498 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Bến Tre, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
TRONG VIỆC THÚC ĐẨY KINH TẾ PHÁT TRIỂN 5-21
1.1 Tín dụng ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 5-8
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM 8-13
1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với tín dụng ngân hàng trong việc góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế 13-14
1.3 Tác động của tín dụng ngân hàng trong thúc đẩy kinh tế phát triển.
14-16
1.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu vốn cho phát triển kết
1.3.2 Tín dụng ngân hàng đáp ứng yêu cầu vốn cho chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá 15
1.3.3 Tín dụng ngân hàng đáp ứng yêu cầu vốn cho ứng dụng tiến bộ khoa
học-công nghệ nhằm phát triển sản xuất kinh doanh 15-16
1.4 Chất lượng và hiệu quả tín dụng 16-21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NHCT BẾN TRE TRONG THỜI GIAN
2.2.1 Giới thiệu sơ nét về chi nhánh NHCT tỉnh Bến Tre 27-28
2.2.3 Tình hình đầu tư tín dụng phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội
2.3 Đánh giá chất lượng và hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh
NHCT Bến Tre 31-34
Trang 22.4 Những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong họat động tín
dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre thời gian tới 35-39
CHƯƠNG III: GỈAI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NHCT TỈNH BẾN TRE, GÓP
PHẦN THÚC ĐẨY KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG PHÁT TRIỂN 40-64
3.1 Định hướng phát huy vai trò tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bến Tre 40-48
3.1.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre giai đoạn
2006-2010 40-43
3.1.2 Mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động tín dụng của hệ thống NHCT
3.1.3 Mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động tín dụng của chi nhánh
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng của
3.2.1 Giải pháp của các cơ quan quản lý Nhà nước 48-56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngân hàng là một lọai hình tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của xã hội, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Sự họat động hiệu quả của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự hưng thịnh của nền kinh tế Trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân hàng đã có những thay đổi quan trọng, thể hiện ở chỗ các giao dịch quốc tế chiếm một phần ngày càng lớn trong họat động của các ngân hàng Họat động ngân hàng đang không ngừng phát triển trên tất cả các phương diện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới cho tới sự xuất hiện của các tập đòan ngân hàng có quy mô tòan cầu Hệ thống ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại đã từng bước xóa bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thời gian
Trong những năm qua hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và NHCT Việt Nam nói riêng-trong đó có chi nhánh NHCT tỉnh Bến Tre-đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế đất nước Để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế nước ta nói chung và Bến Tre nói riêng theo hướng CNH-HĐH, cần phải có nhiều nguồn lực tác động, trong đó tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn lực quan trọng, là kênh dẫn vốn linh họat và hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển
Thời gian qua, họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre luôn đảm bảo mục tiêu: phát triển an tòan và hiệu quả, đã có những đóng góp đáng kể trong việc cung ứng vốn cho công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre Họat động tín dụng trong thời gian tới vẫn đóng vai trò chủ lực trong họat động kinh doanh của NHCT Việt Nam nói chung và chi nhánh NHCT Bến Tre nói riêng Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, đăïc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực,
Trang 4những tác động của thị trừơng trở nên đa dạng và phức tạp hơn đã làm nảy sinh nhiều khó khăn và hình thái rủi ro mới đối với mọi chủ thể kinh tế, đặc biệt là đối với các NHTM Trong nội dung đàm phán gia nhập WTO giữa Việt Nam và Mỹ về lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam cho phép các ngân hàng nước ngòai nắm giữ cổ phần tối đa là 49%; các ngân hàng nước ngòai sẽ được phép thành lập các chi nhánh 100% vốn nước ngòai tại Việt Nam và được hưởng chế độ đối xử không phân biệt (chế độ đãi ngộ quốc gia) ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO Điều này sẽ đặt các ngân hàng trong nước vào thế cạnh tranh trên bình diện quốc tế Riêng tại Bến Tre, cầu Rạch Miễu sẽ hòan thành việc xây dựng vào khỏang đầu năm 2008 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư từ nhiều kênh khác nhau để tăng tốc phát triển kinh tế địa phương Tất cả những vấn đề này sẽ mở ra cho các NHTM trên địa bàn tỉnh Bến Tre thêm nhiều thời cơ thuận lợi nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít khó khăn, thách thức trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong họat động, giữ vững và phát triển thị phần của mình do áp lực cạnh tranh rất lớn Do đó, việc nghiên cứu đề ra các giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre là một nhu cầu cấp bách nhằm đảm bảo cho họat động kinh doanh tiền tệ-tín dụng của chi nhánh trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển an tòan-hiệu quả, đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn cho nền kinh tế địa phương
Vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng và hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng công thương tỉnh Bến Tre, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn có mục đích nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về vai trò của họat động tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển, các yếu tố ảnh hưởng đến họat động tín dụng của ngân hàng, những rủi ro và nguyên nhân rủi
Trang 5ro của tín dụng ngân hàng, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp khả thi và những điều kiện đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre, nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, góp phần tích cực thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội địa phương trong giai đọan 2005-2010
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Tham khảo các giáo trình giảng dạy, tài liệu, tạp chí, các văn bản pháp luật của Việt Nam …có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Thu thập số liệu thống kê từ các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết họat động của chi nhánh NHCT Bến Tre từ năm 2003 đến năm 2005
- Aùp dụng phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối, dùng lý luận để phân tích, đánh giá thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các lý thuyết kinh tế học hiện đại cùng với những tư tưởng và quan điểm đổi mới của Nhà nước Việt Nam về ngân hàng; những quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về họat động tín dụng ngân hàng; thực trạng công tác tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre trong 03 năm gần đây (2003-2005)
5 Những đóng góp của luận văn:
Luận văn thể hiện một cách tiếp cận mới để khái quát, hệ thống hóa những căn cứ lý luận, thực tiễn về vai trò, tác động của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế quốc dân nói chung và kinh tế địa phương nói riêng
Luận văn nêu ra những quan điểm, phương hướng xác thực và đề xuất những giải pháp có tính khả thi, với những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất
lượng, hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre, nâng cao năng
lực cạnh tranh để phát triển bền vững trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 61.1.1.Khái niệm về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa Khái niệm tín dụng nói
chung có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh: Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín
nhiệm Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hòan trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyểûn nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền tệ hay hiện vật), là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi (mang tính thỏa thuận) Chủ thể tham gia trong giao dịch tín dụng gồm một bên là ngừơi cho vay (trái chủ) và một bên là người đi vay (người thụ trái)
Tín dụng có nhiều hình thức khác nhau Nếu phân lọai tín dụng theo tính chất hoặc chủ thể trong quan hệ tín dụng ta có: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng Nếu phân lọai tín dụng theo phạm vi phát sinh tác dụng ta có: tín dụng trong nước, tín dụng quốc tế Nếu phân lọai tín dụng theo nội dung, thực chất, đặc điểm và phạm vi phát sinh của nguồn vốn tín dụng ta có: tín dụng hàng hóa, tín dụng tiền tệ…
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong cho vay và đi vay giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác; là một nghiệp vụ tài sản Có của ngân hàng, được thực hiện theo nguyên tắc :
• Vốn vay phải được hòan trả cả vốn gốc và lãi đúng hạn cam kết
Trang 7• Vốn vay phải đựơc sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa-tiền tệ; trải qua một quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp về kỹ thuật nghiệp vụ, về hình thức; từ phạm vi hẹp
đến phạm vi rộng lớn về không gian
Họat động tín dụng ngân hàng có ba chức năng cơ bản là:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên nguyên tắc có hòan trả Chức năng này xuất phát từ hai nghiệp vụ cơ bản: huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và cho vay đối với những nhu cầu vốn đang tạm thời thiếu hụt Chức năng này có tác dụng làm tăng tốc độ chu chuyển vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn trong phạm
vi tòan xã hội
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội Họat động tín dụng tạo điều kiện cho sự ra đời các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gởi ; các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ ATM, thẻ tín dụng, …cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành, nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền và giảm rủi ro về tiền giả Với sự họat động của tín dụng ngân hàng đã mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khỏan và giao dịch thanh tóan thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khỏan hoặc thanh toán bù trừ cho nhau
- Chức năng phản ánh và kiểm sóat các họat động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân, xuất phát từ nguyên tắc vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích Ngân hàng kiểm sóat được quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, còn người đi vay bắt buộc phải quan tâm đến việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả để hòan trả nợ và lãi cho ngân hàng Với chức năng này, tín dụng ngân hàng góp phần ngăn chận các hiện tượng tiêu cực
Trang 8như lãng phí, vi phạm pháp luật trong quá trình sử dụng vốn vay của các chủ thể vay vốn
Tín dụng ngân hàng có các hình thức cơ bản sau:
- Nếu phân chia theo thời hạn cho vay ta có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn Sự phân chia này có tính chất tương đối, mỗi nước có một quy định về thời gian của từng lọai tín dụng Ở Việt Nam, tín dụng ngắn hạn có thời hạn cho vay tối đa đến 12 tháng, trung hạn là trên 12 tháng đến 60 tháng, dài hạn là trên 60 tháng
- Nếu phân chia theo mục đích sử dụng vốn ta có cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng…
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng ta có cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
- Nếu phân chia theo lọai hình, kỹ thuật nghiệp vụ cho vay-thu nợ ta có: cho vay thông thường, cho vay luân chuyển theo hạn mức, thấu chi, cho vay hợp vốn, tài trợ theo dự án, bao thanh tóan, cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu các chứng từ có giá…
Theo đà phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức của tín dụng ngân hàng ngày càng phong phú và hiện đại, vai trò của tín dụng ngân hàng ngày một tăng lên Ở nước ta thời gian qua cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi cơ bản tính chất và vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng không còn là kênh dẫn vốn của Chính phủ phục vụ các DNNN mà là công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau Môi trường và điều kiện hoạt động của tín dụng ngân hàng cũng thay đổi:
Trang 9- Vai trò của Ngân hàng đã trở về đúng chức năng của nó – trung gian tài chính Phương châm “đi vay để cho vay” đã được xác lập, nguồn vốn vay của NHNN bị hạn chế
- Đối tượng được vay vốn của NHTM không còn giới hạn ở các DNNN mà được mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế khác Hơn nữa trong cơ chế quản lý mới, hoạt động của các DNNN cũng có những bước thay đổi cơ bản: mọi ưu đãi và bao cấp của Nhà nước đã bị xoá bỏ, quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính được xác lập
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến họat động tín dụng của NHTM:
Họat động tín dụng NHTM chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản sau:
1.1.2.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên: Các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
như vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, tài nguyên thiên nhiên, tình trạng dân số (nguồn nhân lực)…có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế và tín dụng ngân hàng Nếu một nước hay một tỉnh nằm trong vùng lạc hậu, chậm phát triển, vị trí địa lý xa xôi, cách trở với các nước/các tỉnh khác, giao thông- liên lạc không thuận tiện thì việc phát triển kinh tế vô cùng khó khăn Từ đó họat động tín dụng ngân hàng cũng không có môi trừơng thuận lợi để phát triển
1.1.2.2 Yếu tố về môi trường kinh tế trong nước: môi trường kinh tế bị chi phối bởi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước (ở các quốc gia có sự tham gia điều tiết kinh tế của Nhà nước-cơ chế bàn tay hữu hình), hay bị chi phối bởi các quy luật của thị trường như quy luật cung-cầu (cơ chế bàn tay vô hình không có sự điều tiết của Nhà nước), hoặc bị chi phối bởi cả chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước và các quy luật của thị trường (kết hợp bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình) Với chính sách phát triển kinh tế đúng đắn sẽ cho phép khai thác được các tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực của đất nước, tranh thủ được các cơ hội do môi trường hòa nhập kinh tế quốc tế mang lại đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và
Trang 10bền vững Như vậy, nếu môi trường kinh tế tạo được điều kiện thuận lợi cho họat động của tất cả các thành phần kinh tế thì họat động tín dụng ngân hàng cũng sẽ tăng trưởng an tòan và hiệu quả Trình độ phát triển kinh tế của một nước hay một địa phương quyết định cả cung và cầu về tín dụng ngân hàng Nghiên cứu về thị trường vốn sẽ thể hiện rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của trình độ phát triển kinh tế đến họat động tín dụng ngân hàng Chẳng hạn, nếu như nền kinh tế của Bến Tre phát triển mạnh thì tích lũy sẽ lớn, tạo nguồn vốn cho tín dụng ngân hàng; đồng thời sản xuất kinh doanh phát triển sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu đầu tư cần cả vốn cố định lẫn vốn lưu động, nghĩa là tạo ra “cầu về tín dụng” với những dự án khả thi
1.1.2.3 Yếu tố về môi trường điều kiện quốc tế: họat động tín dụng ngân hàng không chỉ chịu tác động của yếu tố môi trường kinh tế trong nước mà còn chịu tác động của những yếu tố môi trường, điều kiện quốc tế, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới Họat động tín dụng ngân hàng đặc biệt nhạy cảm với những biến động chính trị-kinh tế-xã hội xảy ra trên phạm vi quốc tế do ảnh hưởng dây chuyền giữa các nước Họat động của các ngân hàng luôn phải đối diện với nguy cơ xảy ra những cú sốc từ bên trong (như sự thay đổi không mong muốn về cầu tiền, đầu tư và tiết kiệm trong dân chúng) cũng như những cú sốc từ bên ngòai (như khủng hỏang kinh tế, chiến tranh…)
Sự hội nhập với khu vực và quốc tế đã mang lại cho các ngân hàng Việt Nam cơ hội hợp tác quốc tế và tiếp cận với các nguồn vốn đa dạng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho nền kinh tế (đặc biệt là nguồn vốn dài hạn), có điều kiện tranh thủ công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và đào tạo đội ngũ cán bộ; đồng thời các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn về vấn đề phòng ngừa, hạn chế rủi ro và cạnh tranh
1.1.2.4 Yếu tố trình độ quản lý, điều tiết vĩ mô và quản lý họat động tín
dụng ngân hàng của Nhà nước: Hiệu quả-an tòan-bền vững luôn là mục tiêu chính
Trang 11của mỗi định chế tài chính Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra là cần phải có một hệ thống giám sát tài chính-ngân hàng hữu hiệu Đây cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng tài chính quốc tế nói chung và hệ thống ngân hàng-tài chính Việt Nam nói riêng
Những lý do để họat động tín dụng ngân hàng trở thành đối tượng quản lý chính của Chính Phủ là:
• Bảo đảm sự an tòan cho các khỏan tiết kiệm của công chúng
• Kiểm sóat mức cung ứng tiền tệ và tín dụng, phục vụ mục tiêu kinh tế chung của quốc gia (như giải quyết nạn thất nghiệp, kiểm sóat lạm phát)
• Bảo đảm sự bình đẵng và công khai trong việc tiếp cận các khỏan tín dụng của dân chúng
• Tăng cường lòng tin của dân chúng đối với hệ thống tài chính, đảm bảo các khỏan tiết kiệm được tập trung cho đầu tư sản xuất
• Ngăn chận sự tập trung tiềm lực tài chính vào tay một số ít cá nhân hay tổ chức
• Cung cấp cho Chính Phủ các khỏan tín dụng
• Trợ giúp các khu vực của nền kinh tế có nhu cầu tín dụng đặc biệt (như hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và nông nghiệp)
Tuy nhiên, sự quản lý của Chính Phủ phải cân đối và có giới hạn, đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh của các ngân hàng, để các ngân hàng có thể duy trì và phát triển sứùc cạnh tranh trong một thị trường hướng tới cạnh tranh hòan hảo
Thực tiễn nước ta thời gian qua đã chứng minh các nhân tố như đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và trình độ quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ đều có liên quan đến họat động tín dụng ngân hàng Mặt khác, chất lượng và hiệu quả của họat động tín dụng ngân hàng cũng chịu sự tác động từ phía cơ chế thanh tra của NHNN với NHTM Tuy nhiên, theo nhận định chung của
Trang 12các chuyên gia kinh tế thì các chính sách của Việt Nam luôn có độ trễ, chậm phát huy tác dụng
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế họach hóa tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, các cơ chế, chính sách về tiền tệ, ngân hàng và thanh tra, giám sát ngày càng được hòan thiện, phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam cũng như các thông lệ, chuẩn mực quốc tế nhằm tạo môi trường thuận lợi cho ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, đồng thời hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng
1.1.2.5 Yếu tố môi trường pháp lý: kinh doanh tiền tệ nói chung và họat
động tín dụng ngân hàng nói riêng là lọai hình kinh doanh đòi hỏi rất khắt khe về sự hòan thiện môi trường pháp lý
Hành lang pháp lý cho họat động tín dụng ngân hàng không chỉ là những văn bản quy định cụ thể về nghiệp vụ tín dụng mà còn có nhiều văn bản pháp quy khác có liên quan Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, công tác kiểm tra, giám sát thi hành luật kém hiệu quả sẽ là một trở ngại rất lớn đối với họat động tín dụng ngân hàng Ở Việt Nam thời gian qua, họat động tín dụng ngân hàng bị chi phối bởi rất nhiều văn bản luật như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật dân sự, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…, ngòai ra còn phải tuân thủ các quy định của Thống đốc NHNN Việt Nam về cho vay, bảo lãnh ngân hàng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, công tác thông tin phòng ngừa rủi ro, phân lọai nợ và trích lập dự phòng rủi ro…
Trong bối cảnh ngành ngân hàng ngày càng mở cửa, tự do hóa sâu rộng để hội nhập, mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực họat động ngân hàng sẽ trở nên quyết liệt hơn Tuy nhiên, cho đến nay, ngòai những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng được quy định tại điều 16 Luật các tổ chức tín dụng và công văn số 339 ngày 07/4/2004 của NHNN Việt Nam thì Việt Nam vẫn chưa có
Trang 13những quy định khác cụ thể hơn về vấn đề này Trong khi đó, Luật Cạnh tranh và Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh đã có hiệu lực thi hành gần 01 năm, bao gồm rất nhiều quy định về cạnh tranh liên quan đến lĩnh vực ngân hàng Vì vậy, vấn đề cấp bách trước ngưỡng của gia nhập WTO của ngành ngân hàng Việt Nam chính là sớm xây dựng một khung pháp lý cụ thể, đưa ra những hướng dẫn chi tiết hơn các quy định đã được nêu trong Luật Cạnh tranh để quản lý họat động cạnh tranh đang ngày càng tăng, hạn chế tối đa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng nhằm đảm bảo một sân chơi công bằng cho các thành viên thị trường
1.1.2.6 Một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến họat động tín dụng ngân hàng chính là khách hàng Trong họat động tín dụng ngân hàng, khách hàng được coi như người bạn gần gũi, tạo nên môi trường thuận lợi, ổn định để ngân hàng trở thành một trung gian tài chính quan trọng đối với nền kinh tế Đương nhiên, đó phải là những khách hàng “có chất lượng”, thể hiện ở uy tín, đạo đức tốt trong kinh doanh cũng như trong đời sống cá nhân, năng lực SXKD, năng lực tài chính và tiềm năng phát triển của họ bởi vì tất cả những rủi ro từ phía khách hàng đều là rủi ro của ngân hàng Chính vì vậy, hầu như tất cả các NHTM đều xác định
phương châm họat động của mình là “Vì sự thành đạt của khách hàng”
1.1.2.7 Yếu tố nội tại của bản thân NHTM: về phía NHTM cũng phải có
thương hiệu tốt, có uy tín để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đủ cung ứng cho nền kinh tế NHTM phải có chính sách tín dụng phù hợp với môi trừơng kinh doanh từng thời kỳ, có cẩm nang tín dụng được thiết kế khoa học, dễ dàng bổ sung điều chỉnh khi cần thiết, có quy trình quản lý tín dụng chặt chẽ bằng văn bản, có trụ sở khang trang với các thiết bị làm việc hiện đại; phải thay đổi tư duy lạc hậu để có phương pháp quản lý tiên tiến, phù hợp nhằm mở rộng và đa dạng hóa các lọai hình tín dụng Điều quan trọng là NHTM phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, am
Trang 14hiểu chính sách tín dụng và quy trình tín dụng, quy trình huy động vốn; năng lực trình độ cán bộ ngân hàng phải tương thích với trình độ công nghệ
Các yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau, đều có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến họat động tín dụng ngân hàng.
1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với tín dụng ngân hàng trong việc góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế:
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ của một quốc gia là phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng, tạo công ăn việc làm và kiểm soát lạm phát Chính sách tiền tệ của quốc gia phải đảm bảo giữ cho quan hệ cung-cầu về vốn tín dụng đạt được điểm tòan dụng, đảm bảo cho vai trò của tín dụng ngân hàng được phát huy nhằm
kích thích, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, yêu cầu quan trọng có tính bao trùm đối với tín dụng ngân hàng là phát huy mạnh mẽ vai trò cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư, huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, thực hiện tốt phương châm “đi vay để cho vay”, góp phần tạo vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao Các NHTM phải thể hiện được khả năng vượt trội của một định chế trung gian tài chính trong việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trừơng tài chính, tạo ra kinh tế quy mô (Economy of scale) thông qua việc tập trung những khỏan tiết kiệm có quy mô nhỏ của từng cá nhân thành đồng vốn sinh lời, đa dạng hóa các nghiệp vụ sử dụng vốn từ đó phân tán rủûi ro, giảm chi phí giao dịch của xã hội, mang lại lợi ích cho cả ngừơi tiết kiệm lẫn ngừơi đi vay
Về huy động vốn: phải làm cho tín dụng ngân hàng đủ sức khơi trong, hút ngòai Phải khai thác tối đa vốn trong nước, thu hút qua kênh tín dụng ngân hàng bằng nhiều biện pháp và hình thức huy động Cần hòan thiện và phát triển thị trừơng vốn để các NHTM và các doanh nghiệp, dân cư có nơi để mua bán quyền sử dụng vốn Ngành ngân hàng phải tạo được lực hướng tâm của các dòng vốn nước
Trang 15ngòai như FDI, ODA, phát hành trái phiếu vay bên ngòai, bảo lãnh cho các doanh nghiệp thực hiện tín dụng thương mại…
Về cho vay: NHNN phải là đầu mối trong việc tạo lập và phát triển cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm các thành phần như: hệ thống luật pháp và cơ chế quản lý nhà nước, nguồn lực và thông lệ giám sát, cung cấp thông tin, hệ thống thanh tóan và hỗ trợ giao dịch; từ đó hỗ trợ và thúc đẩy sự họat động có hiệu quả của các NHTM, kiểm sóat được khối lượng và chất lượng đầu tư tín dụng, tác động linh họat đến lãi suất nhưng đảm bảo tuân thủ các quy luật trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn
1.3 Tác động của tín dụng ngân hàng trong thúc đẩy kinh tế phát triển:
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng Họat động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực mà ngân hàng đó họat động, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo sức sống cho nền kinh tế Đối với nước ta, tác động của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển thể hiện trên các khía cạnh sau:
1.3.1.Tín dụng ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế:
Vốn cho việc xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng theo yêu cầu công nghiệp hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì kết cấu hạ tầng yếu kém sẽ gây nhiều trở ngại cho công cuộc CNH-HĐH đất nước Do đó cần phải có một lượng vốn đáng kể để cải tạo, mở rộng, nâng cấp kết cấu hạ tầng đã có, đồng thời xây dựng mới ở những khâu ách tắc nhất đang cản trở sự phát triển
Trong thời gian qua, kinh tế khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói Bến Tre nói riêng- phát triển không tương xứng với tiềm năng; trong đó có nguyên nhân là do kết cấu hạ tầng kém phát triển Nếu phát triển kết cấu hạ tầng chỉ chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách thì sẽ không đáp ứng kịp yêu cầu, cần phải có sự
Trang 16chung-tham gia của tín dụng ngân hàng để tạo được khả năng mạnh mẽ về vốn, đủ sức phát triển bứt phá về lĩnh vực này
1.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu vốn cho chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa:
Tín dụng ngân hàng điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư vào các ngành, các doanh nghiệp có tỷ suất sinh lợi cao, làm thay đổi cung- cầu hàng hóa, thay đổi cơ cấu ngành kinh tế Tín dụng ngân hàng là kênh dẫn vốn hiệu quả nhất, đảm bảo yêu cầu sử dụng vốn có hiệu quả, bởi vì tín dụng ngân hàng chỉ cung cấp vốn cho những phương án/dự án có hiệu quả cao, buộc người vay phải năng động, sáng tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để có thể tồn tại và phát triển vững vàng trong môi trường cạnh tranh Thông qua các khỏan cho vay của ngân hàng, thị trường tài chính sẽ có thêm thông tin của từng khách hàng, nhờ đó giúp cho họ có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn khác với chi phí thấp hơn
Đối với chuyển dịch cơ cấu ngành: tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để nông sản trở thành hàng hóa thông qua việc cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn, cho vay chế biến nông phẩm xuất khẩu Trong công nghiệp, tín dụng ngân hàng cho vay phát triển những ngành theo qui mô hợp lý, công nghệ hiện đại Tín dụng ngân hàng thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển nhanh, nhất là những ngành có liên quan đến thu hút đầu tư nước ngòai như hàng không, bưu chính viễn thông…
1.3.3 Tín dụng ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu vốn cho ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm phát triển sản xuất kinh doanh:
Vốn đầu tư cho việc đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đang là nhu cầu rất cấp bách, đặc biệt là đối với một tỉnh nghèo như Bến Tre Vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho việc thay đổi thiết bị công nghệ cũ, lạc hậu và xây dựng những cơ sở mới, hiện đại; từ đó giúp cho các doanh nghiệp đứng vững, phát triển và hội nhập trong môi trường kinh
Trang 17tế hiện đại Nếu việc đầu tư nghiên cứu, sáng chế chủ yếu dựa vào vốn ngân sách nhà nước và vốn của bản thân doanh nghiệp thì vốn cho ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển SXKD cần có sự tham gia tích cực của tín dụng ngân hàng
1.4 Chất lượng và hiệu quả tín dụng:
1.4.1 Chất lượng tín dụng: chất lượng tín dụng được đánh giá bằng các chỉ
tiêu đo lường rủi ro tín dụng
1.4.1.1 RRTD là gì?
Họat động kinh doanh của ngân hàng là họat động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Những rủi ro trong họat động ngân hàng bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khỏan, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đóai, rủi ro thị trường, rủi ro họat động; trong đóù RRTD là lọai rủi ro quan trọng nhất vì nó liên quan đến các lọai rủi ro còn lại
RRTD là rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cho vay của NHTM, đó là khả năng xảy ra tổn thất cho NHTM do người đi vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) đã cam kết với ngân hàng
1.4.1.2 Biểu hiện cụ thể của RRTD là:
• Khách hàng vay không trả nợ hoặc không còn khả năng trả nợ
• Khách hàng vay trả nợ không đầy đủ
• Khách hàng vay trả nợ không đúng hạn
1.4.1.3 Nguyên nhân dẫn đến RRTD:
RRTD bắt nguồn từ hai nhóm nguyên nhân:
• Nhóm nguyên nhân bên ngòai: nguyên nhân phát sinh từ tình hình kinh chính trị-xã hội trong và ngòai nước (suy thóai, khủng hỏang, chiến tranh, thiên tai, hỏa họan ) làm cho khách hàng vay vốn sản xuất kinh doanh thua lỗ, mất vốn, không có khả năng trả nợ; do hệâ thống pháp lý thiếu đồng bộ;
Trang 18tế-do gặp phải khách hàng xấu không có thiện chí trả nợ, cố tình lừa đảo ngân hàng
• Nhóm nguyên nhân bên trong: nguyên nhân từ phía ngân hàng bao gồm những sai sót trong quá trình quản lý, chính sách cho vay không hợp lý, cho vay không tuân thủù đúng nguyên tắc tín dụng, xem xét không kỹ trước khi quyết định cho vay, không nhận biết được các rủi ro có thể xảy ra và không theo dõi, kiểm soát được việc sử dụng vốn vay của khách hàng do cán bộ ngân hàng hạn chế về năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp Ngòai ra rủi ro tín dụng còn bắt nguồn từ những họat động bất hợp pháp do nhân viên tín dụng của ngân hàng cố ý vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng có thể phân định thành hai nhóm là: nhóm nguyên nhân có thể kiểm soát được (nguyên nhân chủ quan) và nhóm nguyên nhân không thể kiểm sóat được (nguyên nhân khách quan, bất khả kháng) Tuy nhiên, việc tách bạch nguyên nhân chủ quan hay khách quan chỉ có ý nghĩa tương đối vì giữa các nguyên nhân này hầu như đều có mối quan hệ nhân quả với nhau Trong thực tế, dù rủi ro xảy ra do nguyên nhân nào thì thiệt hại trước tiên thuộc về bản thân ngân hàng cho vay, cho nên các NHTM cần phải luôn cảnh giác với rủi ro tín dụng trên tinh thần mọi nguyên nhân đều có thể kiểm soát được
1.4.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá RRTD tại Việt Nam: (theo Quy định về phân
lọai nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong họat động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam)
• “Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ” là khỏan nợ mà tổ chức tín dụng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng
• “Nợ quá hạn” là khỏan nợ mà một phần hoặc tòan bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn
Trang 19• Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) gồm các khỏan nợ quá hạn dưới 90 ngày; các khỏan nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ còn trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại
• “Nợ xấu” là các khỏan nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 theo quy dịnh về phân lọai nợ Đó là:
- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) gồm các khỏan nợ quá hạn từ 90 ngày đến
180 ngày; các khỏan nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) gồm các khỏan nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khỏan nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) gồm các khỏan nợ quá hạn trên 360 ngày; các khỏan nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lý; các khỏan nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn 01 khỏan nợ mà có bất kỳ khỏan nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng phải phân lọai tòan bộ các khỏan nợ của khách hàng đó vào nhóm nợ rủi ro cao hơn
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng Tổng dư nợ bao gồm: các khỏan cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khỏan chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; các khỏan bao thanh tóan; các hình thức tín dụng khác Tỷ lệ nợ xấu trên tổng
dư nợ tối đa có thể chấp nhận được là 5%
• Ngòai ra, RRTD còn được đánh giá thông qua chỉ tiêu hệ số RRTD, là tỷ lệ giữa tổng dư nợ và tổng tài sản “Có” của tổ chức tín dụng Nếu hệ số này càng gần bằng 1 thì RRTD càng lớn
1.4.1.5 Hậu quả của RRTD:
Trang 20RRTD không những gây thiệt hại trực tiếp cho ngân hàng cho vay mà còn gây thiệt hại đối với cả nền kinh tế Khi RRTD xuất hiện thì nợ quá hạn gia tăng, nợ khó đòi gia tăng, lợi nhuận của ngân hàng cho vay bị giảm và đến một mức nào đó ngân hàng cho vay sẽ bị mất khả năng thanh toán, mất khả năng trả nợ do lỗ và
đi đến phá sản Khi một ngân hàng bị phá sản thì nó sẽ kéo theo sự phá sản của các ngân hàng khác dẫn đến sự khủng hỏang tiền tệ, tài chính và khủng hỏang kinh tế
1.4.2 Hiệu quả tín dụng:
Hiệu quả tín dụng được đánh giá trên 03 góc độ: đối với nền kinh tế, đối với khách hàng của NHTM và đối với bản thân NHTM
1.4.2.1 Hiệu quả tín dụng đối với nền kinh tế:
Hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng có quan hệ trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Nói đến chất lượng tăng trưởng kinh tế là nói đến mức độ đạt được của các mục tiêu kinh tế-xã hội qua mỗi thời kỳ phát triển, quan trọng nhất là các chỉ tiêu như: tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người, tình hình thu-chi ngân sách, tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng, chất lượng đầu tư tín dụng, chỉ số lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Chất lượng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố từ họat động tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn Khi đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, người ta thường đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát Hiệu quả của đầu tư tín dụng cho nền kinh tế chính là kinh tế tăng trưởng, sức mua của đồng tiền ngày càng ổn định và đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện
1.4.2.2 Hiệu quả tín dụng đối với khách hàng của ngân hàng:
Họat động tín dụng ngân hàng luôn gắn bó với họat động sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu về đời sống của các khách hàng thông qua các nghiệp vụ huy
Trang 21động vốn, cho vay, thanh toán và các dịch vụ hỗ trợ khác Với chức năng thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng ngân hàng là một hình thức đầu tư vốn khá an tòan, mức sinh lời tương đối chấp nhận được đối với những người có nhu cầu tiết kiệm và hưởng lãi Với chức năng cho vay, tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn kịp thời và hợp lý cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện thành công các kế họach kinh doanh, các dự án đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất, cung cấp cho ngừơi tiêu dùng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa- dịch vụ mới lạ, tiện ích, chất lượng cao, từ đó phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ, mở rộng ngành hàng, tạo thêm nhìều công ăn việc làm cho người lao động và mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận cao trong họat động sản xuất kinh doanh
1.4.2.3 Hiệu quả tín dụng đối với bản thân ngân hàng cho vay:
Các NHTM hiện nay có rất nhiều hoạt động sinh lợi nhưng hoạt động tín dụng vẫn là nguồn gốc quan trọng nhất tạo ra lợi nhuận cho các NHTM, khỏang 2/3 lãi ròng của các NHTM có được từ tiền lãi cho vay
Lợi nhuận của NHTM được đo lường bằng các chỉ tiêu sau:
• Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA- Return On Asset): được tính bằng cách chia lãi ròng cho tài sản bình quân của một ngân hàng Đây là tiêu chuẩn so sánh doanh lợi của ngân hàng này với ngân hàng khác
• Lợi nhuận trên vốn (ROE-Return On Equity): được tính bằng cách chia lãi ròng cho vốn tự có bình quân của một ngân hàng Đây là tiêu chuẩn đo lường khả năng sinh lợi quan trọng nhất đối với các cổ đông của một ngân hàng cổ phần
Trang 22Tóm lại: Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế có vai trò rất quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội Họat động tín dụng ngân hàng có một vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với nền kinh tế đồng thời cũng là là họat động nhạy cảm và dễ tác động đến nền kinh tế Với các chức năng của họat động tín dụng, họat động ngân hàng có tính xã hội hóa cao cũng như tính quốc tế hóa rất cao Một ngành ngân hàng phát triển mang tính cạnh tranh và tự do đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro, tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn, xuất hiện nhiều rủi ro mới là hệ quả tất yếu của sự phát triển và hội nhập Chính vì vậy, đảm bảo sự phát triển an tòan, hiệu quả của họat động tín dụng ngân hàng cũng là đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia
Thời gian qua, cùng với sự phát triển mang tính đột phá của nền kinh tế thì ngành ngân hàng Việt Nam cũng có sự lớn mạnh, thay đổi cả về chất và lượng Trong bối cảnh kinh tế đất nước hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai, kiểm sóat được rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng là một vấn đề hết sức quan trọng và là thách thức lớn nhất đặt ra đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam
***********
Trang 23CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NHCT BẾN TRE TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long được hợp thành bởi 3 cù lao lớn (cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh) và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ hình thành
Là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, được bao bọc bởi bốn bề sông nước, Bến Tre có một hệ thống giao thông đường thủy gồm những con sông lớn nối từ biển Đông ngược về thượng nguồn đến tâïn biên giới Campuchia và một hệ thống kênh rạch chằng chịt nối liền 3 dãy cù lao Tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh đi miền Tây và ngược lại đều đi qua Bến Tre Bến Tre còn có một vị trí đặïc biệt về hệ thống đường bộ, các tỉnh như Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ có thể đi tắt qua Bến Tre để lên thành phố Hồ Chí Minh với đọan đường gần hơn rất nhiều, tuy nhiên hiện nay còn chưa thuận tiện vì phải qua 2 con phà: Hàm Luông và Rạch Miễu
Diện tích tự nhiên của Bến Tre là 2.315,01km2, dân số độ khỏang trên 1,3 triệu người Tòan tỉnh Bến Tre được phân chia thành 08 đơn vị hành chính trực thuộc: 01 Thị xã và 07 huyện (bao gồm 7 thị trấn, 10 phường và 144 xã) Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa mưa nắng rõ rệt Thời tiết Bến Tre nhìn chung rất thuận lợi, ít có những diễn biến đột ngột bất thừơng
Với 65 km bờ biển, địa hình có nhiều sông ngòi chằng chịt, đất đai đa phong phú, Bến Tre thích hợp cho nhiều loại vật nuôi, cây trồng như thủy sản, gia súc, gia cầm, dừa, lúa, cây ăn quả … tạo nên nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú
Trang 24dạng-để chế biến hàng xuất khẩu Bến Tre còn có nhiều ngành nghề truyền thống, sản xuất ra các sản phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm…góp phần phát triển ngành du lịch địa phương, tạo ra nét đặc trưng của tỉnh như: nghề nuôi ong mật, nghề thủ công các sản phẩm từ dừa, nghề làm bánh tráng, bánh phồng, nghề dệt chiếu…
Bên cạnh đó Bến Tre còn có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trẻ chiếm đa số, với những đức tính vốn có của ngườiø nông dân là chăm chỉ, thông minh, chịu khó Bến Tre hiện đang đẩy mạnh khai thác những lợi thế về điều kiện tự nhiên để trong tương lai trở thành điểm đến cho khách du lịch, là miền đất nhiều hứa hẹn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Bến Tre đã xây dựng nhiều dự án đầu tư trên nhiều lĩnh vực, đăïc biệt quan tâm các dự án chế biến thủy sản, trái cây, các sản phẩm từ dừa, khu công nghiệp, khu du lịch, cầu đường…
Trên đà phát triển nhanh và với những thành tựu đạt được của 20 năm đổi mới, nhất là trong 05 năm gần đây, Bến Tre đã chủ động hội nhập với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh, thành của Việt Nam; tiếp tục có những chính sách kêu gọi đầu tư hấp dẫn, thu hút nhân tài nhằm đưa kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững hơn Trong những năm tới, khi cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông được xây dựng xong, hệ thống giao thông đường bộ Bến Tre sẽ hòa nhập với các tỉnh trong khu vực; hạ tầng khu công nghiệp sẽ được triển khai xây dựng hòan chỉnh Đây là cơ sở và tiền đề quan trọng cho bước phát triển vững chắc trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực
Những thành tựu kinh tế-xã hội quan trọng trong 5 năm 2001-2005:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm sau luôn cao hơn năm trước, bình quân đạt 9,38%/năm; giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,86%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 16,38%/năm, dịch vụ tăng 13%/năm; GDP bình quân đầu người từ 380 USD năm 2001 tăng lên 461 USD năm 2005
Trang 25- Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng nhanh, đạt 14.766,8 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu 47,4% Nhiều công trình giao thông-thủy lợi quan trọng như cống đập Ba Lai (công trình thủy lợi lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long), các công trình giao thông huyết mạch như quốc lộ 57, quốc lộ 60, các công trình điện khí hóa nông thôn được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả; đang xây dựng cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh: Tiền Giang và Bến Tre, đã khởi công xây dựng cầu Hàm Luông nối liền Thị xã Bến Tre với các huyện Mỏ Cày, Thạnh Phú và mở rộng giao thông nối liền với tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long Khi hòan thành các công trình này sẽ giúp Bến Tre phá thế biệt lập về địa lý, mở rộng giao lưu thuận lợi với các trung tâm kinh tế lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Cầân Thơ và các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ trong GDP tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm dần Đến năm
2005, tỷ trọng giá trị nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 58,11%, công nghiệp-xây dựng chiếm 17,62% và dịch vụ chiếm 24,27%
- Trong nông nghiệp: cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục chuyển dịch theo hướng chất lượng, hiệu quả; tiềm năng nông nghiệp là thủy sản và kinh tế vườn được khai thác tốt hơn Phần lớn diện tích vườn dừa được thâm canh, cải tạo và trồng xen các lọai cây khác như măng cụt, ca cao, chanh, bòn bon…góp phần gia tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất gấp nhiều lần Chăn nuôi bò phát triển mạnh, quy mô chăn nuôi gia đình được mở rộng, bước đầu hình thành nhiều hộ chăn nuôi trang trại Thủy sản từng bước vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn; mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh đã thành công và được nhân rộng
ở 3 huyện miền biển, thu hút được nhiều thành phần kinh tế trong, ngòai tỉnh tham gia đầu tư sản xuất
Trang 26- Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển toàn diện hơn, nhất là công nghiệp chế biến thủy sản và chế biến các sản phẩm từ dừa để xuất khẩu Chú trọng đầu tư đổi mới trang thiết bị đối với các nhà máy hiện có, xây dựng một số nhà máy mới với công nghệ tiên tiến Thành công lớn nhất của ngành công nghiệp chế biến là đã thu hút được đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngòai nước, tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cơm dừa nạo sấy, than họat tính, tôm-cá đông lạnh…
- Thương mại-dịch vụ phát triển tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho nhu cầu SXKD và phục vụ đời sống dân cư; thị trừơng đô thị phát triển, thïi trường nông thôn khởi sắc Các dịch vụ tín dụng-ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tãi, bảo hiểm…phát triển khá Công tác xúc tiến thương mại, quãng bá thương hiệu được tăng cường, tạo điều kiện cho nhà sản xuất tiếp cận thị trường, tiêu thụ hàng hóa
Du lịch phát triển khá, doanh thu tăng bình quân 20,4%/năm
- Xuất khẩu tăng trưởng liên tục, tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt
347 triệu USD, tốc độ tăng bình quân 32%/năm; thị trường xuất khẩu ngày càng phát triển, năm 2000 xuất khẩu sang 20 nước, đến năm 2005 đã xuất khẩu sang 55 nước và vùng lãnh thổ Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển biến tích cực, tỷ trọng hàng đã qua chế biến ngày càng tăng
- Các thành phần kinh tế ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường Đã sắp xếp lại 12/25 DNNN, trong đó cổ phần hóa 07 DN Các DN sau khi sắp xếp lại hầu hết đều tăng vốn đầu tư, mở rộng SXKD có hiệu quả hơn Kinh tế tập thể được củng cố và phát triển, tòan tỉnh hiện có 74 hợp tác xã, gần 14.000 tổ hợp tác, trong đó có nhiều tổ hợp tác họat động có hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực nuôi tôm sú công nghiệp Kinh tế tư nhân phát triển nhanh hơn các thời kỳ trước, nhất là sau khi có Luật Doanh nghiệp, trong 5 năm qua tòan tỉnh có 910 DN được thành lập với tổng số vốn đăng ký 831 tỷ đồng Kinh tế trang trại phát triển mạnh, tòan tỉnh hiện
Trang 27có trên 3.300 hộ đạt tiêu chí trang trại tập trung vào các lĩnh vực: trồng cây ăn trái, sản xuất cây giống, hoa kiểng, chăn nuôi gia súc Kinh tế cá thể tiếp tục phát triển, chủ yếu là giải quyết việc làm cho các hộ gia đình, trong 5 năm qua có gần 20.000 hộ kinh doanh cá thể được thành lập với tổng số vốn đăng ký 338 tỷ đồng
Tuy nhiên trong các năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre còn một số tồn tại-hạn chế như:
- Kinh tế phát triển vẫn chưa thật bền vững, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, còn một số tồn tại Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chưa đạt mục tiêu đềø ra, vẫn còn nặng về nông nghiệp nhưng sản xuất nông nghiệp còn tự phát, lệ thuộc nhiều vào thời tiết Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, chưa tương xứng với tiềm năng và còn thấp so với các tỉnh trong khu vực
- Các nguồn lực được huy động khá hơn nhưng chưa đủ sức để đầu tư các chương trình phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Kết cấu hạ tầng về kinh tế-xã hội tuy được tập trung đầu tư nhưng chưa đồng bộ, làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội
- Cơ chế, chính sách phát triển các thành phần kinh tế chưa được triển khai thực hiện đầy đủ Việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN vẫn còn lúng túng và tiến hành chậm Kinh tế tập thể phát triển rất thấp, tỷ trọng trong nền kinh tế còn nhỏ bé Kinh tế tư nhân, cá thể tuy được khuyến khích phát triển nhưng qui mô đầu tư còn thấp, tiềm lực chưa được khai thác đầy đủ
- Đời sống nhân dân tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp so với mặt bằng chung của cả nước
Nguyên nhân là do :
Trang 28- Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông, rạch, hệ thống giao thông đường bộ và giao thông thủy chưa được đầu tư đúng mức Từ đó đã làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư phát triển, khó khăn trong lưu thông hàng hóa
- Tuy không bị lũ lụt do nước từ thượng nguồn sông Cửu Long tràn về như các tỉnh khác trong khu vực nhưng hay bị nước biển lấn sâu vào nội đồng gây nhiễm mặn đất và nguồn nước sinh hoạt Trong các năm qua các công trình thủy lợi tuy được quan tâm đầu tư nhưng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp toàn diện; Hệ thống tổ chức, quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn còn phân tán Tình trạng nước mặn hay ngọt phụ thuộc hoàn toàn vào diễn biến của thiên nhiên, gây nhiều thiệt hại trong phát triển kinh tế thủy sản và kinh tế vườn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhân dân
- Việc chuẩn bị các tiền đề để đẩy mạnh CNH-HĐH nền kinh tế của tỉnh Bến Tre còn chậm Việc xác định các thế mạnh, các khâu cần đột phá về kinh tế-xã hội là đúng đắn nhưng trong quá trình thực hiện kế họach phát triển, các đột phá chưa tương xứng do thiếu nguồn lực về vốn và nhân lực
2.2 Tình hình đầu tư tín dụng của chi nhánh NHCT tỉnh Bến Tre giai đoạn 2003-2005:
2.2.1 Giới thiệu sơ nét về chi nhánh NHCT tỉnh Bến Tre :
Chi nhánh NHCT tỉnh Bến Tre là một trong 130 chi nhánh của NHCT Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 41/NH-QĐ ngày 24/6/1988 của Tổng giám đốc (nay là Thống đốc) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trụ sở chính đặt tại số 142A, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 2, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
(Phụ lục 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHCT Bến Tre)
Các phòng giao dịch thuộc chi nhánh đều thực hiện đầy đủ các chức năng của NHTM như: huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngọai tệ, chi trả kiều hối…, họat động có hiệu quả, có tiềm năng phát triển tốt về đầu tư tín dụng góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn
Trang 29Về cơ sở vật chất: 04 phòng giao dịch ở các huyện đã có trụ sở tương đối khang trang, còn lại trụ sở chính và trụ sở PGD số 1 tại địa bàn Thị xã đã cũ kỹ, chật hẹp Đây là điểm huy động tiền gởi dân cư chủ lực của chi nhánh với nhiều khách hàng truyền thống, kể cả khách hàng ở các huyện cũng có thói quen gởi tiền tại đây nhưng điều kiện làm việc hiện nay thua kém trụ sở của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cách đó 0,5 km Đây là một bất lợi rất lớn của chi nhánh trong công tác huy động vốn
Về phương tiện công nghệ thông tin: được trang bị tương đối đầy đủ, đáp ứng được quy mô kinh doanh hiện tại
Về lao động: các cán bộ nghiệp vụ đều có trình độ từ trung cấp trở lên, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện tại; tuy nhiên, số cán bộ diện qui hoạch và cán bộ trẻ có trình độ, năng lực rất thiếu Hiện tại chi nhánh đang rất khó khăn về nhân sự do cơ chế tuyển dụng lao động và định biên lao động theo quy định của NHCT Việt Nam thời gian qua còn nhiều điểm chưa thực sự phù hợp với đặc điểm họat động và nhu cầu của từng chi nhánh
2.2.2 Tình hình huy động vốn: mặc dù kinh tế địa phương đang trong giai
đọan rất cần vốn để phát triển, vốn nhàn rỗi không cao, trên cùng địa bàn có đến 4 NHTM cùng hoạt động, lãi suất huy động vốn trong thời gian dài do NHCT Việt Nam quy định thường xuyên thấp hơn lãi suất của các ngân hàng bạn, nhưng nguồn vốn huy động của chi nhánh vẫn có xu hướng ổn định và tăng trưởng
(Phụ lục 2: Số liệu về tình hình huy động vốn từ năm 2003 đến năm 2005)
Để ổn định và khơi tăng nguồn vốn huy động, chi nhánh rất chú trọng khâu tuyên truyền quãng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, áp dụng các hình thức huy động phong phú, lãi suất linh hoạt theo hướng dẫn của NHCT Việt Nam, đặc biệt quan tâm xây dựng phong cách giao dịch văn minh, lịch sự, tận tình với khách hàng, cải tiến quy trình nghiệp vụ và các phương thức thanh toán hiện đại Nguồn vốn huy
Trang 30động tăng trưởng ổn định tạo điều kiện thuận lợi giúp cho chi nhánh chủ động hơn trong việc đáp ứng vốn cho nền kinh tế, đảm bảo thanh toán và chi trả kịp thời
2.2.3 Tình hình đầu tư tín dụng phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội địa phương:
(Phụ lục 3: Số liệu về tình hình đầu tư tín dụng từ năm 2003 đến năm 2005)
2.2.3.1.Cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn: tuy tên gọi là ngân hàng công thương nhưng lại hoạt động trên một địa bàn với kinh tế nông nghiệp là chủ yếu nên chi nhánh đã phát huy mạnh mẽ tính chất kinh doanh đa năng của mình, mở rộng hoạt động xuống các huyện nông thôn, cùng với các ngân hàng khác đáp ứng nhu cầu vốn cho bà con nông dân để phát triển các làng nghềâ truyền thống, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, cải tạo vườn tạp thành vườn cây trái đặc sản, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng theo quy hoạch phù hợp với đặc tính thổ nhưỡng của từng vùng, tăng thêm hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng các nhu cầu về đời sống như xây dựng, sửa chữa nhà ở, mắc điện vào nhà, đào giếng Đăïc biệt là từ cuối năm 1999, chi nhánh đã tích cực triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn theo Quyết định
67 của Thủ tướng Chính Phủ, dư nợ đầu tư trong lĩnh vực này tăng trưởng rất nhanh và hiệu quả đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ sản xuất phát triển nông, lâm, diêm ngư nghiệp và thương mại
- dịch vụ, tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế – xã hội nông thôn
(Phụ lục 4: Số liệu về tình hình đầu tư tín dụng phát triển NN&NT)
2.2.3.2 Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN): thời gian qua chi nhánh đã mạnh dạn tăng trưởng đầu tư tín dụng đối với mọi thành phần kinh tế đặc biệt là các DNVVN họat động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khai thác thế
Trang 31mạnh kinh tế của tỉnh Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã trở thành những doanh nghiệp lớn, kinh doanh ngày càng phát triển và hiệu quả
(Phụ lục 5: Số liệu về tình hình đầu tư tín dụng đối với các DNVVN)
Tuy hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn nhưng việc đầu tư vốn của chi nhánh vẫn đảm bảo tính nguyên tắc và chế độ tín dụng, đồng thời từng lúc tham gia với các cấp lãnh đạo địa phương để giải quyết những khó khăn, vướng mắc và sắp xếp lại hoạt động cho các doanh nghiệp Nhờ vậy, mặc dù các DNNN tại địa phương không tăng về số lượng, nhưng chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp đều có sự phát triển Từ đó đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương phù hợp với hướng đi CNH-HĐH của cả nước Điển hình như công ty Xuất nhập khẩu lâm thủy sản Bến Tre Từ một doanh nghiệp nhỏ kinh doanh trong lĩnh vực lâm sản, kể từ khi có quan hệ tín dụng tại chi nhánh NHCT Bến Tre, công ty không những nhận được sự hổ trợ về vốn mà còn được chi nhánh tư vấn, góp ý, dự đoán rủi ro để xây dựng phương án kinh doanh có hiệu quả Hiện nay công ty đã bổ sung thêm nhiều chức năng kinh doanh như đóng tàu đánh bắt xa bờ, khai thác đánh bắt thủy sản xa bờ, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản xuất khẩu trong đó mô hình đoàn tàu đánh bắt xa bờ và nuôi tôm công nghiệp của công ty được đánh giá là điển hình tiên tiến của tỉnh, hiệu quả kinh doanh của công ty ngày càng cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách ngày càng tăng Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu của công ty với dây chuyền sản xuất hiện đại, công suất thiết kế 6.000 tấn sản phẩm/năm, sau 02 năm đi vào họat động đã đạt trên 60% công suất thiết kế, sản phẩm xuất khẩu đã thâm nhập được vào những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật… góp phần gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
Để góp phần thực hiện chương trình phát triển thủy sản của tỉnh, trong thời gian qua, đặc biệt là năm từ 2002 chi nhánh đã đẩy mạnh cho vay các dự án nuôi
Trang 32tôm công nghiệp tại các vùng quy hoạch của tỉnh và các dự án phát triển phương tiện xà lan, cần cẩu xáng cạp phục vụ cho các ngư trường nuôi tôm, trong đó có nhiều dự án đạt hiệu quả rất cao điển hình như các dự án nuôi tôm công nghiệp của Công ty Xuất nhập khẩu lâm thủy sản Bến Tre nói trên
Trong cho vay đẩy mạnh xuất khẩu chi nhánh luôn đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩm từ cây dừa Đặc biệt trong năm 2002, chi nhánh đã đầu tư vốn cho một công ty liên doanh với nước ngoài (Srilanca) chuyên sản xuất cơm dừa khô sấy xuất khẩu, góp phần ổn định và nâng giá trị trái dừa cho bà con nông dân từ 500 đồng /trái lên 2.500 đồng /trái
2.3 Đánh giá chất lượng và hiệu quả họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre:
2.3.1 Những mặt đạt được:
- Mở rộng cho vay phù hợp với mức tăng trưởng bình quân chung của tòan hệ thống, luôn tôn trọng sự chỉ đạo, điều hành của NHCT Việt Nam, đảm bảo thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh doanh của chi nhánh phù hợp với định hướng của tòan hệ thống NHCT Việt Nam trong từng giai đoạn Dư nợ cho vay ngày càng tăng theo hướng tích cực, đáp ứng vốn kịp thời, đầu tư vốn đúng hướng khai thác tiềm
năng và thế mạnh kinh tế địa phương
- Phát triển họat động luôn đảm bảo mục tiêu an tòan-hiệu quả, tỷ lệ nợ quá hạn lúc cao nhất cũng không vượt quá mức 5% trên tổng dư nợ, kết quả kinh doanh luôn có lãi
(Phụ lục 6: Bảng tổng hợp kết quả họat động tín dụng từ năm 2003 đến năm 2005)
- Với phương châm cạnh tranh chủ yếu bằng chất lượng phục vụ khách hàng, không quá chú trọng cạnh tranh bằng lãi suất và hạ thấp các tiêu chuẩn, điều kiện tín dụng nên đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng của chi nhánh luôn được quan
Trang 33tâm giáo dục, đào tạo, huấn luyện về đạo đức nghề nghiệp, về kỹ năng nghiệp vụ và phong cách giao dịch văn minh lịch sự; quy trình nghiệp vụ thường xuyên được cải tiến theo hướng đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ về tính pháp lý Từ đó đã thu hút được lượng khách hàng đến với chi nhánh ngày càng đông (từ hơn 15.000 khách hàng vay vào cuối năm 2000 tăng lên gần 20.000 khách hàng vào cuối năm 2005)
- Tạo được sự đồng tình, thông cảm và ủng hộ của các cấp, các ngành tại địa phương đối với hoạt động của chi nhánh Mối quan hệ đó được tạo lập và duy trì trên cơ sở hài hoà lợi ích kinh tế-xã hội của địa phương và lợi ích của chi nhánh
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sóat nội bộ; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, quy trình nghiệp vụ, cơ chế thể lệ của ngành, giữ nghiêm kỹ cương điều hành
- Thực hiện nghiêm túc công tác thông tin phòng ngừa rủi ro Hạch tóan, thể hiện chính xác, minh bạch chất lượng tín dụng theo đúng quy định về phân lọai nợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để có biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn các khỏan nợ có vấn đề
- Triển khai tốt công tác thanh toán điện tử, phát hành thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế góp phần tăng thu dịch vụ, hổ trợ tốt cho công tác huy động vốn và đầu tư tín dụng
- Do định hướng chiến lược tín dụng đúng đắn, cơ cấu tín dụng hợp lý, xác định đúng khách hàng chủ lực nên chi nhánh đã phát triển được các họat động khác như thanh toán quốc tế, kinh doanh ngọai tệ thông qua việc đầu tư tín dụng đối với các doanh nghiệp xuất-nhập khẩu
(Phụ lục 7: Bảng số liệu về tình hình họat động thanh tóan quốc tế và kinh doanh
ngọai tệ từ năm 2003 đến năm 2005)
Trang 34Phần lớn ngọai tệ mua được chi nhánh phải bán về cho NHCT Việt Nam với tỷ giá hạch tóan nội bộ nên không có lãi nhưng chi nhánh có thể chủ động cân đối được nguồn ngọai tệ đáp ứng cho nhu cầu thanh toán nhập khẩu cho một số doanh nghiệp trong tỉnh Trong khi đó, vào những năm 2002 trở về trước, mỗi lần thanh toán tiền hàng nhập khẩu chỉ cần khỏang hai ba chục ngàn USD chi nhánh cũng phải chờ NHCT Việt Nam giải quyết
2.3.2 Một số hạn chế:
Do không đủ điều kiện về phương tiện vật chất lẫn con người nên chi nhánh chưa có phòng Nguồn vốn, không có địa điểm giao dịch và nhân sự riêng cho công
tác huy động vốn mà còn bố trí xen với các nghiệp vụ khác nên chất lượng phục vụ
khách hàng gởi tiền có phần hạn chế Mặt khác, trong thời gian qua lãi suất huy động vốn theo sự điều hành của NHCT Việt Nam luôn kém hấp dẫn so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nên tốc độ tăng trưởøng nguồn vốn huy động và thị phần về huy động vốn của chi nhánh trên địa bàn có xu hướng giảm dần qua các năm Nguồn vốn huy động năm 2004 so với năm 2003 tăng 18,32%, năm 2005 so với 2004 chỉ tăng 4,58% Thị phần nguồn vốn huy động năm 2003 là 20,12%, năm
2004 là 19,98%, năm 2005 chỉ còn 15,89%
- Nguồn vốn huy động tại chổ chỉ mới đáp ứng được từ 30% đến 35% tổng tài sản Có của chi nhánh và tỷ trọng này có xu hướng giảm dần Vì vậy việc đảm bảo nguồn vốn tín dụng cho các khách hàng tại địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn điều hoà từ NHCT Việt Nam Lãi suất huy động vốn bình quân cao do tỷ trọng nguồn vốn huy động có kỳ hạn là chủ yếu, lãi suất nhận vốn điều hòa của NHCT Việt Nam cũng ngày càng tăng cao nên chi phí đầu vào bình quân cao làm hạn chế hiệu quả kinh doanh
Trang 35- Hoạt động tín dụng tuy có tăng trưởng nhưng chi nhánh chưa mở rộng được thị phần trên khắp địa bàn tỉnh do thiếu lao động (còn 2 huyện: Chợ Lách và Thạnh Phú có nhu cầu vốn rất lớn nhưng chi nhánh chưa đáp ứng được)
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của chi nhánh đến cuối năm 2005 tuy thấp hơn tỷ lệ chung của tòan hệ thống NHCT Việt Nam cũng như thấp hơn tỷ lệ nợ xấu của tòan ngành ngân hàng tỉnh (tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh cuối năm 2005 là 1,49%, của NHCT Việt Nam là 3%, của ngành ngân hàng tỉnh là 3,42%); tuy nhiên nợ tiềm ẩn rủi ro (nợ nhóm 2) có xu hướng gia tăng, việc xử lý các khỏan nợ tồn đọng về cho vay thanh tóan công nợ, cho vay khắc phục bão rất chậm và bị đọng, số nợ đã được xử lý rủi ro bằng quỹ dự phòng chưa được cán bộ tín dụng quan tâm thu hồi
- Công tác marketing chưa tốt; các dịch vụ hổ trợ cho họat động tín dụng chỉ mới được triển khai bước đầu Cơ sở vật chất của chi nhánh như trụ sở làm việc, trang thiết bị để ứng dụng công nghệ ngân hàng và phát triển dịch vụ như máy ATM, thiết bị điện tử đọc thẻ, máy vi tính… thời gian qua tuy có được trang bị, cải tiến nhưng hòan toàn phụ thuộc vào NHCT Việt Nam, chưa tương xứng với quy mô họat động hiện nay của chi nhánh, cần phải được quan tâm đầu tư phù hợp với xu thế phát triển, bảo đảm an toàn tài sản cho cả khách hàng và ngân hàng, tăng thêm
uy tín trong cạnh tranh
- Việc cho vay các DNVVN, cá thể, hộ gia đình chủ yếu dựa trên cơ sở tài sản bảo đảm do thiếu căn cứ để đánh giá tình hình tài chính, họat động SXKD của khách hàng Cán bộ tín dụng ít chủ động tìm đến khách hàng mà chỉ xem xét cho vay khi khách hàng có nhu cầu Chính vì tâm lý thụ động đó nên cán bộ tín dụng không có sự tích lũy thông tin về khách hàng, thiếu sâu sát và sự hiểu biết về họat động SXKD của khách hàng làm hạn chế khả năng khai thác các dịch vụ khác như thu tiền, thanh toán…
Trang 36- Nguồn nhân lực hiện nay của chi nhánh chưa đảm bảo đáp ứng được yêu cầu họat động trong xu thế hội nhập, thiếu cán bộ tín dụng có kinh nghiệm và kiến thức về tài chính doanh nghiệp hiện đại, về tài chính quốc tế, về thanh tóan quốc tế, về đánh giá rủi ro trong môi trường kinh doanh của các khách hàng vay là các doanh nghiệp lớn Do vậy, cán bộ tín dụng còn hạn chế về khả năng tư vấn cho khách hàng, chất lượng thẩm định tín dụng chưa cao nên họat động tín dụng của chi nhánh còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
2.4 Những cơ hội, thuậïn lợi và khó khăn, thách thức trong họat động tín dụng của chi nhánh NHCT Bến Tre thời gian tới:
2.4.1 Những cơ hội, thuận lợi:
- Theo dựï báo của các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ tới tiếp tục tăng trưởng sôi động; hệ thống cơ chế, chính sách kinh tế sẽ đổi mới mạnh mẽ hơn theo hướng nền kinh tế thị trường thực thụ và hội nhập quốc tế sâu rộng Theo qui luật cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều thị trường mới, khách hàng mới, dịch vụ mới (như đầu tư mua trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường sơ cấp, quản lý danh mục đầu tư, môi giới chứng khóan,….) Đó là những cơ hội mới để các NHTM nói chung và chi nhánh NHCT Bến Tre nói riêng phát triển, mở rộng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ở trình độ cao hơn, hỗ trợ tốt cho họat động tín dụng
- Kinh tế- xã hội địa phương đang trên đà phát triển cao nhưng bền vững, có sức thu hút đầu tư lớn là môi trừơng kinh doanh tốt của các NHTM trên địa bàn, đặïc biệt là phát triển các hoạt động dịch vụ đi kèm với họat động tín dụng
- Sau 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, số lượng DNVVN tại địa phương đang tăng lên rất nhanh, đang trở thành bộ phận quan trọng có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế địa phương Trong tương lai, môi trường họat động của các DNVVN sẽ được cải thiện, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước sẽ được thực thi tốt hơn, hiệu quả hơn, do đó các DNVVN sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa Lĩnh vực
Trang 37họat động chính của các DNVVN hiện nay là công-thương nghiệp và dịch vụ, đây cũng là thế mạnh về tài trợ vốn của NHCT Nếu thực hiện tốt công tác thẩm định tín dụng và sàng lọc khách hàng thì chi nhánh có thể duy trì một danh mục khách hàng hiệu quả, dễ quản lý, phân tán được rủi ro, có thêm điều kiện để tăng thu dịch vụ
- Màng lưới họat động của chi nhánh được mở rộng hầu hết các huyện trong tỉnh, đa số cán bộ làm công tác tín dụng tại chi nhánh đều am hiểu thông tục, tập quán, thói quen, sở thích của khách hàng nên có kinh nghiệm giao dịch với khách hàng tại địa phương
- Thời gian qua NHCT Việt Nam đã xây dựng và tích cực triển khai thực hiện lộ trình cải cách mọi họat động nhằm chuẩn bị tư thế sẵn sàng gia nhập sân chơi chung này Trong quý I/2006, với sự hổ trợ của NHCT Việt Nam, chi nhánh NHCT Bến Tre cũng như các chi nhánh NHCT trên tòan quốc đã hòan thành việc triển khai thực hiện tiểu dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán Với hệ thống NHCT tiên tiến hiện nay (gọi tắt là chương trình INCAS), hiện nay chi nhánh có các kênh phân phối như sau:
- Hệ thống quản lý giao dịch tại trụ sở chi nhánh, các phòng giao dịch, các điểm giao dịch trên địa bàn tỉnh Bến Tre
- Hệ thống giao dịch ATM
- Hệ thống giao dịch Internet banking
Như vậy, với hệ thống INCAS này, mọi giao dịch của khách hàng với NHCT sẽ được mở rộng hơn về phạm vi không gian, thời gian và sẽ tiến đến không còn bị giới hạn trong tương lai gần vì hiện nay NHCT đang triển khai các buớc tiếp theo của dự án hiện đại hóa họat động Đầu năm 2007, NHCT Việt Nam sẽ chỉ đạo nhiều giải pháp và tích cực hổ trợ chi nhánh triển khai thành công dự án hiện đại hoá ngân hàng Là chi nhánh đi sau trong việc triển khai dự án hiện đại hoá nên