giáo dục đang được những người làm công tác đào tạo trên toàn thế giới đặc biệt quan tâm, họ luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kĩ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống Thế giới hiện đại đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên

có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lí nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục đích đó, một hệ thống giáo dục gọi là hệ thống chuyển đổi tín chỉ được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới

Tại Việt Nam nói riêng, trước những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại thì việc áp dụng mô hình đào tạo này đang được thực hiện và dần hoàn thiện Để tăng tính liên thông của hệ hống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, trong mấy năm gần đây nhà nước đã đề ra chủ trương mở rộng việc áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục nước ta Trong “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001- 2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ- TTg có

nêu: các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ” Trong “Báo

cáo về Tình hình Giáo dục” của Chính phủ trước kì họp Quốc hội tháng 10 năm

2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005- 2006, phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này” Như vậy, việc xác

định tầm quan trọng của hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng đã được thấy rõ trong chủ trương chỉ đạo của nhà nước, cho nên

Trang 18

những người làm công tác giáo dục- đào tạo cần khẩn trương xây dựng một lộ trình chuyển đổi từ học chế học phần hiện nay sang học chế tín chỉ trong toàn hệ thống giáo dục đại học nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ lãnh đạo và chuẩn

bị đổi mới giáo dục đại học Việt Nam một cách mạnh mẽ hơn

1.2.2 Tự học trong đào tạo tín chỉ

1.2.2.1 Yêu cầu của tự học trong đào tạo tín chỉ

Trong đào tạo theo tín chỉ, cái khó nhất là phải áp dụng phương pháp học tập tích cực, đó là phương pháp học lấy tự học và học cái cốt lõi là chính Đây là việc làm quan trọng mà sinh viên phải thực hiện để phát huy tính năng động sáng tạo của bản thân, sinh viên phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thật sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ)

Muốn tự học trên lớp có hiệu quả, sinh viên phải tự đọc tài liệu trước ở nhà để hiểu sâu linh hồn của từng chương và tiến tới cả học phần, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng

Tự triển khai những vấn đề cụ thể của học phàn như giải bài tập, thiết kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp Hãy đi từ dễ đến khó, từ đơn giảng đến phức tạp Các vấn đề có liên quan điều phải được đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay

Giờ học lí thuyết không chỉ ghi chép lời thầy cô giảng trên lớp một cách thụ động mà phải nghe, suy ngẫm và nắm được “linh hồn” những vấn đề thầy,

cô truyền đạt Thầy cô đặt vấn đề như thế nào? tại sao đặt vấn đề như thế? phương pháp và con đường cụ thể để giải quyết vấn đề đó là gì? Để có được bức tranh tổng quát cụ thể, chi tiết của học phần và từng chương, mục đòi hỏi sinh viên phải đến lớp đầy đủ

Sinh viên học ở trên lớp phải chiụ khó ghi chép, hăng hái phát biểu, tích cực tìm hiểu, phấn khởi khi được giảng viên kiểm tra, vấn đề gì chưa rõ phải hỏi giảng viên cho rõ, nếu vẫn chưa rõ thì trao đổi lại với nhóm học tập (thảo luận nhóm) Giờ thảo luận là giờ làm rõ những vấn đề của giờ lí thuyết áp dụng vào

Trang 19

từng chương cụ thể Nếu như giờ lí thuyết chủ yếu là nghe, viết và suy ngẫm thì giờ thảo luận là phải nói nhiều và tranh luận, ưu tiên đặt câu hỏi hơn trả lời Tránh đi vào những vấn đề quá sâu, phức tạp và mất nhiều thời gian Đừng nôn nóng hiểu sâu, hãy hiểu những vấn đề cơ bản trước Thảo luận nhóm là hình thức rất quan trọng, qua thảo luận nhóm, sinh viên phát hiện những vấn đề mình còn thiếu hụt để tự bổ sung, những vấn đề đã nắm bắt được qua thảo luận nhóm cũng được khẳng định Cho nên sinh viên cần tích cực trao đổi bài theo nhóm, người biết khi giảng cho người chưa biết sẽ càng giỏi hơn, người chưa biết hỏi người biết sẽ hiểu được vấn đề Tinh thần học hỏi và lắng nghe người khác cũng

sẽ là điều mà sinh viên sẽ học hỏi được Những kĩ năng này là rất quan trọng khi các bạn bước vào môi trường làm việc và đây sẽ là tiền đề tốt để biết cách làm việc trong một môi trường tập thể

Làm việc thảo luận nhóm không chỉ đơn thuần là do yêu cầu của giảng viên đề ra cho sinh viên mà quan trọng hơn nó còn là cách học tập, nghiên cứu của sinh viên Học tập theo nhóm sẽ tập hợp được những ý kiến sáng tạo của từng cá nhân Từ đó sản phẩm học tập sẽ giàu tính sáng tạo Những phương pháp tối ưu nhất sẽ được lựa chọn từ những ý kiến được nêu ra Sản phẩm học tập lúc này cũng sẽ là thành quả của tất cả các thành viên Do đó học nhóm đòi hỏi sự tự giác của từng thành viên trong nhóm Nếu một thành viên trong nhóm không làm việc như đã phân công sẽ dẫn đến công việc nhóm bị ngưng trệ

Bên cạnh việc áp dụng phương pháp học tập thích hợp: chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp, tham dự đầy đủ các buổi lí thuyết, nắm chắc lí thuyết vận dụng vào thực hành để làm rõ vấn đề thì việc tự học trong đào tạo tín chỉ còn đòi hỏi sinh viên phải nắm thông tin chính xác và kịp thời

Mỗi sinh viên cần có quy chế gối đầu giường, không cần học thuộc nhưng phải hiểu thật sâu quy chế

Mỗi tuần phải vào website của trường ít nhất hai lần để đọc và cập nhật những thông tin có liên quan đến sinh viên Tham gia các diễn đàn học tập và

Trang 20

rèn luyện của sinh viên để làm cho cái tâm của con người trong sáng nhằm tạo thêm động lực để học tốt

Không được bỏ các buổi sinh hoạt lớp cũng như các buổi sinh hoạt do nhà trường tổ chức vì đây là nơi giao lưu, trao đổi thông tin giữa nhà trường và sinh viên

Đây là một số yêu cầu đối với sinh viên về việc tự học trong đào tạo tín chỉ Nếu so với việc đào tạo theo niên chế thì việc đào tạo theo học chế tín chỉ

có những điểm khác nhau căn bản, nhưng quy chung lại cả hai hình thức đào tạo điều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội Việc tìm ra sự khác nhau giữa hai hình thức đào tạo này để thích ứng với hình thức tổ chức đào tạo mới- hình thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (lấy sinh viên làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học làm nòng cốt

1.2.2.2 Vai trò, vị trí của tự học trong đào tạo tín chỉ

Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học ở đại học của sinh viên, nhằm phát huy tính tự giác tích cực, năng lực đọc sách và nghiên cứu của sinh viên để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở các trường cao đẳng, đại học là

“biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của sinh viên” Do đó tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học theo hình thức tín chỉ hiện nay là việc làm cấp thiết

Việc khuyến khích sinh viên trong các trường đại học tự học, tự nghiên cứu hiện nay là vấn đề nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà đại học quan tâm nhất là hình thức dạy học theo tín chỉ Tuy nhiên, muốn là tốt việc này cần giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của việc tự học như thế nào Có thể nói tự học là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học Khi một học sinh trở thành một sinh viên, họ bắt đầu phải làm quen với phương thức học tập hoàn toàn mới mẽ Ở trung học học sinh chỉ cần nắm vững kiến thức được cô giáo truyền giảng ở trên lớp và giáo viên liên tục kiểm tra, đánh giá học sinh và

Trang 21

có giao bài tập cụ thể Song ở đại học thì khác hẳn, tự học là phương pháp, cách thức cơ bản của mỗi sinh viên phải quán triệt, bởi vì phương hướng chủ yếu của trường đại học là nhu cầu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo mà thực chất là làm cho sinh viên tự hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nổ lực tự học, tự nghiên cứu Sinh viên đại học, học phương pháp là chủ yếu Giờ đây, thầy cô đóng vai trò là người hướng dẫn học tập và các giờ lên lớp chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, tài liệu cơ bản còn việc học tập của sinh viên là sắp xếp trình tự, thời gian để nghiên cứu, nắm tài liệu cơ sở và tài liệu tham khảo mở rộng Thêm vào đó không còn sự kiểm tra sát sao của giáo viên, kết quả học tập dồn hết vào kì thi hết học phần, hết môn Kết quả này phụ thuộc vào bản thân mỗi sinh viên là chủ yếu Công tác tự học của sinh viên ngày càng tăng lên đòi hỏi nhiều cố gắng nổ lực, vì chỉ có việc tự học mới trang bị cho mình kiến thức mới nhất, khoa học nhất và thu được nhiều kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn và đạt kết quả như mong muốn

Bên cạnh đó việc tự học còn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao thành tích hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc hiểu và tiếp thu tri thức mới, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho sinh viên Tự học với sự nổ lực nào, tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lí Trong quá trình tự học sinh viên sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho sinh viên Nếu thiếu đi sự nổ lực tự học của bản thân sinh viên thì kết quả không thể cao, dù cho điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mấy (thầy giỏi, tài liệu hay) Theo Adixterret

“Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh Nắm vững tri thức thật sự lĩnh hội chân lí, cái đó học sinh phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân” Điều đó lại khẳng định thêm vai trò của việc tự học

Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho sinh viên những kiến thức mới, bổ ích mà còn giúp họ rất nhiều trong công việc sau này khi họ trở

Trang 22

thành những người chủ thật sự góp phần xây dựng đất nước Họ có năng lực hoạt động thực tiễn hay không? Chất lượng công tác như thế nào? Phụ thuộc phần lớn vào công tác tự học Mỗi sinh viên ra trường đều muốn có một công việc ổn định và hoàn thành tốt công việc của mình nhưng chuẩn bị tốt cho việc

đó là làm tốt phần việc cho ngày hôm nay khi còn ngồi trên ghế nhà trường Xã hội ngày càng phát triển và ngày càng có nhiều sáng kiến vĩ đại hơn, thời đại đó cần có những con người toàn diện, quy luật kinh nghiệm của cuộc sống sẽ đào thải những ai không theo kịp, tụt hậu so với nó Bí quyết để chiến thắng là trang

bị cho mình những tri thức toàn diện, đây chính là nhiệm vụ đặt ra cho công tác

tự học Không chỉ có vậy tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho sinh viên Việc tự học rèn luyện cho sinh viên thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống Giúp họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình, hơn nữa

tự học thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bõa, ước mơ Do vậy mỗi sinh viên hãy xây dựng cho mình một thói quen, một phương thức tự học tốt nhất

1.2.2.3 Phương pháp tự học trong đào tạo tín chỉ

Để việc học đạt hiệu quả cao đòi hỏi mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình những phương pháp học thật tốt đặc biệt là học theo hình thức đào tạo tín chỉ Cho nên các bạn sinh viên nói chung và sinh viên ngành sư phạm Lịch sử của trường nói riêng muốn có học lực bền vững thì các bạn sinh viên phải biết lập kế hoạch học tập riêng cho mình

Xây dựng kế hoạch học tập:

Xây dựng được kế hoạch học tập hợp lí là kĩ năng tự học quan trọng đầu tiên đối với mỗi sinh viên, để sinh viên có năng lực quản lí việc học của mình Để xây dựng được kế hoạch học tập, nghiên cứu, sinh viên cần được nghiên cứu các văn bản pháp qui cơ bản về đào tạo, kế hoạch đào tạo của trường, của khoa… Việc xây dựng kế hoạch tự học có thể chia thành 3 bước như sau:

Trang 23

Bước 1: Sinh viên thông qua tự đánh giá kết hợp với sự nhận xét của thầy, cô

giáo, bạn bè, gia đình để hiểu sâu sắc về bản thân, để xác định tìm năng của mình trong hoạt động tự học, tự nghiên cứu Những công việc này giúp cho sinh viên những kĩ năng lập kế hoạch, lựa chọn và làm chủ một số thái độ thích hợp, giúp cho việc tự học tích cực và có tính xây dựng nhằm năng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu

Bước 2: Sinh viên cần nghiên cứu và phân tích kĩ các yêu cầu của nhiệm vụ

học tập, đối chiếu với khả năng của bản thân trên cơ sở đó dự kiến các mục tiêu, nội dung của kế hoạch, kèm theo sự lựa chọn các phương pháp, phương tiện thực hiện một cách hợp lí Để thực hiện được bước này sinh viên căn cứ vào kế hoạch dạy học của nhà trường, các bản kế hoạch dạy học môn học của các giảng viên, hướng dẫn tự học được công bố…Sinh viên cần hiểu biết sâu sắc về cơ cấu chung của ngành nghề đào tạo từ đó mà có cách lựa chọn phương pháp học tập hợp lí

Bước 3: Hoàn chỉnh kế hoạch để tiến hành thực hiện sinh viên cần tranh thủ

ý kiến của giảng viên,bạn bè Chọn lọc những ý kiến bổ ích, phù hợp với các điều kiện khách quan và chủ quan của bản thân để hoàn thiện kế hoạch Xây dựng kế hoạch học tập tốt, sẽ giúp sinh viên nâng cao hiệu quả học tập [7; tr 11]

Tổ chức tốt nơi học tập, nghiên cứu

Nhà giáo dục nổi tiếng N K Crupxkaia đã nói: “Cần phải xem xét trong những điều kiện nào có thể học tập đạt kết quả” điều đó nhắc nhở sinh viên phải biết tổ chức nơi học tập, nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc Bởi vì đặc thù của lao động trí óc đòi hỏi phải có sự tập trung tư tưởng cao trong lúc làm việc Muốn thế phải tạo ra một môi trường thuận lợi cả về không gian và thời gian Nơi học tập phải đủ ánh sáng, màu sắc phải dịu dàng, không khí phải thoáng mát, âm thanh phải yên tĩnh, phương tiện phải đầy đủ và được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng

Trang 24

Sự chuẩn bị thiếu chu đáo trước khi bước vào giờ học tại nơi ở của sinh viên chẳng những làm tốn phí nhiều thời gian vô ích mà tác hại hơn là không hình thành được thói quen làm việc nghiêm túc Hiện nay ở các tường đại học đều có cư xá dành cho sinh viên nội trú tại trường Trung bình từ 6 đến 8 sinh viên ở một phòng với những tiện nghi tương đối đầy đủ phục vụ cho việc tự học Tuy nhiên cũng còn không ích những khó khăn Hạn chế thường xảy ra nhiều nhất là việc thực hiện nội quy trong phòng chưa tốt Hiện tượng tiếp khách trong phòng vào giờ tự học đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến mọi người xung quanh Vì thế có tình trạng một sinh viên tiếp khách là cả phòng không học được

Cơ sở vật chất của trường hiện nay khá tốt, ngoài kí túc xá còn có giảng đường, thư viện, phòng học…sinh viên cần tận dụng những nơi đó để tự học Nhưng dù học ở chổ nào đi nữa thì yếu tố quyết định vẫn là yếu tố tự giác, tinh thần sẵn sàng làm việc trong bất kì hoàn cảnh nào của mỗi sinh viên Hãy học tập Ludin nhà toán học nổi tiếng: giữa cảnh ồn ào của khách sạn, quán ăn ông vẫn miệt mài làm toán như ngồi một mình ở nhà

Học tập kết hợp cách nghỉ ngơi hợp lí

Tính đặc thù trong lao động trí óc nói chung, nhà giáo và sinh viên nói riêng là phải suy nghĩ nhiều giờ, là một loại lao động không có giớ hạn thời gian, diễn ra trong bất kì hoàn cảnh nào: sớm, trưa, chiều, tối, vui chơi giải trí, đọc sách…Nói như vậy không có nghĩa đó là loại lao động đơn giản, thoải mái Ngược lại đó là thứ lao động nặng nhọc, tốn nhiều năng lượng thần kinh Vì vậy yêu cầu đặt ra cho sinh viên là phải biết tổ chức nghỉ ngơi hợp lí trong quá trình học tập, nghiên cứu trong thời gian tự học Các công trình nghiên cứu về sinh lí học lao động đã cho thấy có nhiều hình thức nghỉ ngơi nhưng hình thức nghỉ ngơi có hiệu quả nhất cả về trí óc, thể lực và kinh tế là sự chuyển đổi hình thức lao động Ví dụ như đang đọc sách có thể chuyển sang đánh cờ, lên mạng xem tin tức…Nếu xét về mặt hình thức lao động con người vẫn làm việc liên tục nhưng xét về mặt cơ sở khoa học thì đã có sự nghỉ ngơi Cách nghỉ ngơi hợp lí

Trang 25

đó tiết kiệm được rất nhiều thời gian do đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao kết quả học tập như câu nói “Tranh thủ được thời gian là tranh thủ được tất cả”

“Thời gian là thầy của ai không có thầy” bởi thế biết tận dụng thời gian là một phẩm chất quý của sinh viên đang tiếp cận nguyên lí lao động trong thời đại kinh tế tri thức Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng làm việc liên miên trong nhiều giờ, không nghỉ ngơi hợp lí Trung bình sau một giờ học nên nghỉ từ 5- 10 phút Đáng tiếc là trong thực tế hiện nay còn không ít sinh viên chưa có thái độ nghiêm túc trong học tập còn mang nặng tư tưởng trung bình chủ nghĩa nên rất lãng phí thời gian

Việc tổ chức học tập, nghiên cứu tập thể

Việc học tập nghiên cứu theo nhóm, tổ: đào tạo theo quy chế tín chỉ dần

được áp dụng ở các trường Đại học ở Việt Nam trong đó có Trường Đại học Đồng Tháp, bước đầu đã chứng tỏ được ưu thế so với phương thức đào tạo theo niên chế Một trong những phương pháp học quan trọng trong đào tạo theo tín

chỉ là phương pháp học theo nhóm

Nhóm là một tập thể nhỏ có từ 2- 4 người, nội dung học nhóm là giải đáp cho nhau những vấn đề còn vướn mắc, kiểm tra lẫn nhau những vấn đề đã nắm được sau khi học cá nhân, thảo luận những phần cơ bản, trọng tâm của bài, vạch phương hướng giải quyết những vấn đề hay những bài tập khó…trong tập thể lớp tổ được coi là một cơ sở có số lượng từ 10- 15 sinh viên, tổ có trách nhiệm quản lí việc thực hiện quy chế đào tạo, nội quy của nhà trường đối với các sinh viên và cùng nhau rèn luyện, phấn đấu…

Việc học tập nghiên cứu tập thể có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau như:

Giao cho một số cá nhân chuẩn bị từng chuyên đề, giới thiệu nội dung một cuốn sách mới…sau đó tình bày trước tổ để các thành viên trong tổ góp ý, trao đổi hoàn thiện

Tổ có thể mời giảng viên phân tích, trình bày thêm những vấn đề mà sinh viên còn thắc mắc chưa giải quyết được

Trang 26

Điều quan trọng là duy trì được nề nếp sinh hoạt đều đặn hàng tuần, hàng tháng kết hợp với việc sinh hoạt tư tưởng, phê bình góp ý, giúp đỡ lẫn nhau, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong cuộc sống hàng ngày Trong tổ cần lựa chọn những sinh viên có năng lực học tập để làm cán sự bộ môn, thực hiện nhiệm vụ cầu nối giữa giảng viên với sinh viên Điều cần lưu ý là việc học nhóm, tổ không thể thay thế được việc học tập của cá nhân mỗi sinh viên Kết quả việc học tập, nghiên cứu của nhóm, tổ phụ thuộc vào mỗi cá nhân, chỉ khi nào mỗi sinh viên phát huy cao độ tinh thần độc lập, suy nghĩ về những vấn đề cần đưa ra học tập, nghiên cứu tập thể thì khi đó việc học nhóm, tổ mới phát huy được tác dụng, cần đề phòng tư tưởng ỷ lại, chủ quan trông chờ vào người khác

Việc học nhóm, tổ chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được thực hiện trên

cơ sở có sự chuẩn bị chu đáo cả về mặt nội dung lẫn phương pháp tổ chức của mỗi thành viên, nhất là những sinh viên có trách nhiệm chính với công việc Trong quá trình học tập theo nhóm, tổ mỗi sinh viên phải thể hiện được lập trường, quan điểm riêng của mình về các vấn đề được đặt ra trao đổi Sự tranh luận sôi nổi, thẳng thắn giữa các thành viên trong nhóm sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ những nội dung và biện pháp giải quyết đối với các vấn đề đã được lựa chọn: “Thảo luận là cái rây để sàng lọc ra sự thật”

Là sinh viên được đào tạo theo phương thức tín chỉ chắc hẳn các bạn đã biết và làm quen với những khái niệm như: bài tập nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm…Nhưng không phải với bất kì sinh viên, hay nhóm sinh viên nào cũng khai thác hết được tính tích cực của phương pháp học tập này Việc học tập theo hình thức nhóm, tổ có những ưu điểm như:

Học tập theo môi trường nhóm, tổ sẽ thúc đầy sự tích cực học tập của cá nhân, tạo sự gắn kết trong một cộng đồng Trong khi làm việc nhóm chắc hẳn sẽ

có những mâu thuẩn sẽ nảy sinh từ đó sinh viên phải giải quyết những “xung đột” đó Chính nhờ vậy sẽ giúp cho sinh viên có khả năng giải quyết những mâu thuẩn, thuyết phục người khác trong những hoàn cảnh có thể bắt gặp trong cuộc sống sau này

Trang 27

Với tinh thần học tập, nghiên cứu tập thể, sự tổng hợp tài năng, trí tuệ của nhiều người tất yếu sẽ tạo ra những thuận lợi để sinh viên đi đến những thành công, sáng tạo to lớn, có học lực bền vững

Tinh thần học hỏi và lắng nghe người khác cũng là điều mà sinh viên học tập được qua việc học tập theo nhóm, tổ Những kĩ năng này là rất quan trọng để giúp sinh viên làm việc trong môi trường tập thể sau này [7; tr 14]

Phương pháp đọc tài liệu tham khảo

V.I Lênin đã nói: “Không có sách thì không có tri thức Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản” Ở trường đại học, muốn học tập, nghiên cứu

có kết quả cao, sinh viên phải có ý thức đọc sách, đọc tài liệu khoa học, đặt biệt

là những cuốn sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành, báo chí…Việc làm đó không chỉ vì mục đích hoàn chỉnh những kiến thức đã tiếp thu được mà điều quan trọng là sinh viên tự rèn luyện được cách học, cách đọc những tài liệu khoa học, biết khái quát nắm vững những tri thức từ các tài liệu…

Phương pháp đọc tài liệu:

Sinh viên cần phải đọc sách vì đó là nguồn cung cấp kiến thức phong phú,

là người thầy trung thành, đọc sách không chỉ thu lượm được những điều quý báu về nội dung mà còn học được cách diễn đạt và trình bày từng vấn đề, đặc biệt là nâng cao phẩm chất tư duy, đúng như câu nói của M.I Goocki “Những điều quý giá trong người tôi, tôi đã thu lượm được từ sách vở”

Trong quá trình học tập, nghiên cứu ở trường đại học đòi hỏi sinh viên phải dành nhiều thời gian để đọc các tài liệu tham khảo Những đọc như thế nào

để có hiệu quả tốt là cả một vấn đề đặt ra đối với mỗi sinh viên Thông thường người ta chia ra làm hai cách đọc: đọc lướt qua để có một cái nhìn khái quát chung nhất về nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật của cuốn sách; đọc chậm có suy nghĩ, nghiền ngẫm, nghiên cứu từng phần nội dung cụ thể Tùy theo mức độ yêu cầu mà sinh viên có thể lựa chọn cách đọc thích hợp Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay và sự bùng nổ thông tin đặt ra

Ngày đăng: 14/04/2022, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trần Thị Tuyết Anh (2008), Giáo trình giáo dục học, tập 1- 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Anh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
[3] Báo cáo tổng hợp và chi tiết, Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục và đào tạo (1986- 1996). Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội, (tháng 1/1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục và đào tạo (1986- 1996)
[7] Lê Hiển Dương (2008), Đại học Đồng Tháp tiến tới học lực bền vững, tự tin giàu cá tính, Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Đồng Tháp tiến tới học lực bền vững, tự tin giàu cá tính
Tác giả: Lê Hiển Dương
Năm: 2008
[8] Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, (1998), Lí luận dạy học đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức
Năm: 1998
[9] Nguyễn Kì (1995), Phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kì
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
[10] Phan Ngọc Liên (cb), (2009), Phương pháp dạy học lịch sử tập 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử tập 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên (cb)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
[11] Phan Ngọc Liên (cb), (1997), Phương pháp học tập và nghiên cứu Lịch sử, Đại học Huế, TTĐTTX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp học tập và nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Đại học Huế
Năm: 1997
[12] Lưu Xuân Mới, (2000), Lí luận dạy học Đại học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Đại học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[13] Quyết định Số: 43/2007/QĐ-BGD&ĐT Về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
[16] Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Quá trình dạy- tự học (tr 59- 129) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy- tự học (tr 59- 129
[17] Nguyễn Cảnh Toàn (1995), Luận bàn về kinh nghiệm tự học, Tủ sách tự học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về kinh nghiệm tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Tủ sách tự học
Năm: 1995
[18]. Nguyễn Cảnh Toàn, (2002), Tuyển tập tác phẩm: tự giáo dục, tự nghiên cứu, tự học, Trung tâm văn hóa & ngôn ngữ Đông Tây, tr. 621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm: tự giáo dục, tự nghiên cứu, tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Trung tâm văn hóa & ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2002
[19]. Trịnh Đình Tùng, (2007), Để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông, Tạp chí giáo dục, số 155, tr. 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2007
[20] Thái Duy Tuyên, (1997), Đề cương bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Bộ Giáo Dục- Đào tạo Viện khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Bộ Giáo Dục- Đào tạo Viện khoa học giáo dục
Năm: 1997
[21] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[22] Văn kiện đại hội lần 2, BCH TW khóa VIII, Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội lần 2
Tác giả: Văn kiện đại hội lần 2, BCH TW khóa VIII, Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 1997
[23] Nguyễn Đức Vũ, Lê Công Triêm, (2004), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ, Lê Công Triêm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
[2] Bộ giáo dục và đào tạo (1986), Tổng kết giáo dục 10 năm (1975- 1985) Khác
[4] Bộ Giáo Dục và Đào tạo Trường Đại học Đồng Tháp, (2010), Tài liệu Hội nghị sơ kết một năm triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ Khác
[6] P.G.GRUDINXKI, P.A.YOINKIN, M. N. R.TRILYKIN, Những lời khuyên sinh viên đại học, NXB Thanh niên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN