1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BTTP BEN TRE SO 285.final

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về chính sách của Nhà nước đối với quỹ Được Nhà nước tạo điều kiện hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ; Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ

Trang 1

(Khu di tích Cụ Nguyễn Đình Chiểu - Ảnh: Hương Thủy)

VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

AN SINH XÃ HỘI TRONG TÌNH HÌNH

HIỆN NAY Trang 8

* Thông tư hướng dẫn một số nội dung về đăng

ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền

với đất trang 3

* Hướng dẫn về điều kiện tha tù trước thời hạn

có điều kiện trang 4

với sản phẩm văn hóa trang 14

Trang 2

Dương Lam

Quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội,

quỹ từ thiện

Ngày 25/11/2019, Chính

phủ ban hành Nghị định số

93/2019/NĐ-CP quy định

về tổ chức, hoạt động của

quỹ xã hội, quỹ từ thiện

Nghị định này quy định về

tổ chức, hoạt động và quản

lý nhà nước về quỹ xã hội,

quỹ từ thiện (sau đây gọi

chung là quỹ) được thành

lập và hoạt động tại Việt

Nam.

Theo đó, Nghị định số

93/2019/NĐ-CP quy định về quỹ,

quỹ xã hội, quỹ từ thiện như sau:

- Quỹ là tổ chức phi chính phủ

do cá nhân, tổ chức tự nguyện

góp một phần tài sản nhất định

để thành lập hoặc thành lập thông

qua di chúc, hiến, tặng tài sản

thành lập quỹ, có mục đích tổ

chức, hoạt động theo quy định

tại Điều 3 Nghị định này, được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

cấp giấy phép thành lập và công

nhận điều lệ

- Quỹ xã hội là quỹ được tổ

chức, hoạt động với mục đích hỗ

trợ và khuyến khích phát triển

văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục,

thể thao, khoa học và phát triển

nông nghiệp, nông thôn, không vì

mục tiêu lợi nhuận

- Quỹ từ thiện là quỹ được tổ

chức, hoạt động với mục đích hỗ

trợ khắc phục sự cố do thiên tai,

hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn và

các đối tượng khác thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận

Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ

Thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; Tự nguyện, tự chủ, tự trang trải và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng tài sản của mình; Tổ chức, hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

Công khai, minh bạch về tổ chức, hoạt động và thu, chi tài chính, tài sản của quỹ; Không phân chia tài sản

Về chính sách của Nhà nước đối với quỹ

Được Nhà nước tạo điều kiện hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ;

Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí

để thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao; Việc đóng góp tài sản của cá nhân, tổ chức vào quỹ được áp dụng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật

Quỹ có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật Quỹ được chọn tên và biểu tượng Tên và biểu tượng của quỹ phải đáp ứng các điều kiện sau: Không trùng lắp hoặc gây nhầm lẫn với tên hoặc biểu tượng của quỹ khác đã được đăng ký trước đó; Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ

tục của dân tộc; Quỹ phải có tên bằng tiếng Việt và có thể được dịch ra tiếng quốc tế theo quy định của pháp luật Trụ sở giao dịch của quỹ phải đặt trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ cụ thể và phải có tài liệu chứng minh tính hợp pháp của trụ sở quỹ

Về quyền hạn của quỹ bao gồm:

Tổ chức, hoạt động theo pháp luật và điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; Vận động quyên góp, tài trợ cho quỹ; tiếp nhận tài sản do các cá nhân, tổ chức trong nước

và ngoài nước tài trợ, hiến, tặng hoặc bằng các hình thức khác theo đúng mục đích của quỹ và quy định của pháp luật Tổ chức các hoạt động theo quy định của pháp luật để bảo tồn và tăng trưởng tài sản quỹ; Được thành lập pháp nhân trực thuộc theo quy định của pháp luật; Được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; Quỹ được phối hợp với cá nhân, tổ chức để vận động quyên góp, vận động tài trợ cho quỹ hoặc để triển khai các đề

án, dự án cụ thể của quỹ theo quy định của pháp luật; Phối hợp với các địa phương, tổ chức, cá nhân cần sự trợ giúp để xây dựng và thực hiện các đề án tài trợ theo mục đích hoạt động của quỹ

Về nghĩa vụ của quỹ bao gồm các nội dung sau:

- Quỹ hoạt động trong lĩnh vực nào thì phải chịu sự quản lý

Trang 3

của cơ quan nhà nước về ngành,

lĩnh vực đó và chỉ được tiếp nhận

tài trợ, vận động tài trợ trong

phạm vi hoạt động theo điều lệ

của quỹ;

- Thực hiện tài trợ đúng theo

yêu cầu của cá nhân, tổ chức đã

ủy quyền phù hợp với mục đích

của quỹ;

- Quỹ được thành lập từ các

nguồn tài sản hiến, tặng hoặc

theo hợp đồng ủy quyền, di chúc

mà không tổ chức quyên góp và

nhận tài trợ thì hàng năm phải

dành tối thiểu 5% tổng số tài sản

để tài trợ cho các chương trình,

dự án phù hợp với mục đích hoạt

động của quỹ;

- Lưu trữ và có trách nhiệm

cung cấp đầy đủ hồ sơ, các chứng

từ, tài liệu về tài sản, tài chính của

quỹ, nghị quyết, biên bản về các

hoạt động của quỹ cho cơ quan

nhà nước có thẩm quyền theo quy

định của pháp luật;

- Sử dụng tài sản, tài chính tiết

kiệm và hiệu quả theo đúng mục

đích của quỹ; nộp thuế, phí, lệ phí

và thực hiện chế độ kế toán, kiểm

toán, thống kê theo quy định

của pháp luật; phải đăng ký mã

số thuế và kê khai thuế theo quy định của pháp luật về thuế;

- Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân tài trợ và cộng đồng theo quy định của pháp luật Có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội

bộ quỹ và báo cáo kết quả giải quyết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Hàng năm, quỹ có trách nhiệm công khai các khoản đóng góp trên phương tiện thông tin đại chúng trước ngày 31 tháng 3;

- Khi thay đổi trụ sở chính hoặc Giám đốc quỹ, quỹ phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập quỹ;

- Hàng năm, quỹ phải báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động và tài chính với cơ quan cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính cùng cấp với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập quỹ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực hoạt động của quỹ và

báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi quỹ đặt trụ sở trước ngày

31 tháng 12;

- Công bố về việc thành lập quỹ theo quy định tại Điều 22 Nghị định này;

- Thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến tổ chức, hoạt động của quỹ và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

và điều lệ quỹ

Đồng thời, Nghị định số 93/2019/NĐ-CP cũng đã quy định nghiêm cấm lợi dụng việc thành lập và tổ chức các hoạt động của quỹ để thực hiện các hành vi sau:

Làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia,

an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc; Xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục, truyền thống, bản sắc dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; Tư lợi, gian dối

về tài chính trong quá trình thành lập quỹ và quỹ hoạt động; Rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật; Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp giấy phép thành lập quỹ dưới bất kỳ hình thức nào; Sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng hoặc hỗ trợ tài sản được ngân sách nhà nước giao hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để tham gia góp tài sản thành lập quỹ

Nghị định này có hiệu lực kể

từ ngày 15/01/2020 và thay thế Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ

về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện

Trang 4

HƯỚNG DẪN VỀ ĐIỀU KIỆN THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN

Tha tù trước thời

hạn có điều kiện

là biện pháp được

Tòa án áp dụng

đối với người đang

chấp hành án phạt

tù khi có đủ các

điều kiện theo quy

định của Bộ luật

Hình sự, xét thấy

không cần buộc họ

phải tiếp tục chấp

hành án phạt tù tại

cơ sở giam giữ.

Điều 66 Bộ luật Hình

sự năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) quy

định: Người đang chấp

hành án phạt tù về tội

phạm nghiêm trọng, tội

phạm rất nghiêm trọng

hoặc tội phạm đặc biệt

nghiêm trọng mà đã được

giảm thời hạn chấp hành

án phạt tù hoặc người

đang chấp hành án phạt

tù về tội phạm ít nghiêm

trọng có thể được tha tù

trước thời hạn khi có đủ

các điều kiện sau đây:

- Phạm tội lần đầu;

- Có nhiều tiến bộ, có

ý thức cải tạo tốt;

- Có nơi cư trú rõ

ràng;

- Đã chấp hành xong

hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

- Đã chấp hành được

ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt

tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn

Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được

ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt

tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

- Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này

Để hướng dẫn chi tiết quy định trên, ngày 24/04/2018 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2018/

NQ-HĐTP hướng dẫn

áp dụng Điều 66 và Điều

106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tha

tù trước thời hạn có điều kiện Cụ thể:

Tại Điều 2 Nghị quyết

số 01/2018/NQ-HĐTP, điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nếu không thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), gồm các điều kiện như sau:

Thứ nhất, đã được giảm thời hạn chấp hành

án phạt tù

Thứ hai, trường hợp phạm tội lần đầu Được coi là phạm tội lần đầu

và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Trước đó chưa phạm tội lần nào;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội

nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

- Trước đó đã bị kết

án nhưng thuộc trường hợp được coi là không

có án tích

Thứ ba, về quy định

có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện

ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, cụ thể như sau:

- Người đang chấp hành án phạt tù chung thân đã được giảm xuống

tù có thời hạn phải có ít nhất 20 quý liên tục liền

kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 20 năm đến 30 năm phải có

ít nhất 16 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên

- Người đang chấp

Dương Lam

Trang 5

hành án phạt tù trên 15

năm đến 20 năm phải có

ít nhất 12 quý liên tục

liền kề thời điểm xét, đề

nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện được xếp

loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên

- Người đang chấp

hành án phạt tù trên 10

năm đến 15 năm phải có

ít nhất 08 quý liên tục

liền kề thời điểm xét, đề

nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện được xếp

loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên

- Người đang chấp

hành án phạt tù trên 05

năm đến 10 năm phải có

ít nhất 06 quý liên tục

liền kề thời điểm xét, đề

nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện được xếp

loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên

- Người đang chấp

hành án phạt tù trên 03

năm đến 05 năm phải có

ít nhất 04 quý liên tục

liền kề thời điểm xét, đề

nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện được xếp

loại chấp hành án phạt tù

từ khá trở lên

- Người đang chấp

hành án phạt tù từ 03

năm trở xuống phải có ít

nhất 02 quý liên tục liền

kề thời điểm xét, đề nghị

tha tù trước thời hạn có

điều kiện được xếp loại

chấp hành án phạt tù từ

khá trở lên

Thứ tư, có nơi cư trú

rõ ràng: Nơi cư trú là nơi

tạm trú hoặc thường trú

theo quy định của Luật

Cư trú mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được tha tù Nơi cư trú rõ ràng là nơi cư trú

có địa chỉ được xác định

cụ thể

Thứ năm, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền,

án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và án phí

là đã nộp đầy đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp

án phí của Tòa án

- Đã chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một trong các trường hợp: Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận

Thứ sáu, đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp

bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn

- Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ hoặc thời gian người đó bị bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án, không kể thời gian được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ

và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù Thời gian đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (nếu có) được tính để trừ vào phần thời hạn chấp hành

án phạt tù còn lại

- Trường hợp người đang chấp hành án phạt

tù là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ

70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc

ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt

tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn

Người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng được xác định theo quy định của pháp luật

về ưu đãi người có công

với cách mạng

Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo quy định của pháp luật về người khuyết tật

Việc xác định người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật Đối với người dưới

18 tuổi đang chấp hành

án phạt tù, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi có đủ các điều kiện sau đây: Phạm tội lần đầu; Có nhiều tiến

bộ, có ý thức cải tạo tốt;

Có nơi cư trú rõ ràng;

Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù Tha tù trước thời hạn

có điều kiện là quy định mang tính nhân đạo của Nhà nước, thể hiện việc Nhà nước ta luôn quan tâm và tạo điều kiện để người phạm tội có thể sớm tái hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, khi xét tha tù trước thời hạn

có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ

để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội

Trang 6

Thứ nhất, đăng ký thế chấp trong

trường hợp có sự thay đổi thông

tin về bên thế chấp, tài sản thế

chấp

Theo đó, người yêu cầu đăng ký thực hiện đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi trước khi thực hiện việc đăng ký thế chấp trong

02 trường hợp sau:

Trường hợp 01, thông tin về số hiệu thửa đất, diện tích thửa đất không phù hợp với thông tin trên Giấy chứng nhận do đồn điền đổi thửa, đo đạc, xác định lại diện tích, kích thước thửa đất

Trường hợp 02, thông tin về tài sản gắn liền với đất đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận gồm: Loại nhà, tên tòa nhà, số tầng, diện tích xây dựng, diện tích sử dụng không phù hợp với thông tin trên Giấy chứng nhận do đo đạc, xác định lại diện tích, do xây dựng, sửa chữa

Đối với trường hợp thay đổi thông tin về bên thế chấp trên Giấy chứng nhận; thay đổi thông tin về đơn vị hành chính hoặc thông tin khác liên quan đến tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do có quyết định, văn bản của cơ quan

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì Văn phòng đăng ký đất đai có thể thực hiện đồng thời thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi với thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Thứ hai, ghi nội dung đăng ký

thế chấp trong trường hợp tài sản

gắn liền với đất hình thành trong tương lai đã hình thành và được chứng nhận quyền sở hữu trong

02 trường hợp sau:

Trường hợp 01, đăng ký thay đổi nội dung thế chấp do tài sản gắn liền với đất là tài sản hình thành trong tương lai đã hình thành và bên thế chấp đề nghị chứng nhận quyền sở hữu tài sản vào Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng

ký đất đai ghi vào Sổ địa chính, Giấy chứng nhận thông tin xác định cụ thể tài sản gắn liền với đất đã hình thành được chứng nhận quyền sở hữu tiếp tục được dùng thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho bên nhận thế chấp

Trường hợp 02, chủ đầu tư thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua tài sản hoặc người mua tài sản thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận mà tài sản đó đang được thế chấp dưới dạng tài sản hình thành trong tương lai mà bên thế chấp, bên nhận thế chấp chưa xóa đăng ký sau khi Giấy chứng nhận được cấp thì Văn phòng đăng ký đất đai ghi vào

Sổ địa chính, Giấy chứng nhận thông tin xác định cụ thể tài sản gắn liền với đất đã hình thành tiếp tục được dùng thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho bên nhận thế chấp

Thứ ba, Văn phòng đăng ký đất

đai có thể từ chối việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong 02 trường hợp sau:

Trường hợp 01: Thông tin trong

THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐĂNG KÝ

THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Bùi Ngân

Ngày 25 tháng 11 năm 2019,

Bộ Tư pháp ban hành

Thông tư số 07/2019/TT-BTP về

việc hướng dẫn một số nội dung

về đăng ký thế chấp quyền sử

dụng đất, tài sản gắn liền với

đất Thông tư này áp dụng cho

các đối tượng bao gồm: Cá nhân,

pháp nhân có yêu cầu đăng ký

thế chấp quyền sử dụng đất,

tài sản gắn liền với đất; Hộ gia

đình là người sử dụng đất có

yêu cầu đăng ký thế chấp quyền

sử dụng đất, tài sản gắn liền

với đất theo quy định của Luật

Đất đai, Bộ luật Dân sự; Chi

nhánh Văn phòng đăng ký đất

đai và Văn phòng đăng ký đất

đai trực thuộc Sở Tài nguyên và

Môi trường (sau đây gọi chung

là Văn phòng đăng ký đất đai);

Chủ thể khác có yêu cầu đăng

ký hoặc có quyền, nghĩa vụ liên

quan đến việc đăng ký thế chấp

quyền sử dụng đất, tài sản gắn

liền với đất theo quy định của

Luật Thi hành án dân sự, Luật

Phá sản hoặc luật khác có liên

quan Trong đó, quy định một số

nội dung chủ yếu như sau:

Trang 7

hồ sơ đăng ký không phù

hợp với thông tin được

lưu trữ, cụ thể: Thông tin

về bên thế chấp, tài sản

thế chấp được kê khai

trong hợp đồng thế chấp

không phù hợp với thông

tin trên Giấy chứng nhận;

Thông tin về bên thế chấp,

tài sản thế chấp được kê

khai trong Phiếu yêu cầu

không phù hợp với thông

tin trên Giấy chứng nhận,

trừ trường hợp đã khắc

phục được thông tin sai

trên Phiếu yêu cầu

Trường hợp 02: Chấp

hành viên của cơ quan

thi hành án dân sự, Thừa

phát lại của Văn phòng

thừa phát lại có văn bản

yêu cầu dừng, tạm dừng

việc đăng ký thế chấp

Văn phòng đăng ký đất

đai có quyền yêu cầu cá

nhân, cơ quan có thẩm

quyền tố tụng, yêu cầu

dừng, tạm dừng việc đăng

ký thế chấp xác định rõ

thẩm quyền, các trường

hợp dừng, tạm dừng đăng

ký được áp dụng

Thông tư số

07/2019/TT-BTP có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 10 tháng 01

năm 2020 Thông tư này

thay thế cho Thông tư liên

tịch số

09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23

tháng 6 năm 2016 của Bộ

trưởng Bộ Tư pháp, Bộ

trưởng Bộ Tài nguyên và

Môi trường hướng dẫn

việc đăng ký thế chấp

quyền sử dụng đất, tài sản

gắn liền với đất

Quy định truy xuất nguồn gốc sản phẩm,

thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế

Ngày 30 tháng 8 năm 2019,

Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 25/2019/TT-BYT quy định về việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y

tế Thông tư số 25/2019/TT-BYT quy định về nguyên tắc, trường hợp truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm, các vi chất

bổ sung vào thực phẩm, phụ gia, hương liệu, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2 tháng 2 năm 2018 của Chính phủ

Theo đó, Thông tư này quy định các trường hợp truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm không bảo đảm an toàn gồm:

Cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm phải thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm không bảo đảm an toàn ngay khi tự phát hiện hoặc nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức,

cá nhân về sản phẩm thực phẩm không bảo đảm an toàn của cơ sở

Cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm phải thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm không bảo đảm an toàn khi có

yêu cầu của cơ quan chức năng có thẩm quyền

Bên cạnh đó, nguyên tắc truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm cũng được quy định như sau:

Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm theo nguyên tắc một bước trước - một bước sau, bảo đảm theo dõi và nhận diện được công đoạn sản xuất trước và công đoạn sản xuất sau trong cơ

sở sản xuất; cơ sở sản xuất, kinh doanh trước và cơ sở sản xuất, kinh doanh sau đã sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm

Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm được thực hiện theo lô sản xuất đối với sản phẩm thực phẩm cần truy xuất

Khi thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm không bảo đảm an toàn, cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm

sử dụng thông tin được trích xuất

từ hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm do cơ sở thiết lập theo quy định tại các Điều 4

và Điều 5 của Thông tư này và các nguồn thông tin khác có liên quan

Thông tư số 25/2019/TT-BYT

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 10 năm 2019

Bùi Ngân

Trang 8

VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI

TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Song Vũ

Từ khi con người

sinh sống thành

cộng đồng thì

các mối quan hệ giữa

con người với con

người, giữa con người

với cộng đồng được

hình thành và phát triển

ngày càng phức tạp và

phong phú hơn Trong

quá trình phát sinh và

phát triển các mối quan

hệ xã hội này, làm nảy

sinh các vấn đề xã hội

cần được quan tâm giải

quyết Để giải quyết

những vấn đề xã hội,

một trong những nhiệm

vụ cơ bản của một quốc

gia là phải xây dựng

những chính sách xã

hội nói chung, chính

sách về an sinh xã hội

(ASXH) nói riêng

Cuối năm, với người

Việt Nam đó là truyền

thống sum vầy, chia

sẻ Để mỗi người có

cái Tết ấm áp, đầy đủ,

Nhà nước và cộng đồng

đã thực hiện nhiều giải

pháp, nhiều hành động

cụ thể để làm sao mang

đến cái Tết thật sự ý

nghĩa với mọi người,

như tặng quà người

khó khăn, chuyến xe

cho công nhân xa quê

được về nhà ăn tết, tặng

áo lạnh cho người già,

cho bà con vùng cao, thăm hỏi gia đình chính sách…

Đó cũng chỉ là một phần trong chính sách ASXH

ở nước ta Sâu xa hơn, chăm lo ASXH phải là các quy định cụ thể của pháp luật trong từng lĩnh vực, như là bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động;

trợ giúp xã hội đối với mọi thành viên của xã hội khi họ gặp phải rủi ro; chăm sóc sức khỏe

và các chương trình

bảo hiểm y tế… Trong các nội dung này của ASXH, thực hiện pháp luật về BHXH là vấn

đề lớn nhất, cơ bản và

ổn định nhất của chính sách ASXH ở nước ta

Bởi lẽ BHXH có đối tượng rất lớn là toàn bộ người lao động, đó là những người tạo ra của cải vật chất cơ bản cho

xã hội

Luật BHXH đã được thông qua năm 2014

Theo đó, nguồn tài chính của BHXH được hình thành và sử dụng thông qua quỹ BHXH

Quỹ BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành và tích lũy dần từ sự đóng góp

theo luật định của các bên tham gia BHXH

BHXH càng hoạt động tốt, quỹ này càng ngày càng phát triển, góp phần rất to lớn vào việc

ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền ASXH quốc gia Cùng với các bộ phận khác, BHXH góp phần tích cực tạo ra mạng lưới an toàn xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư Điều này

cho thấy chính sách BHXH có vai trò to lớn trong hệ thống ASXH nói riêng và hệ thống chính sách xã hội nói chung của quốc gia

Trong nền kinh tế mở cửa và cạnh tranh như hiện nay, con người có nguy cơ gặp phải rủi

ro, bất lợi cao trong đời sống xã hội, làm cho con người luôn

có nhu cầu về ASXH càng cao Người lao động làm việc trên cơ

sở hợp đồng lao động,

họ được trả công lao động trên cơ sở giá cả của thị trường và trên

cơ sở thỏa thuận Việc cam kết bảo đảm cho người lao động về tiền

lương khi làm việc và bảo đảm trả cho những rủi ro được thực hiện trên cơ sở hợp đồng Đây là nền tảng của BHXH hiện đại, bởi BHXH trong nền kinh

tế thị trường tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua bên thứ ba,

tổ chức BHXH Về mặt tài chính, mối quan hệ này thể hiện ở sự đóng

góp có tính chất bắt buộc (đóng phí BHXH) của người sử dụng lao động và người lao động

để hình thành và phát triển quỹ BHXH Quỹ BHXH được dùng chủ yếu cho các đối tượng thụ hưởng BHXH Song song với BHXH, trong hệ thống ASXH còn có các bộ phận khác do các quỹ công cộng hoặc cộng đồng đảm nhận như trợ giúp

xã hội, trợ cấp gia đình, các dịch vụ khác được cung cấp bởi ngân sách Nhà nước hoặc của cộng đồng Mặc

dù những quỹ này có tính xã hội nhiều hơn, nhưng chỉ có thể phát

Trang 9

huy được trong điều

kiện pháp luật điều

chỉnh đầy đủ và dưới sự

tập trung quản lý chung

của Nhà nước

Thực tế các hoạt động

mang tính ASXH ở

nước ta đã được thực

hiện trong dân từ khá

lâu Những câu thành

ngữ “áo lành đùm áo

rách”, “thương người

như thể thương thân”,

“bầu ơi thương lấy bí

cùng”…, đã thể hiện

tính cộng đồng ở nước

ta và đã góp phần điều

chỉnh các hành vi trong

xã hội về các hoạt động

mang nội dung ASXH,

dần dần đã được Nhà

nước xây dựng thành

các chính sách về

ASXH

Bộ phận quan trọng

khác trong hệ thống

ASXH ở Việt Nam đó

là các hoạt động cứu

trợ, trợ giúp xã hội

Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nên

lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi và năm nào cũng xảy ra làm một bộ phận dân cư lâm vào tình cảnh túng quẫn đã hình thành một bộ phận người dân cần được cứu trợ hay trợ giúp

xã hội Nếu như việc cứu trợ, trợ giúp này trước đây chủ yếu do Nhà nước thực hiện với những “định mức” cả

về tiền và hiện vật rất mang tính bình quân, thì hiện nay, các hoạt động này đã được “xã hội hóa”, đa dạng hơn

Nguồn lực cho cứu trợ, trợ giúp xã hội đã được

đa dạng hóa từ Nhà nước, người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội từ thiện và

kể cả nguồn lực quốc

tế Điều cơ bản nhất,

đó là Nhà nước đã tạo

ra “hành lang pháp lý”

và tạo điều kiện hết sức thuận lợi để phát huy các nguồn lực này nhằm

hỗ trợ cho những người không may bị thiệt thòi

có cơ hội vươn lên hòa nhập với cộng đồng

Nhà nước vẫn giữ vai trò rất lớn trong các hoạt động cứu trợ, trợ giúp xã hội này thông qua việc xây dựng cơ chế chính sách và định hướng hoạt động

Dịp cuối năm cũng

là lúc các hoạt động trợ giúp xã hội diễn

ra nhộn nhịp nhất, không chỉ các cơ quan Nhà nước mà cả cộng đồng, các doanh nghiệp cùng chung tay thực hiện Điều đó cho thấy ASXH ở Việt Nam còn được thực hiện phù

hợp môi trường văn hóa truyền thống, đã đem lại cho nền ASXH

ở nước ta một sắc thái riêng mà không phải nơi nào cũng có được Trong sự phát triển đó pháp luật về ASXH ở nước ta có những đóng góp quan trọng Bằng những biện pháp của mình, pháp luật ASXH tạo ra hành lang pháp

lý an toàn nhằm bảo

vệ cho mọi thành viên trong cộng đồng được bảo đảm quyền và lợi ích Pháp luật về ASXH ngày càng thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân

ta đã và đang phấn đấu xây dựng, đó là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Trang 10

“Tôi nghe trên báo đài Nhà

nước mình mới ban hành Luật

Tiếp cận thông tin, được biết

công dân có quyền tiếp cận

thông tin nhưng chưa rõ về

những thông tin nào người dân

được tiếp cận và những thông

tin không được tiếp cận?”

TRẢ LỜI:

Theo Điều 5,6,7 Luật Tiếp cận

thông tin năm 2016 (có hiệu

lực từ ngày 01/7/2018), công

dân được tiếp cận thông tin của

cơ quan nhà nước, trừ thông tin

không được tiếp cận quy định tại

Điều 6 của Luật Tiếp cận thông

tin; được tiếp cận có điều kiện đối

với thông tin quy định tại Điều 7

của Luật Tiếp cận thông tin

Thông tin công dân không được

tiếp cận bao gồm:

- Thông tin thuộc bí mật nhà

nước, bao gồm những thông tin

có nội dung quan trọng thuộc

lĩnh vực chính trị, quốc phòng,

an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh

tế, khoa học, công nghệ và các

lĩnh vực khác theo quy định của

luật

Khi thông tin thuộc bí mật nhà

nước được giải mật thì công dân

được tiếp cận theo quy định của

Luật tiếp cận thông tin

- Thông tin mà nếu để tiếp cận

sẽ gây nguy hại đến lợi ích của

Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến

quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn

xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin

về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ

Các thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện bao gồm:

- Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý

- Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý

- Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan nhà nước quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng

tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong trường hợp cần thiết

vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không cần

có sự đồng ý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin

HỎI:

“Tôi cho người ta mượn tiền nhưng người đó không trả, tôi kiện ra tòa Bản án buộc bên kia phải trả cho tôi 100 triệu đồng

Tôi yêu cầu cơ quan thi hành

án cưỡng chế bên kia trả nợ cho tôi, trong quyết định của cơ quan thi hành án tôi thấy cho bên kia 10 ngày tự nguyên thi hành Trước giờ ông ấy không

tự nguyện trả tiền nên tôi mới yêu cầu cơ quan thi hành án, giờ họ lại cho bên kia thời gian

tự nguyện nữa đúng không?”

TRẢ LỜI:

Theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định thời hạn tự nguyện thi hành

án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên thì việc cơ quan thi hành

án ra quyết định có nội dung cho bên thi hành án thời hạn 10 ngày

tự nguyện thi hành là đúng pháp luật Hết thời hạn trên mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì mới bị cưỡng chế thi hành án

HỎI:

“Con tôi do phạm tội nên đang

bị tạm giam, pháp luật có cho phép người bị tạm giữ, tạm giam gửi thư về nhà hoặc nhận quà, đồ ăn, thư từ của người thân không?”

TRẢ LỜI:

Việc nhận quà, đồ ăn, thư từ, báo chí của người đang bị tạm giam, tạm giữ được quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 như sau:

- Người bị tạm giữ được nhận

Ngày đăng: 12/04/2022, 18:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w