DIỆN MẠO VĂN HÓA -XÃ HỘI, VÙNG ĐẤT BẾN TRE, THẾ KỶ XVII - XX
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3MỤC LỤC
trang Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE 9
1.1 Vị trí địa lý .9
1.2 Quá trình kiến tạo, bồi đắp vùng đất Bến Tre 10
1.3 Địa hình 11
1.4 Thổ nhưỡng 14
1.5 Khí hậu 17
1.6 Sông ngòi 19
1.7 Thủy văn 21
1.8 Thực vật 23
1.9 Động vật 27
Chương 2 DIỆN MẠO VĂN HÓA – XÃ HỘI CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE TRONG CÁC THẾ KỶ XVII – XX 33
2.1 Đời sống xã hội 33
2.2 Đời sống vật chất 45
2.2.1 Sinh hoạt kinh tế 45
2.2.2 Cách ăn uống, trang phục, nhà ở, đường sá và phương tiện đi lại 66
2.3 Đời sống tinh thần 86
2 3.1 Phong tục tập quán 86
2.3.2 Tín ngưỡng – Tôn giáo .94
2.3.3 Giáo dục 113
2.3.4 Văn học 121
Trang 4Chương 3 CON NGƯỜI BẾN TRE 138
3.1 Con người Bến Tre trong đấu tranh với thiên nhiên 138
3.2 Đấu tranh với xã hội 147
3.3 Đặc điểm tính cách của con người Bến Tre 168
KẾT LUẬN 176
TÀI LIỆU THAM KHẢO 188
PHỤ LỤC 195
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ lâu, Bến Tre được nhiều người biết đến không chỉ với cái tên “xứ dừa”, mà còn là vùng đất anh hùng, nơi tôi may mắn được sinh ra và lớn lên Tôi nhận thức được rằng, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề về lịch sử của vùng đất này là trách nhiệm của bản thân
Bến Tre là một bộ phận của vùng đất Nam Bộ Nam Bộ là vùng đất mới, vùng đất có nhiều đóng góp quan trọng đối với lịch sử dân tộc trên nhiều phương diện, trong đó có phương diện văn hóa
Sống trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên khác nhau, cư dân mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có những biểu hiện đặc thù về phẩm chất, tính cách, có cả những mặt tích cực và hạn chế Nghiên cứu những nét đặc thù về văn hóa, những truyền thống, phẩm chất, tính cách tốt đẹp của con người Bến Tre để phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt yếu kém, hạn chế ở hiện tại và tương lai là việc làm hết sức cần thiết
Trong bài viết “Nghiên cứu lịch sử địa phương ở Nam Bộ” in trong tập sách
Nam Bộ đất và người, Tiến sĩ Lê Hữu Phước cho rằng: “trong nhiều công trình lịch
sử địa phương đã có (kể cả những tập địa chí), trong khi phần lịch sử đấu tranh được khắc họa đậm nét, thì những nội dung về lịch sử xây dựng, kinh tế – văn hóa –
xã hội lại chưa được thể hiện tương xứng” [57, tr.145] Tìm hiểu những vấn đề về văn hóa – xã hội của vùng đất Nam Bộ nói chung, từng địa phương trong vùng đất Nam Bộ nói riêng vẫn đang là vấn đề đặt ra đối với người nghiên cứu lịch sử
Với những lý do như trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là “Diện
mạo văn hóa – xã hội của vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII – XX”
Việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa góp thêm cơ sở khoa học để lãnh đạo Tỉnh hoạch định chính sách văn hóa – xã hội cho tỉnh nhà, trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, không chỉ ở cấp vĩ mô, toàn quốc mà cụ thể ở cấp vùng, cấp địa phương
Trang 6Chúng ta biết rằng, tình yêu đất nước bắt nguồn từ tình yêu quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó với cuộc đời của mỗi con người ngay từ thời thơ ấu Trang bị tri thức lịch sử địa phương để qua đó bồi dưỡng, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương cho thế hệ trẻ, vì thế, hết sức cần thiết Qua nghiên cứu đề tài, tôi hy vọng sẽ mở rộng hiểu biết của mình về lịch sử địa phương, sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa phương cho học sinh
Việc nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội của vùng đất Bến Tre, ở một mức
độ nhất định, còn là việc làm nhằm góp thêm tư liệu để nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội vùng đất Nam Bộ
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
“Diện mạo văn hóa – xã hội” được hiểu là bức tranh văn hóa – xã hội được phản ánh qua tư liệu lịch sử Văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và xã hội Văn hóa là một mảng của đời sống xã hội, gắn bó hữu cơ với tổ chức cuộc sống của cộng đồng cư dân Văn hoá vừa là sản phẩm mà một cộng đồng dân cư tạo ra, vừa
là nhân tố tác động đến hoạt động của cộng đồng dân cư
Vùng đất Bến Tre là một bộ phận của Nam Bộ, mà Nam Bộ là một phần không thể tách rời của Việt Nam Lịch sử khai phá, xây dựng và phát triển của vùng đất Bến Tre với những diễn biến phức tạp về chính trị, xã hội, văn hóa nằm trong bối cảnh chung của vùng đất Nam Bộ và chịu chung sự chi phối của bối cảnh cả nước
Do vậy, nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội Bến Tre từ thế kỉ XVII – XX không thể tách rời diện mạo văn hóa – xã hội Nam Bộ cũng như diện mạo văn hóa – xã hội Việt Nam trong giai đoạn này Trên quan điểm như thế, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu của luận văn được xác định là:
Trang 7- Những yếu tố tác động đến diện mạo văn hóa và mối quan hệ giữa các yếu tố
đó như: điều kiện tự nhiên, cư dân, con người trong đấu tranh với thiên nhiên, trong đấu tranh xã hội, … tại vùng đất Bến Tre vào các thế kỉ XVII - XX, trong bối cảnh của khu vực Nam Bộ và cả nước
- Những mảng, những lĩnh vực cụ thể của đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội của cư dân sống trên vùng đất Bến Tre
- Không gian nghiên cứu diện mạo văn hóa – xã hội là vùng đất Bến Tre, bao gồm cả những nơi trước đây không thuộc Bến Tre, nhưng hiện nay nằm trong địa phận Bến Tre Thời gian nghiên cứu được xác định trong khoảng các thế kỷ XVII –
XX, tức là từ khi có người Việt, người Hoa đến khai phá vùng đất Bến Tre cho đến thời điểm kết thúc một kỷ nguyên (năm 2000), mở ra một kỷ nguyên mới
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Các công trình sưu tầm, nghiên cứu về diện mạo văn hóa - xã hội của Bến Tre,
có ba dạng: thứ nhất là những công trình có đề cập hoặc ít, hoặc nhiều tới Bến Tre trong đồng bằng sông Cửu Long; thứ hai là các công trình chung về tỉnh, trong đó
có đề cập phần nào về diện mạo văn hóa – xã hội; thứ ba là những công trình nghiên cứu một mảng nào đó của diện mạo văn hóa – xã hội vùng đất Bến Tre
Ở dạng thứ nhất, có các công trình tiêu biểu, nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến văn hóa khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Bến Tre (những yếu tố tác động đến văn hóa, những vấn đề về văn hóa – xã hội):
- Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn được viết khoảng năm 1776, khi ông giữ
chức Hiệp trấn tham vấn quân cơ ở Thuận Hóa Đây là tập bút ký, cung cấp nhiều
sử liệu quý về vùng đất phương nam như cảnh quan, tài nguyên, dân cư, chế độ ruộng đất, thuế khóa, binh chế… Từ thế kỷ XVIII trở về trước, vùng đất Bến Tre
được đề cập trong Phủ biên tạp lục với tên gọi chung là vùng sông Tiền
- Tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết dưới thời vua
Gia Long đề cập đến nhiều mặt như vị trí, giới hạn, tên các phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phong tục, tín ngưỡng, quần áo, nhà cửa, hội hè,… của vùng đất Gia Định nói chung, trong đó có Bến Tre
Trang 8- Nhà văn Sơn Nam nghiên cứu Nam Bộ dưới nhiều góc độ, như tên gọi của
các công trình nghiên cứu: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đất Gia Định xưa, Nói
về miền Nam - Cá tính miền Nam – Thuần phong mỹ tục Việt Nam, Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long – Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt vườn
- Toan Ánh trong các công trình nghiên cứu về Nếp cũ – Con người Việt
Nam, Tín ngưỡng Việt Nam, khi đề cập đến diện mạo một số mặt văn hóa cả nước
nói chung, Nam Bộ nói riêng, tác giả có đề cập đến một số hiện tượng văn hóa Bến Tre
Sau năm 1975, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ, trong đó có văn hóa Bến Tre, tiêu biểu như: Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường
với Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1990; Huỳnh Lứa với Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,
XVIII, XIX, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2000; Thạch Phương, Hồ Lê,
Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh với Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1992; Hồ Bá Thâm -Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát
triển, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2003; Nguyễn Phương Thảo với Huyền thoại miệt vườn, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản 1994, Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo, Nxb Giáo dục xuất bản năm 1994; Trần Hồng Liên với Phật giáo
ở Nam Bộ từ thế kỉ 17 đến 1945, Nxb TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 1996; Viện
tôn giáo với công trình Bước đầu tìm hiểu Đạo Cao Đài (công trình của nhiều tác giả, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1995); Lê Anh Dũng với công trình Lịch sử
Đạo Cao đài thời kỳ tiềm ẩn 1920 – 1926, Nxb Thuận Hóa xuất bản năm 1996…
Ở dạng thứ hai, diện mạo văn hóa – xã hội của Bến Tre được đề cập phần nào đó trong các công trình nghiên cứu nhiều mặt về tỉnh, tiêu biểu là:
- Cuốn Monographie de la province de Bến Tre (Địa phương chí tỉnh Bến Tre)
do người Pháp công bố năm 1930, trình bày khá hệ thống về vị trí địa lý, tự nhiên, sông ngòi, khí hậu, thủy lợi, tình hình kinh tế, cây trồng… nhưng nhìn chung còn sơ lược
Trang 9- Tác giả Huỳnh Minh, trong nhiều sách khảo cứu các tỉnh, thành ở Nam Bộ
được xuất bản vào những năm 60, đã đề cập vùng đất Bến Tre trong “Vĩnh Long
xưa”, “Định Tường xưa”, “Kiến Hòa (Bến Tre) xưa” Các tập sách này đã phác
họa vùng đất Bến Tre qua một số chi tiết về lịch sử, địa lý, nhân vật, giai thoại, huyền thoại, di tích, thắng cảnh, cây dừa, địa danh năm xưa…
- Trong công trình nghiên cứu Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm
1757 đến 1945 của tác giả Nguyễn Duy Oanh, Phủ Quốc Vụ Khanh Sài Gòn xuất
bản năm 1971, tuy nội dung còn sơ lược, nhưng có thể tìm được những tư liệu về vùng đất Bến Tre trên các lĩnh vực địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, việc tổ chức hành chính của chính quyền họ Nguyễn và thực dân Pháp, một số phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, một số nhân vật lịch sử
- Ba Tri đất và người của nhiều tác giả, Ban chấp hành Đảng bộ Ba Tri xuất
bản năm 1984, ngoài phần tư liệu về một số nhân vật lịch sử tiêu biểu gắn bó với Ba Tri, một số địa danh từng có những chiến công oanh liệt của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một số ngành nghề truyền thống, công trình còn đề cập một số di tích văn hóa của Ba Tri, về hát sắc bùa Phú Lễ…
- Bình Đại địa chí của Huỳnh Văn Tháp, Phan Ngọc Đằng chủ biên, Ủy ban
nhân dân huyện Bình Đại xuất bản năm 1987, cung cấp nhiều tư liệu ở nhiều lĩnh vực như địa lý, lịch sử, dân cư, kinh tế, văn hóa, giáo dục… của cù lao An Hóa nói chung, huyện Bình Đại nói riêng trong các thế kỷ XVII – XX
- Địa chí Bến Tre, do Thạch Phương, Đoàn Tứ chủ biên, cùng nhiều cộng tác
viên trong các ngành khoa học khác nhau, do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm
2001 là công trình nghiên cứu tỉ mỉ, công phu, đề cập đến nhiều mặt về tự nhiên, dân cư, lịch sử đấu tranh cách mạng, văn hóa, giáo dục,… của vùng đất Bến Tre từ thế kỷ XVII – XX
Ở dạng thứ ba, những công trình sưu tầm nghiên cứu chuyên sâu, đề cập đến
một số lĩnh vực văn hóa của Bến Tre như: Dân ca Bến Tre (Lư Nhất Vũ, Lê Giang,
Ty Văn hóa thông tin Bến Tre xuất bản 1981); Văn học dân gian Bến Tre (Nguyễn Phương Thảo, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1988); Hát sắc bùa Phú Lễ Ba
Trang 10Tri – Bến Tre ( Huỳnh Ngọc Trảng, Nxb TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 1992); Tuyển tập văn học chữ viết Bến Tre (Nguyễn Phương Thảo – Nguyễn Nhị Hà sưu
tầm, tuyển chọn, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1996); Tìm hiểu một số hiện
tượng văn hóa dân gian Bến Tre (Nguyễn Chí Bền, Nxb Khoa học xã hội xuất bản
năm 1997); Tang lễ người già ( của tác giả Lư Văn Hội, Sở Văn hóa thông tin tỉnh
Bến Tre xuất bản năm 2002)…
Nhìn chung, công trình nghiên cứu về vùng đất Bến Tre có khá nhiều Mỗi công trình nghiên cứu đề cập một hoặc một số vấn đề có liên quan đến diện mạo văn hóa – xã hội của vùng đất này Hiện chưa có công trình nào đề cập đầy đủ và
có hệ thống về diện mạo văn hóa – xã hội vùng đất này qua các thời kỳ từ thế XVII – XX
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic:
- Luận văn thuộc chuyên ngành khoa học lịch sử, do vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử làm phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu Bức tranh văn hóa – xã hội được miêu tả dưới góc độ lịch sử, trong bối cảnh, không gian
và thời gian cụ thể
- Phác họa bức tranh nghĩa là phải miêu tả, nhưng không chỉ dừng lại ở đó mà các sự kiện, hiện tượng, vấn đề đặt ra và giải quyết ở luận văn còn được phân tích, khái quát, nhận định, xem xét trong các mối liên hệ nhân quả, xem xét tính kế thừa, phát triển, mối liên hệ quá khứ - hiện tại- tương lai… Nói cách khác, người viết còn kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong quá trình nghiên cứu luận văn
4.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống:
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng không tồn tại riêng lẻ mà nó luôn nằm trong một hệ thống và chịu sự tác động, chi phối bởi các sự vật, hiện tượng khác Diện mạo văn hóa – xã hội của Bến Tre trong các thế kỉ XVII – XX được xem như một bộ phận diện mạo của khu vực Nam Bộ và của cả nước vào khoảng thời gian này
Trang 11- Các yếu tố, các lĩnh vực cụ thể của văn hóa được xem xét trong cùng một hệ thống, chịu chung tác động của những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử
- Với cách tiếp cận hệ thống, các yếu tố, các lĩnh vực cụ thể của văn hóa còn được xem xét trong mối quan hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau
4.3 Phương pháp liên ngành:
Xã hội loài người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trong nghiên cứu lịch sử, việc sử dụng tài liệu, kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan là rất cần thiết, giúp cho việc miêu tả, khôi phục đối tượng nghiên cứu được rõ ràng, làm cơ sở cho việc vững chắc cho việc giải thích, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu khác nhau
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng những thành tựu, kết quả nghiên cứu ở một số ngành có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: khảo cổ học, địa lý học, văn học, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, tôn giáo,… để so sánh, đối chiếu, miêu tả, dựng lại bức tranh văn hóa – xã hội của vùng đất Bến Tre trong các thế kỉ XVII – XX
4.4 Phương pháp khảo sát điền dã:
Tư liệu khảo sát điền dã cung cấp cho nhà nghiên cứu những hình ảnh, những câu chuyện, những hoạt động thực tế, sinh động Đây là một trong những nguồn tư liệu quý giá trong công tác nghiên cứu lịch sử Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã trực tiếp khảo sát, tiếp xúc với các di tích, hiện vật lịch sử, văn hóa; phỏng vấn những người am hiểu những vấn đề có liên quan đến đề tài nhằm thu thập thêm thông tin, tư liệu, làm cơ sở để so sánh, đối chiếu với tư liệu thành văn, góp phần miêu tả bức tranh văn hóa - xã hội
Trang 12Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh đồng đại để nhận diện sự giống nhau, khác nhau, những điểm chung, những nét đặc thù của diện mạo văn hóa – xã hội Bến Tre với khu vực Nam Bộ và cả nước trong từng thời điểm, giai đoạn
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thông qua việc chọn lọc và phân tích tư liệu lịch sử, luận văn dựng lại bức tranh toàn cảnh về văn hóa-xã hội của Bến Tre qua các thời kì, trong các thế kỉ XVII-XX
Luận văn cung cấp thêm những thông tin về diễn trình văn hóa-xã hội của địa phương nhằm bổ sung tư liệu về vùng đất này, làm cơ sở cho việc biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương nhằm bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy những thành quả, truyền thống mà các thế hệ cha anh đã xây dựng
Ở một mức độ nhất định, luận văn còn góp thêm cơ sở khoa học để lãnh đạo Tỉnh hoạch định chính sách văn hóa-xã hội của tỉnh nhà
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Về cấu trúc, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương
Chương I: Điều kiện tự nhiên của vùng đất Bến Tre
Chương II: Diện mạo văn hóa – xã hội của vùng đất Bến Tre trong các thế kỉ XVII- XX
Chương 3: Con người Bến Tre
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE
1.1 Vị trí địa lý
Bến Tre hiện nay là 1 trong 13 tỉnh nằm ở đồng bằng sông Cửu Long Vùng đất Bến Tre được hợp thành bởi ba cù lao lớn là: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh, do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long: sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên bồi tụ qua nhiều thế kỉ
Nhìn trên bản đồ, vùng Bến Tre có hình chiếc quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các sông lớn giống như nan quạt xòe ra phía Biển Đông Diện tích tự nhiên của Bến Tre là 2.315,01km2 Phía Bắc, Bến Tre giáp tỉnh Tiền Giang, ranh giới chung là sông Mỹ Tho; phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, ranh giới chung là sông Cổ Chiên; phía Đông giáp Biển Đông, bờ biển dài 65km
Về tọa độ địa lý, điểm cực nam của Bến Tre nằm trên vĩ độ 9048’ bắc, thuộc huyện Thạnh Phú; cực Bắc nằm trên vĩ độ 10020’ bắc, thuộc huyện Châu Thành; điểm cực đông nằm trên kinh độ 106048’ đông, thuộc huyện Bình Đại; điểm cực Tây nằm trên kinh độ 105057’ đông, thuộc huyện Chợ Lách
Đường bộ đi từ thị xã Bến Tre đến thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền Giang
và Long An) dài 86km Quốc lộ 60 từ phà Rạch Miễu, qua thị xã Bến Tre, phà Hàm Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến phà Cổ Chiên dài 35,39km Quốc lộ 57 nối với quốc lộ
60 ở thị trấn Mỏ Cày, qua Chợ Lách, sang Vĩnh Long, đoạn trên đất Bến Tre dài 40,65km Bến Tre có 6 tỉnh lộ Tỉnh lộ 882 nối quốc lộ 60 từ ngã ba chợ Xếp đến quốc lộ 57, dài 10 km Tỉnh lộ 883, từ ngã tư huyện Châu Thành đến Thới Thuận, Bình Đại, dài 58,33km Tỉnh lộ 883B từ ngã ba Đê Đông đến bờ biển xã Thừa Đức dài 8,1km Tỉnh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến phà Tân Phú dài 24,45km Tỉnh lộ 885 từ Thị xã đến Tiệm Tôm, Ba Tri dài 45,5km Tỉnh lộ 886 từ ngã tư Phú Khương đến ngã ba Phú Hưng, tiếp giáp với đường tỉnh 885, dài 5,3km Tỉnh lộ 887
từ Thị xã đến ngã ba Sơn Đốc, dài 23,57km Tỉnh lộ 888 từ ngã ba Thom, Mỏ Cày đến Khâu Băng, Thạnh Phú, dài 51,62km
Trang 14Trước đây, từ ba cù lao của Bến Tre, có thể đến miền Đông, miền Tây Nam
Bộ bằng ghe thuyền đi sông, có thể xuống vùng Cà Mau, ra miền Trung bằng ghe thuyền đi biển Ngược lại từ miền Trung vào, miền Đông xuống, miền Tây lên, người ta cũng có thể sử dụng những phương tiện tương tự như vậy Từ khi có tàu thủy, ghe máy, sự giao lưu càng thuận tiện, tấp nập hơn Đặc điểm địa lý này đã tác động đến nhiều mặt đến suốt quá trình hình thành, phát triển Bến Tre
1.2 Quá trình kiến tạo, bồi đắp vùng đất Bến Tre
Về lịch sử phát triển địa chất, theo kết quả nghiên cứu của ngành địa chất học[66, tr.187], vùng đất Bến Tre được hình thành ở giai đoạn sau cùng của sự bồi
tụ đồng bằng sông Cửu Long, gắn liền với quá trình phân nhánh của sông Cửu Long
Đầu thời kỳ cận sinh, cách nay 70 triệu năm, một cuộc biển tràn nhỏ đã dìm phần cực nam của Bến Tre xuống dưới nước mặn, cùng lúc với khu vực Trà Vinh
và Vĩnh Long Vào thời điểm cách nay khoảng 40 triệu năm, biển rút ra, để lại trầm tích đất liền thô hạt Đây là trầm tích chứa nước ngọt đầu tiên, nằm ở độ sâu trên 500m, bên dưới khu vực thị xã Bến Tre
Thời tân sinh cách nay 30 triệu năm, một cuộc biển tràn làm ngập toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long Sau đó, biển lùi ra chút ít, nhưng khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trừ An Giang (nhờ móng đá Bảy Núi khá cao), vẫn còn chìm trong biển nước Tiếp theo, biển lùi thật nhanh, để lại trầm tích đất liền chứa nước
lợ Cách nay khoảng 8 triệu năm, một lần nữa biển lại tràn, lấp gần trọn khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đưa nước mặn đột nhập phù sa nước lợ trước đó, làm cho cả vùng đồng bằng bị mặn Cuộc biển tràn lần này chấm dứt cách nay khoảng 3 – 4 triệu năm Riêng khu vực Ba Tri, cách nay khoảng một triệu năm lại còn một cuộc biển tràn cục bộ Đất Bến Tre chỉ mới xuất hiện trên mực nước biển từ khoảng 4.500 năm trở lại đây
Theo tài liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường, khoảng 4.500 năm – 5.000 năm cách đây, có một cồn sông khá lớn xuất hiện ở phía dưới khu vực Chợ Lách hiện tại Sau đó, một số giồng cát được hình thành ở phía đầu cồn, dấu vết ngày nay
Trang 15hiện còn ở phía nam Chợ Lách Một cù lao lớn thứ hai xuất hiện ở khu vực Châu Thành, tạo nên một cửa sông mới, đó là cửa sông Mỹ Tho Cùng lúc đó, sông Ba Lai, sông Hàm Luông được hình thành Các con sông này lấn biển và bồi đất rất nhanh chóng, tạo nên các giồng cát nằm sát nhau
Trước kia, Bến Tre vốn là những cù lao được hình thành riêng lẻ do phù sa của sông Tiền lắng đọng Những nhánh sông chia cắt các cù lao cũng bị phù sa dần dần lắp nghẽn Các cù lao dần dần được chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre như hiện tại Trên địa bàn Bến Tre, dấu tích của những dòng sông cổ bị lấp vẫn còn ở nhiều nơi như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp với nhiều hợp chất hữu cơ, đặc biệt là những dòng nước ngọt ngầm sâu hàng chục mét
Thực trạng sông Ba Lai hiện nay đang tái lập hình ảnh của các dòng sông cổ
bị lấp Sự bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở đầu phía trên Do vậy, lòng sông đã bị xóa hẳn ở đoạn qua huyện Châu Thành, gần xóa ở đoạn qua huyện Giồng Trôm, sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại Xu thế bồi tụ vùng cửa sông ven biển ở Bến Tre vẫn đang tiếp diễn
trên bề mặt địa hình còn có các giồng cát Giồng là kết quả tác động của dòng sông
và sóng biển Các giồng có dạng vòng cung hay rẻ quạt, cao từ 3 - 5m, chạy dài từ 5 – 7km theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, song song với đường bờ biển Ở các khu vực này, nhiều địa danh mang từ giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Chuối…
Giồng là đất lý tưởng cho cây dừa phát triển Ngay cả những giồng mới ven biển, dừa cũng mọc được nhờ có lớp cát dày, độ thoát nước cao, không có phèn Đất
Trang 16giồng là cát pha, nên không co rút, dễ nén, độ thoát nước cao, thích hợp cho việc xây dựng các công trình bán kiên cố Giồng cổ là nền móng tốt cho nhà nhiều tầng, sân bay Có nơi, giồng chuyển thành bưng, có đất cát pha sét Đất này có thể được dùng làm gạch ép
Giữa hai giồng thường là một vùng trũng, được gọi là phẳng giữa giồng
Những phẳng giữa giồng rộng trên 1000m bắt đầu có tầng sinh phèn ở độ sâu 0,5 – 1m, bên dưới lớp phù sa mới nhất Nếu đào bới ở những nơi này sẽ làm dậy phèn lên
Phẳng giữa giồng là nơi thích hợp cho các loại cây trồng như lúa, mía, hoa màu, với điều kiện phải có nước tưới, vì những khu vực này thường bị nhiễm phèn Khi làm công tác thủy lợi, cần tránh việc làm dậy phèn ở sâu bên dưới
Ngoài đất giồng, đê tự nhiên hay đê sông cũng là phần đất cao Đê thành lập vào mùa lũ, khi nước sông dâng lên cao, tràn qua hai bên bờ Vật liệu thô, theo dòng nước trôi lơ lửng trên mặt nước, cũng tràn vào hai bên bờ Năm này sang năm khác, vật liệu thô kế tiếp nhau lắng xuống, tạo ra bờ đê cao hơn đất liền bên trong
Đê tự nhiên là nơi cao ráo, có nhiều điểm nổi bật về nông nghiệp so với các loại đất khác ở các trũng Mỗi năm, đê được bồi thêm phù sa mới, mang độ phì cao cho đất Đất đê giữ độ ẩm tốt vào mùa nắng Sau đất giồng, đê tự nhiên là nền móng tốt hơn hết so với các đơn vị bồi tích khác Đất ở đê rất phù hợp cho việc sử dụng làm đất thổ cư, trồng cây ăn trái
Phía sau đê sông là khu đất thấp hơn, được gọi là bưng sau đê Đất của bưng
sau đê không có phèn Nếu có phèn là do thảm thực vật úng thối tại chỗ tạo nên, với tổng lượng lưu huỳnh không quá 1% Loại phèn nước ngọt này, nói chung, không gây hại đến cây trồng
Bưng sau đê ở Bến Tre thường phủ lên cồn sông cổ, đất ẩm, không phèn, nên bưng sau đê rất thích hợp đối với cây lúa, rau màu và cây dừa Đây là một loại đất nông nghiệp khá tốt, song diện tích không lớn so với các loại đất khác
Trầm tích do lũ đưa về, gồm cát lơ lửng trong lòng nước và sạn sỏi chạy dài trên đáy sông Chúng tích tụ lại thành lượn, gọi là lượn cát sông Ban đầu lượn cát
Trang 17nằm dưới mặt nước, về sau nhô dần lên khỏi mặt nước và có thực vật phủ lên, trở thành cồn sông hoặc cù lao Dọc các sông lớn còn có rất nhiều cù lao (cồn), được hình thành Trên sông Mỹ Tho có Cồn Phụng, Cồn Tàu Sông Hàm Luông có Cồn
Ốc, Cồn Linh Sông Cổ Chiên có Cồn Phú Đa, Cồn Dung…
Đối với nông nghiệp, cù lao hay cồn sông có giá trị kinh tế khá cao Đất cồn không có phèn, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
Phần đất thấp, từ 1 – 1,5m, gồm có 2 dạng Trước hết, đó là khu vực các lòng máng của các lòng sông cổ và mới, đã bị lấp hoàn toàn hoặc một phần bởi trầm tích
lũ, cụ thể là các khu vực như Phước An, Phước Tú (Châu Thành), Phong Phú, Phú Hòa (Giồng Trôm) Dạng thứ hai là những vũng mặn cổ, hiện cũng đã được lấp đầy từng phần như xóm chợ cũ, Mỹ Hòa (Ba Tri), Bình Quới (Giồng Trôm)
Phần đất trũng thật thấp ở khu vực ven biển, có độ cao không quá 0,5m Phần đất này luôn luôn ngập dưới mực triều trung bình, bao gồm những đầm mặn
và bãi thủy triều Đất đầm mặn có nhiều ở Bình Đại, trở nên ít dần ở Ba Tri và Thạnh Phú
Bãi thủy triều có địa mạo bằng phẳng Tuy vậy, mặt trên của bãi thủy triều
bao giờ cũng có dấu vết của dòng nước và sóng Bãi thủy triều gồm có hai loại Loại thứ nhất là bãi cát thủy triều, nằm ở những nơi có sóng gió to Loại thứ hai nằm ở những nơi khuất sóng, trong vũng kín hoặc nửa kín, bao gồm bùn pha sét và chất hữu cơ, nên được gọi là bãi bùn thủy triều Bãi cát thủy triều có thể sử dụng làm bãi tắm phục vụ khách du lịch Bãi bùn thuỷ triều, đến nay vẫn chưa thấy có công dụng gì đáng kể
Bãi thủy triều được bồi tích liên tục Các tác giả quyển Địa chí Bến Tre
(2001) cho biết, trong 21 năm, từ 1968 – 1989, tổng diện tích bồi tụ của Bến Tre là
61, 170 km2 Trong đó, huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989
km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2 Tốc độ bồi tụ bình quân mỗi năm là 2,33
km2[18, tr.168-169]
Bãi thủy triều thuộc môi trường nửa nước nửa khô Mỗi ngày, bãi bị ngập hai lần và bị phơi khô hai lần Ở khu vực gần cửa sông, bãi thủy triều là môi trường
Trang 18sống thuận lợi của hàu, ngao, sò huyết Nhiều nơi, người ta đã phát hiện được những đống vỏ lớn, nhân dân gọi đó là những mỏ hào, mỏ ngao, mỏ sò huyết Ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú đều có lác đác những đống vỏ như vậy
Bờ biển Bến Tre chủ yếu là những bãi bồi rộng Khi triều rút, bãi bồi trải rộng ra phía biển hàng ngàn mét, rất thuận lợi cho việc nuôi thủy sản nước mặn như nghêu, sò
Chất trầm tích ở bãi thủy triều chứa các loại vi sinh vật khá phong phú, là nguồn thức ăn cho các vật nuôi, đặc biệt là tôm
Địa hình vùng đất Bến Tre khá đa dạng, bị chia cắt bởi sông ngòi, kênh rạch, địa hình tương đối bằng phẳng, có những khu vực tương đối cao, như các giồng đất
và đê tự nhiên, có những vùng đất thấp như bưng, trũng, bãi bồi Những khu đất cao
là nơi thuận tiện cho cư trú trong buổi đầu khai phá, để rồi, từ những khu đất cao này, các thế hệ lưu dân đã mở rộng diện tích khai phá xuống các vùng bưng, trũng
1.4 Thổ nhưỡng
Đất đai ở Bến Tre là sản phẩm của quá trình bồi tụ phù sa của đồng bằng sông Cửu Long Do có lịch sử canh tác lâu đời, đất đai ở đây đã trải qua những biến chuyển quan trọng Nhiều vùng đất mặn, đất phèn đã được ngọt hóa Việc đào mương, lên liếp đã làm thay đổi gần một nửa diện tích đất đai trong tỉnh
Đất ở vùng Bến Tre gồm 4 nhóm chính: đất phù sa, đất mặn, đất phèn và đất giồng cát
Đất phù sa chiếm 66.471 ha (26,9% diện tích đất toàn tỉnh), phân bố chủ yếu
ở khu vực tây bắc của tỉnh như Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày Loại đất này thích hợp cho việc phát triển nghề làm vườn, trồng cây ăn trái Đất phù sa ở Bến Tre được hình thành từ trầm tích của các lòng sông cổ Đây là những nơi quần cư sớm trong lịch sử khai thác đất Bến Tre Các tầng đất sâu trên 50cm đã qua thời gian canh tác dài, bị thoái hóa nghiêm trọng, biểu hiện ở sự chai cứng trong các tầng đất Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt nhưng nguồn dự trữ lân không đủ Một số nơi, đất đang có biểu hiện suy thoái, trong quá trình khai thác cần lưu ý đến việc bảo dưỡng
Trang 19Đất mặn chiếm diện tích 96.730ha (43,22% diện tích toàn tỉnh) phân bố chủ
yếu ở các huyện ven biển như Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Nhóm đất này được hình thành từ trầm tích hỗn hợp sông, biển, mang dấu ấn của tác động biển trong thành phần của đất
Loại đất mặn ít và trung bình phân bố ở địa hình từ 0,8 – 1,2m, cách xa biển
và sông lớn Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô bị bỏ trống, chế độ bốc hơi mạnh, nên đất bị kết vón ở độ sâu 80 – 100cm
Loại đất mặn nhiều phân bố ở địa hình thấp hơn Triều cường tràn lên làm cho tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa
Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố ở khu vực ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng mắm, sú, vẹt Loại đất này bị ngập thường xuyên do thủy triều, đất có độ mặn rất cao, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp
Nhìn chung, nhóm đất mặn không thuận lợi cho việc trồng trọt, song không
có nghĩa là không thể khai thác được Đối với loại đất mặn ít, chỉ nhiễm mặn trên bề mặt, có thể cải tạo để trồng lúa, mía, dừa… Loại nhiễm mặn thường xuyên (ven biển) thích hợp với các loại cây ngập mặn, có thể khai thác để trồng rừng, kết hợp nuôi thủy sản
Đất phèn chiếm diện tích 15.127 ha (6,741% diện tích toàn tỉnh), phân bố rải
rác ở từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn, cụ thể là ở những nơi có địa hình thấp, khó tiêu nước
Hầu hết đất phèn ở Bến Tre có tầng phèn sâu trên 50 cm, nên chưa phải là loại đất hoàn toàn hạn chế đối với sự sinh trưởng của cây lúa Ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ nguồn gốc bưng, trũng hoặc sông cổ Do quá trình bồi tụ của các dòng sông, các lớp đất phèn được phủ lên mặt bởi lớp trầm tích sông Bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh, lập vườn, người dân đã làm cho các khu vực đất phèn trở nên thoáng khí và khô ráo Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc vùng
lợ và vùng mặn (khu vực Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, trong mùa khô, sự xâm
Trang 20nhập mặn vào đất phèn làm cho đất vừa phèn, vừa mặn nên cây trồng rất khó sinh trưởng)
Nói chung, đất phèn ở Bến Tre có thể tận dụng để canh tác lúa, nhưng năng suất thường không cao
Đất cát, chủ yếu là đất giồng, chiếm 14.248ha (6,44% diện tích toàn tỉnh)
Loại đất này được hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong quá trình lấn biển của vùng cửa sông Dưới tác động của khí hậu và của con người qua hàng trăm năm, những giồng đất được hình thành sớm không còn tơi xốp như những giồng hình thành sau ở khu vực Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước, tầng mặt thường rất khô Loại đất này ít cua ở tầng mặt, nghèo hữu cơ, độ phì thấp, thiếu đạm nghiêm trọng Do đất cát giồng có khả năng giữ nước và giữ phân kém, nên chủ yếu được sử dụng làm đất
cư trú kết hợp với trồng rau màu và cây lâu năm
Kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên và Môi trường từ 1990 – 2000 cho thấy, mặc dù đất đai ở Bến Tre có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế, do có sự hiện diện của nhiều chất đối kháng ở mức độ cao Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất cây trồng sẽ tăng lên đáng kể Tuy nhiên, ở một số khu vực, do sử dụng các biện pháp canh tác không hợp lý nên dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa, năng suất cây trồng bị giảm sút hoặc không tăng Đất đai ở đây vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã làm cho đất mất dần những chất dinh dưỡng chủ yếu Việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ đã làm cho đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng
Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, mỗi năm chỉ gieo trồng được một vụ lúa vào mùa mưa, bỏ hóa ở mùa khô, không có thảm thực vật che phủ Ở các huyện ven biển như Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ, bị bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, bị nứt nẻ
và chuyển biến theo chiều hướng xấu
Trang 21Hạn chế lớn nhất đối với đất đai ở đây là gần 50% diện tích tự nhiên là đất mặn, đất phèn Việc khai thác đòi hỏi con người phải có biện pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai, vấn đề đặt ra
là việc khai thác phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất theo quan điểm phát triển nông nghiệp toàn diện để vừa khai thác có hiệu quả, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên
1.5 Khí hậu
Bến Tre nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nhiệt
độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình trong năm từ 260 C - 270C, không
có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200 C Do nằm ở vĩ độ thấp nên Bến Tre tiếp nhận ánh nắng dồi dào, độ dài ban ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho
sự phát triển của cây trồng Mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày từ 8 – 9 giờ Mùa mưa, mỗi ngày nắng khoảng 5 – 7 giờ
Trong mùa mưa, gió thịnh hành là gió tây nam đến tây tây nam, tốc độ trung bình cấp 3 – cấp 4 Từ tháng 5 – tháng 11, gió chuyển tiếp yếu, gồm có cả gió đông bắc đến gió đông nam, tốc độ trung bình ở khoảng cấp 2
Từ tháng 12 đến tháng 4, đây là thời kỳ khô hạn, Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió chướng Đây là loại gió có hướng đông bắc đến đông nam, gây trở ngại cho trồng trọt, nhất là các huyện ven biển Gió chướng thổi mạnh sẽ đẩy nước biển chảy ngược vào các sông lớn, tràn vào hệ thống kênh rạch, làm nhiễm mặn đồng ruộng Bọt nước biển được gió đưa vào bám các mầm non, làm hạn chế sự phát triển của cây lúa và nhiều loại hoa màu khác
Nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm, Bến Tre có một mùa mưa, từ tháng 5 – tháng 11 và một mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm Ở vùng ven biển, lượng mưa thấp hơn các khu vực khác Lượng mưa tại khu vực thị xã Bến Tre nhiều hơn
cả
Trang 22Nhờ hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nên độ ẩm trong không khí tương đối cao Trong mùa khô, độ ẩm trung bình từ 83 – 90% Độ ẩm nhỏ nhất thường xảy ra vào tháng 12 và tháng 1, từ 40 – 50%
Bến Tre tiếp giáp với Biển Đông, nhưng ít chịu ảnh hưởng của bão, vì bão thường xảy ra từ 150 bắc trở lên Tuy vậy, cũng có một đôi lần Bến Tre bị bão gây
thiệt hại khá nặng Nguyễn Duy Oanh ghi trong Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt
Nam: “Bão năm Giáp Thìn (1904) có ảnh hưởng lớn đến sông ngòi ở Bến Tre
Những bãi cát trước năm 1904 bao quanh vàm rạch Băng Cung (cù lao Minh), sau trận bão, làm bít gần trọn vẹn vàm sông này Vì thế, nước ngọt chảy vào rạch Băng Cung không được nhiều Nước biển dồn lên làm cho cả vùng gồm Giao Thạnh, An Nhơn, An Qui, An Thạnh phải thất mùa Chánh quyền địa phương từ năm 1938 đến năm 1941, phải đắp đập ngang sông Băng Cung phía gần biển tại vàm rỗng để ngăn nước mặn Hơn 14.000 mẫu ruộng nhờ đó mà cày cấy được”[62, tr.29] Năm 1997, tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 5 Bão số 5 với gió mạnh đã đẩy nước biển dâng lên tràn vào ruộng đồng, gây thiệt hại cho mùa màng và ghe tàu đánh cá trên 300 tỷ đồng Hậu quả của bão còn ảnh hưởng đến vụ sau, vì đất bị nhiễm mặn
Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, thời tiết nhìn chung thuận lợi, ít có những diễn biến bất thường Khí hậu Bến Tre phù hợp với nhiều loại cây trồng Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp, phát triển của cây trồng, vật nuôi
khăn Do nóng ẩm nên nạn sâu bệnh, dịch bệnh, nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm Vào mùa gió chướng, nước biển thường xâm nhập sâu vào đất liền, nhất là những năm nước ở thượng nguồn đổ về yếu, làm cho một số vùng bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Đây là trở ngại lớn trong nông nghiệp
Trang 231.6 Sông ngòi
Sông Tiền, trước khi đổ ra biển Đông, đã tách thành bốn nhánh như hình nan quạt, ôm gọn ba dải cù lao Bến Tre Đó là các sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên
Sông Mỹ Tho là tên của một nhánh sông Tiền bắt đầu từ cù lao Minh, ngang Vĩnh Long đến Cửa Đại Sông Mỹ Tho chảy theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, là ranh giới tự nhiên giữa Bến Tre và Tiền Giang Lòng sông sâu, càng ra biển càng rộng, trung bình từ 1.500 đến 2000 m Tàu có trọng tải 500 tấn có thể đi từ Cửa Đại đến tận Phnom Penh của Campuchia Trên sông có nhiều cồn lớn như cồn Thới Sơn, cồn Rồng, cồn Phụng, cồn Tàu Đây là những địa điểm thuận lợi cho việc khai thác dịch vụ du lịch sinh thái
Sông Ba Lai có chiều dài 55 km, nằm trọn vẹn trong vùng đất Bến Tre Trước kia, sông sâu và rộng, từ đầu thế kỷ XX, do phù sa từ thượng nguồn đổ về, sông bị cạn dần Dưới đáy sông có nhiều cồn ngầm, vào mùa gió chướng, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, rất nguy hiểm cho tàu thuyền đi lại Giữa năm
2000, tỉnh tiến hành xây dựng cống đập, ngăn dòng Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre
Sông Hàm Luông là ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và cù lao Minh Sông dài 70 km, sâu từ 12-15 m, rộng trung bình từ 1.200 – 1.500 m, gần cửa biển rộng hơn 3000 m So với các sông khác của tỉnh, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất Trên sông, có nhiều cù lao, cồn đất như cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Ốc, cù lao Lá, cồn Đất, cồn Lợi…
Sông Cổ Chiên dài khoảng 80 km, là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh Sông Cổ Chiên mang đặc điểm tương tự như sông
Mỹ Tho Trên sông này, có nhiều cù lao và cồn như cù lao Nai, cồn Chen, cồn Dung, cồn Lớn
Ngoài bốn sông lớn, Bến Tre còn có một mạng lưới dày đặc các sông nhỏ, rạch, kênh đào chằng chịt nối liền nhau Dọc theo các sông chính, khoảng 1 – 2 km
là có một con rạch hoặc con kênh Sông Bến Tre dài khoảng 30 km, một nhánh nối
Trang 24với kênh Chẹt Sậy, qua sông Ba Lai, một nhánh qua thị xã Bến Tre, đổ ra sông Hàm Luông Rạch Cái Mơn dài 11 km, chảy qua vùng cây trái nổi tiếng của Chợ Lách,
đổ ra sông Hàm Luông Kênh Mỏ Cày – Thom, dài 15 km, tạo ra đường lưu thông giữa sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông Rạch Băng Cung, như một cánh cung, dài
23 km, chảy từ Đại Điền, Mỹ Hưng, An Thạnh đến Giao Thạnh, đổ ra sông Hàm Luông Rạch Ba Tri dài 8 km, chảy từ Phú Lễ, Phú Ngãi qua thị trấn Ba Tri, đổ ra sông Hàm Luông, vừa có giá trị giao thông, vừa có giá trị tưới tiêu quan trọng cho các cảnh đồng của huyện Ba Tri Kênh Đồng Xuân dài 11 km, nối rạch Ba Tri với rạch Tân Xuân, được đào từ năm 1888 đến 1890 Kênh Chẹt Sậy – An Hóa được đào năm 1878, dài 6 km, nối sông Bến Tre với sông Ba Lai…
Hàng năm, sông Tiền đổ ra biển khoảng 286 tỷ m3 nước Các con sông chảy qua địa bàn Bến Tre được hưởng một lượng cát bùn khoảng 25 triệu tấn mỗi năm Cát bùn là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, một phần đổ ra các cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi
Dưới lòng các sông lớn ở Bến Tre có nhiều mỏ cát, đây là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho việc san lấp mặt bằng, cải tạo vườn tạp thấp, trong gia cố, xây dựng đường giao thông, nhà cửa Cát dưới lòng sông tập trung ở phía thượng nguồn của các sông lớn chảy qua địa bàn Bến Tre, với một số mỏ lớn như: Phú Túc – Phú Đức, Phước Thạnh (Châu Thành), Sơn Phú (Giồng Trôm), Cồn Phụng (Chợ Lách) Ngoài các mỏ cát này, dưới lòng các đoạn sông còn có một lượng cát khá lớn dùng cho san lấp, có thể liên tục được bổ sung sau khai thác
Về độ sâu của đáy sông ở các cửa sông lớn, cụ thể Cửa Đại sâu từ 5 – 9m, cửa Hàm Luông, sâu từ 6 –7m, cửa Cổ Chiên sâu từ 7 –8m, cửa Ba Lai sâu từ 5 – 7m Với độ sâu như vậy, vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá
nhân dân Bến Tre Sông đã chuyên chở phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho vùng đất, cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, cung cấp thức ăn giàu đạm như tôm, cá, cua, ốc Sông rạch góp phần làm đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu
Trang 25của vùng đất cù lao Vùng sông nước như Bến Tre, ven đôi bờ sông là những xóm làng đông đúc dân cư, những vườn cây ăn trái, những bến sông, bến phà, chợ búa tấp nập thuyền bè Sông rạch tạo nên mạng lưới giao thông thủy thuận tiện, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa
1.7 Thủy văn
Sông ở Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hàng ngày, hàng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào
Vùng biển Bến Tre thuộc khu vực bán nhật triều không đều Mỗi ngày đều
có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống Chênh lệch giữa đỉnh triều và chân triều ở những ngày triều lớn có thể từ 2,5 – 3,5m Những ngày triều kém, chênh lệch giữa đỉnh triều và chân triều khoảng 1m Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu 1,2 ngày triều kém, sau đó là triều cường, cuối chu kỳ lại có 1,2 ngày triều kém Kỳ nước cường diễn ra ở đầu tháng âm lịch và ngày rằm
Tốc độ trung bình của sóng triều truyền vào sông khoảng 30km/giờ đối với các sông lớn Đối với những sông nhỏ hoặc mạng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn Ở đây còn có sự giao thoa sóng triều trên những con sông có
sự truyền triều từ hai phía
Sự truyền triều vào trong sông vừa có những tác dụng tích cực, đồng thời cũng mang lại những tác hại không nhỏ
Ở những vùng xa cửa sông, thủy triều trong ngày có tác dụng rất lớn trong việc thau chua rửa mặn Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, nhờ vậy người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào trong đồng ruộng Khi triều rút, mực nước xuống thấp, người ta có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông Trong giao thông vận tải, người ta có thể lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn đi lại, tiết kiệm được nhiên liệu
Tuy nhiên, ở những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng cao sẽ gây ra tình trạng ngập lụt Nghiêm trọng hơn, chính thủy triều đã dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn ở Bến Tre
Trang 26Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình Các con sông chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, nên nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng vào mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt
Sự dao động của mặn phụ tuộc sự dao động của thủy triều và lượng nước ngọt từ thượng nguồn đổ về Mùa lũ, lượng nước ngọt càng lớn, mặn càng bị đẩy ra
xa Tuy vậy, vùng giáp biển, độ mặn luôn lớn hơn 2‰
Theo kết quả quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn tỉnh từ 1982 – 1993 [66, tr.171-172]:
Độ mặn trên 4‰ gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 đến tháng 4, ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hóa, thị xã Bến Tre về phía thượng nguồn)
Đường đẳng mặn 4‰ ở tháng 12, xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 9km, qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú); vào tháng 2, cách bờ biển Ba Tri 37km qua các xã Giao Hòa (Châu Thành), Phú Hưng (Thị Xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày)
Đường đẳng mặn 6‰ vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri) Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện
Mỏ Cày)
Đường đẳng mặn 15‰ vào tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú)
Trang 27Đường đẳng mặn 20‰ cách bờ biển Ba Tri 5km vào tháng 4 Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền
Sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất, do sông này đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, lượng nước từ thượng nguồn đổ về lại quá nhỏ Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất, do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, vào mùa cạn lưu lượng nước lớn nhất so với các sông lớn khác ở Bến Tre
Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều Vì vậy, cùng khoảng cách với cửa sông, độ mặn trong kênh rạch bao giờ cũng lớn hơn trong sông
Việc xâm nhập mặn vào đất liền ở Bến Tre đã chia vùng đất này thành 3 vùng sinh thái Vùng nước ngọt chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên, bao gồm huyện Chợ Lách, Châu Thành, một phần huyện Mỏ Cày, thị xã Bến Tre, với đặc điểm là mùa khô không bị mặn, hoặc độ mặn thấp hơn 2‰ Vùng nước lợ chiếm khoảng 27% diện tích tự nhiên, bao gồm các huyện Giồng Trôm, một phần Mỏ Cày, Bình Đại, thị xã Bến Tre, với đặc điểm là mùa khô nước sông bị nhiễm mặn từ 2‰
- 8‰ trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 Vùng nước mặn chiếm 36% diện tích tự nhiên, bao gồm huyện Thạnh Phú, phần lớn huyện Bình Đại, Ba Tri, với đặc điểm
bị nhiễm mặn hơn 5 tháng, độ mặn từ 10‰ – hơn 25‰
Chất lượng nước tưới có ý nghĩa sống còn đối với cây trồng Do vậy, vấn đề mặn ở Bến Tre cần phải được quan tâm nghiên cứu, để nắm bắt quy luật diễn biến của mặn, từ đó mà bố trí cây trồng, thời vụ cho hợp lý
1.8 Thực vật
Vùng đất Bến Tre, cũng như nhiều nơi ở Nam Bộ, trước khi lưu dân người Việt, người Hoa đến khai phá, vẫn còn là một vùng rừng rậm, hoang vu Năm 1296, Châu Đạt Quan – sứ thần nhà Nguyên khi đi thuyền từ biển vào sông Tiền để lên Kinh đô Angkor của Vương quốc Chân Lạp đã mô tả tình trạng hoang vu của vùng
đất này trong quyển Chân Lạp phong thổ ký như sau: “Những cửa rộng của con
Trang 28sông lớn chạy dài hàng trăm lí, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum xuê Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẫy Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùng này Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lí” [68, tr 80] Mãi đến những thập niên cuối thế kỉ
XVIII, như Lê Quý Đôn viết trong Phủ biên tạp lục: “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai,
từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu, toàn là rừng rậm hàng mấy nghìn dặm”[21, tr.345]
Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, phần sản
vật chí: “loài tre rất nhiều, không thể chép ra hết được… các trấn Vĩnh Thanh, Định
Tường sản xuất thứ tre tầm vông, chu vi thân cây 3, 4 tấc, bền đặc, nhẹ thẳng, dùng làm cán giáo, trấn khác không có” [22, tr.165] Gỗ sao “to đến 4,5 vầng ôm, cao đến
100 thước, thớ gỗ chắc mịn, đóng thuyền làm nhà là gỗ tốt nhất” [22, tr.162] Cây dầu dùng làm thuyền ghe, đồ dùng “Người ta thường đục ở gần gốc cây 2, 3 lỗ, lấy lửa đốt vào lỗ ấy thì chảy nhựa ra thành dầu, cứ lỗ đục mà lấy thìa múc, chảy mãi không hết Dùng để sơn thuyền, thắp đèn, lợi rất nhiều [22, tr.163]
“Lại có thứ dừa nước không có cành cội, bắt đầu đâm ra ở trong lùm, mầm nhọn, dần dần nở to, xin xít lá xanh, cuống dài thành tầu, hình như đuôi phượng, trùng điệp mọc nối nhau dần dần thành bụi, cao hơn một trượng Lấy tầu nhỏ bổ làm đôi, để cả lá phơi khô, dùng để lợp nhà, tầu to thì cắt là rời ra, đan thành tấm lá, cũng để lợp nhà, che thóc gạo, vỏ ngoài tầu có thể dùng làm lõi xâu tiền” [22, tr.165]
Trịnh Hoài Đức ghi trong Gia Định thành thông chí: “cây dừa, chỗ đất nước
ngọt hay mặn đều trồng được cả Quả dừa non hay già, đều ăn được Cùi già nấu dầu, dùng để xức tóc, nấu món ăn, đốt đèn đều dùng được cả Xe vỏ dừa chắp thừng, dây chão, dây thuyền; sọ dừa chạm bịt làm chén bát, bình, hồ, cưa ra làm môi, gáo Có thứ sọ nhỏ như quả trứng gà, hơi dẹp dùng làm bình đeo thuốc súng, chén nhỏ uống nước, người đời quý trọng.” [22, tr.165]
Trang 29Khi lưu dân đến khai phá, họ đã chặt cây phá từng để làm nhà cửa, lập vườn, lấy đất canh tác Dân số ngày càng gia tăng thì diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp Bom đạn, chất độc hóa học trong chiến tranh cũng là nhân tố làm thảm thực vật ở Bến Tre bị tàn phá
Hoạt động của con người trong hàng trăm năm qua đã làm cho thảm thực vật
ở vùng đất này bị thay đổi rất nhiều Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, thảm thực
vật nguyên thủy được thay bằng những cảnh quan nhân tạo
Trên các giồng cát, trước đây cũng có những khu rừng với cây thân gỗ cao,
có cây cao đến 20m, thuộc họ sao dầu, họ trôm xen lẫn một số cây là vết tích của rừng ngập mặn như các loại tra, tra lâm vồ, cui, mù u, nhàu, mướp xác Vì đây là khu vực tương đối cao, có nước ngầm ngọt nên thường được lưu dân chọn để cất nhà, xây dựng thôn ấp Do vậy, rừng cây ở khu vực giồng cát bị chặt phá sớm nhất Hiện nay, trong khuôn viên các đình chùa, còn lại vài cây gỗ lớn, đây là vết tích của những khu rừng rậm ngày xưa
Vùng nước lợ trong nội địa có các loại cây như quao nước, tra, bình bát, dứa gai, trâm gối, trâm sẻ Ngoài ra còn có các loài dây leo như mây nước, bòng bong, dây vác, dây mủ, dây choại… Khu vực có nước ngọt quanh năm có các loài cây thân gỗ như cà na, chiếc, gáo, trâm bầu, bằng lăng nước Dưới nước có các loại như lau sậy, dây lùng, lục bình, tâm bức, môn nước…
Ở vùng bưng trũng, xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thuỷ triều, dừa nước là loài cây chiếm ưu thế
Vùng ven biển có các khu rừng ngập mặn Kiểu rừng này có cây thân gỗ thấp, cao khoảng 8 –15 m, chỉ có một tầng cây Cây ở rừng ngập mặn có các loại mắm trắng, bần đắng, đước, vẹt, dà, sú, chà là, mắm lưỡi đồng Những khu vực trũng, sâu trong nội địa, nơi nước sông nước mưa hòa với nước biển làm cho độ mặn thấp, thường có các khu rừng lá, chiếm ưu thế là lá dừa nước, xen vào đó là những bụi bần chua, bên dưới là cóc kèn, ô rô, mái dầm…
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái đặc sắc ở vùng cửa sông, ven biển, mang lại nhiều giá trị cho đời sống của cư dân Rừng cung cấp cho nhân dân địa phương
Trang 30nhiều loại sản phẩm có giá trị như: gỗ, củi, than, lá dừa nước (để lợp nhà), các loại thuỷ sản, hải sản (cá, tôm, cua, nghêu, sò huyết…) Cây ở rừng ngập mặn hình thành những “đê” tự nhiên góp phần giảm nhẹ hoạt động của sóng biển, gió chướng, hạn chế tác hại của quá trình xói lở bờ biển Trên những khu vực bùn lỏng mới bồi, các loài cây như bần, mắm, với hệ thống rễ thở có tác dụng tích đọng phù sa, cố định bãi bồi góp phần tăng nhanh diện tích đất bồi của tỉnh
Rừng ngập mặn còn có tác dụng như một hệ thống lọc sạch nước khổng lồ thông qua quá trình hấp thu, chuyển hoá chất trong nước đã lọc sạch những chất gây
ô nhiễm môi trường từ phía đại dương vào đất liền hoặc trong đất liền thải ra biển, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển
Các khu rừng này còn là nơi cư trú, sinh sản, phát triển, cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản ven biển Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, các cành lá khô rụng được vi sinh vật phân huỷ thành mùn bã hữu cơ, kết hợp với mùn bã hữu
cơ trong nước đưa từ sông ra, cùng với các phiêu sinh vật, động vật… làm nguồn thức ăn dồi dào cho ấu trùng tôm, cá… Nhiều loài thuỷ sản (như tôm càng xanh) sống ở môi trường nước ngọt, lợ nhưng sinh sản trong môi trường rừng ngập mặn; các loài tôm biển (như tôm thẻ, tôm sú…) sinh sản ở vùng biển nhưng tôm con thường di cư vào rừng ngập mặn để sinh sống, kiếm ăn, đến thời kỳ sinh sản, tôm lại đi ngược ra biển Các vùng bãi bồi rừng ngập mặn còn là nơi cư trú của các loài
sò huyết, cua,… Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú, sinh sống của nhiều loài chim, thú rừng
Thảm thực vật ở Bến Tre có công dụng và lợi ích rất lớn, rất đa dạng đối với cuộc sống người dân nơi đây Rừng ở Bến Tre, ngoài việc che phủ và bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, là nơi cư trú của nhiều loài thú, còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý cho đời sống nhân dân Các loại gỗ như sao, dầu, xà cừ, tràm, đước, vẹt, tre, bạch đàn, dừa nước… là vật liệu làm nhà cửa và các vật dụng sinh hoạt như bàn, ghế, tủ, giường, ghe Lá dừa nước, tre, trúc, sậy, xơ dừa, gáo dừa, mây… là nguồn nguyên liệu của nhiều nghề thủ công Lá mắm, lá so đũa là nguồn thức ăn cho gia súc Cây lứt, nhàu, bạc hà, cỏ tranh, cỏ xước, mù u, hà thủ ô… là những loại dược
Trang 31liệu đông y thông dụng Bông súng, ngó sen, bông điên điển, bông lục bình, rau nhút, rau đắng… là nguồn thực phẩm, góp phần làm cho bữa ăn của người dân thêm phong phú Chất tananh trích từ vỏ cây dà, đước, vẹt của rừng ngập mặn là nguyên liệu cho công nghiệp Nước ngọt lấy từ buồng dừa nước có thể chế biến thành nước giải khát lên men, hoặc cất thành cồn Gỗ bạch đàn, bần, lau, sậy, tre, rơm, rạ là nguyên liệu làm bột giấy Đối với vùng ven biển, rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, gia tăng nguồn lợi thủy sản, góp phần phát triển kinh tế – xã hội
Buổi đầu khai phá, rừng rậm hoang vu là trở ngại lớn đối với lưu dân Rừng hoang là môi trường sống của thú dữ Chặt phá rừng để làm nơi cư trú, canh tác không phải là việc làm đơn giản, mà đòi con người phải có ý chí, nghị lực Tuy vậy, như đã phân tích, rừng và thảm thực vật nói chung đã mang lại nhiều giá trị cho cuộc sống của con người ở vùng đất Bến Tre Do vậy, tỉnh cần phải có kế hoạch nghiên cứu để khôi phục, bảo vệ và khai thác thảm thực vật một cách hợp lý
1.9 Động vật
Trước khi lưu dân đến khai phá, vùng đất Bến Tre phần lớn là rừng rậm, trong đó ngoài cây gỗ đủ loại, còn có nhiều loại thú rừng to lớn như voi, tê giác, trâu rừng, hổ cùng với nhiều loại thú nhỏ như khỉ, cáo, sóc, chuột…
Nói về trấn Vĩnh Thanh xưa, Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành
thông chí: “… nhiều cá sấu, cọp dữ nhưng dân ở đây quen nên không sợ hãi, dù trẻ
con, đàn bà có thể cầm cái liềm cắt cỏ, cái hái cắt lúa mà bắt con cọp được”…,
“sông Tiên Thủy có cá sấu to 5 ôm, dài 6 trượng, thường đón người đi qua, quật ngã người cầm chèo, hoặc làm ụp thuyền để bắt người mà ăn” [22, tr.151]
Có không ít giai thoại ở Bến Tre kể về cá sấu, cọp Nhiều địa danh còn tồn tại đến ngày nay như Rạch Mây, Giồng Hổ, Giồng Heo, Sân Trâu, Cái Trăn, Cái Cấm… chắc chắn có liên quan đến tình trạng hoang sơ thuở xa xưa của vùng đất này
Trang 32Quá trình khai phá đã biến những khu rừng hoang thành đồng ruộng, đất thổ
cư với những làng xóm, thị trấn, thị xã đông đúc, theo đó, những loài thú lớn cũng
đã dần dần biến mất, chỉ còn lại những loài thú nhỏ
Loài thú nhỏ có số lượng nhiều nhất là nhóm chuột, với nhiều loại như chuột cơm, chuột ét, chuột xạ, chuột nhắt, chuột cống… Chuột gây ra nhiều tai họa đối với nhà nông và các kho tàng Ngoài việc phá hoại lúa, khoai, ngô, sắn, chuột còn đục khoét dừa để ăn cơm dừa và uống nước dừa
Ngoài nhóm chuột, nhóm dơi cũng chiếm số lượng khá lớn, với nhiều loại như dơi muỗi, dơi quạ, dơi sen Dơi muỗi là động vật có ích Nhóm dơi ăn trái là mối lo đối với những người làm vườn Chúng hoạt động ban đêm, rất nhạy bén với mùi trái già, trái chín, chúng thường ăn trái cây trước thời điểm thu hoạch, từ chuối, xoài, mận đến mãng cầu, ổi, nhãn…
Rái cá cũng là loại động vật có mặt ở nhiều vùng trên đất Bến Tre Sông, rạch, đầm, bàu, với tôm, cua, cá, ốc là nơi ẩn trú và cung cấp thức ăn vô tận cho chúng Là động vật hoạt động về đêm, với tài bơi lội giỏi, rái cá luôn là mối lo của những người nuôi tôm cá Một tác hại khác cũng đáng quan tâm là việc đào hang làm nơi ẩn nấp, sinh sống của rái cá, đã làm sụp lở những bờ đập, bờ kênh, bờ mương
Ở vùng đất giồng, người ta thường gặp các loại chồn, cáo các loại bò sát như
kỳ đà, kỳ nhông, tắc kè, tắc ké, rắn roi, rắn rồng Nhóm rắn không độc sống dưới nước có rắn nước, rắn bông súng, rắn ri cá, nguồn thức ăn của chúng là cá và ếch nhái Nhóm rắn độc gồm có rắn hổ, rắn mái gầm, rắn cạp nong, rắn lục Số lượng các con vật này giảm dần khi các cồn đất, bãi, bụi rậm được khai phá thành đất nông nghiệp
Vùng đất Bến Tre, với đặc điểm đa dạng của cảnh quan, hầu như có mặt đầy
đủ các loài chim ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Nhóm chim sống gần người
có các loại như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo… Có thể gặp chúng ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây Chúng săn bắt côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng, cây xanh, ăn các loại hạt cỏ dại Nổi bật nhất là các nhóm chim sống ven
Trang 33bờ nước Diện tích bãi triều rộng, đặc biệt ở vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng cho các loài chim này Những nơi như Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn là nơi quy tụ nhiều loại chim về trú ngụ, ước tính có khoảng 30 loại, trong đó có 10 loại
có giá trị kinh tế cao Vào mùa sinh sản chim về đậu dày đặc trên các rặng bần, mắm Có những cây trĩu nặng hàng chục tổ cò, tổ diệc, cồng cộc, sáo, le le… Nếu người dân có ý thức, chính quyền có biện pháp bảo vệ hữu hiệu, những sân chim này có thể khai thác làm các điểm du lịch hấp dẫn
Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng, phong phú nhất là côn trùng Ở Bến Tre, số lượng côn trùng, cả loại có ích và loại gây hại, có đến hàng ngàn loại Ong là loại côn trùng có ích Ong không chỉ cho mật mà còn góp phần thụ phấn cho hoa, nâng cao năng suất cây trồng Kiến vàng là loại di chuyển nhanh, thường kéo hàng đàn từ cây này sang cây khác, có mặt thường xuyên ở các vườn cây Chúng giúp cho người làm vườn tiêu diệt sâu bọ hại cây ăn quả
Bên cạnh nhóm côn trùng giúp ích cho việc thụ phấn, có nhiều loại côn trùng gây hại rau màu, lúa, cây ăn quả, nhất là sâu bọ, ong ký sinh
Kiến vương thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng, là mối lo của người trồng dừa Au trùng của kiến vương (đuôn) chọn ngọn dừa (cổ hũ dừa) làm nơi sinh trưởng Một ngọn dừa bị đuôn đục thân, khi chặt ra, có thể bắt hàng chục, có khi hàng trăm con đuôn lớn bằng ngón tay Dừa bị đuôn đục thì không thể sống được
Về các loại cá ở Bến Tre, theo điều kiện sinh thái, có thể chia thành nhiều nhóm Ở vùng nước lợ, thường có những loài cá nhỏ như cá kèo, cá bống cát Cá biển di cư vào vùng nước lợ, gồm có nhiều loại, phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, đó là các loại thuộc họ cá trích, cá đối, cá bống dừa Cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vào vùng nước lợ ở mùa mưa, khi lưu lượng nước sông khá lớn, đó là các loại như cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng Trên đồng ruộng, có nhiều loại cá như cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặt Tôm nước mặn, phổ biến nhất là tôm thẻ, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn hoặc bùn cát Vùng nước ngọt có tôm càng xanh Đây là đặc sản có giá trị kinh tế cao, phân bố khá rộng trên địa bàn Bến Tre
Trang 34Vùng ven biển Bến Tre có các đặc sản như cua biển, nghêu, sò huyết… Các bãi nghêu giống ở Thạnh Phong (Thạnh Phú), Bảo Thạnh (Ba Tri), Thới Thuận (Bình Đại) là nguồn tài nguyên quý để phát triển nghề nuôi nghêu xuất khẩu
Vùng các cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn ở Bến Tre
là môi trường sống thuận lợi của tôm thẻ Đây là loại tôm có giá trị xuất khẩu Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, vào sinh sống ở vùng trũng, đầm, đìa, kênh rạch Ban ngày, tôm thẻ ẩn náu dưới cây cỏ thủy sinh Khi nhiệt độ cao, tôm lùi xuống đất, sống trong bùn Ban đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản
giá trị, cũng có không ít loài là mối lo đối với hoạt động sản xuất phục vụ cho nhu cầu đời sống vật chất của người dân Những thập niên gần đây, do sự tàn phá của chiến tranh, do sự khai thác bừa bãi của con người, nhiều loài động vật có giá trị kinh tế cao đã giảm nhanh về số lượng, vùng phân bố của nhiều loài bị thu hẹp, một
số loài có nguy cơ diệt vong Để bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này, thiết nghĩ, cần phải nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên động vật, khai thác phải đi đôi với bảo vệ, duy trì, phục hồi, tạo điều kiện cho nó phát triển để tiếp tục khai thác
Điều kiện thiên nhiên tác động mạnh mẽ đến đời sống của cư dân, cả sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần Khí hậu, thổ nhưỡng quy định cây trồng, vật nuôi; nguồn tài nguyên động thực vật sẽ quy định cách thức khai thác; địa hình của vùng đất quy định cách thức bố trí nhà cửa, cách thức đi lại Thiên nhiên thuận lợi, người dân đỡ vất vả Thiên nhiên khó khăn đòi hỏi con người phải có ý chí, bản lĩnh, năng động, sáng tạo
Điều kiện tự nhiên Bến Tre có những mặt thuận lợi song cũng đầy rẫy những khó khăn, thách thức
Trang 35Bến Tre là vùng đất cù lao, thuộc khu vực cửa sông Vùng ven sông, ven rạch
là nơi phù sa lắng đọng, đất màu mỡ, có tiềm năng khai thác để lập vườn với điều kiện phải giải quyết tình trạng thường xuyên bị ngập nước
Bến Tre tiếp giáp với biển Đông Ở thời điểm lưu dân người Việt, người Hoa đến khai phá vùng đất này, việc đi lại bằng đường bộ gặp nhiều khó khăn, vị trí giáp biển là điều kiện thuận lợi cho lưu dân đặt chân lên đất Bến Tre bằng phương tiện ghe thuyền Nằm ở vị trí sát biển, vùng đất Bến Tre chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Thủy triều giúp thau chua rửa mặn nhưng cũng chính nó đã gây ra tình trạng ngập mặn rất khó khắc phục Việc trồng trọt muốn ổn định, cần phải giải quyết ổn thỏa vấn đề xâm nhập mặn
Đất đai ở Bến Tre không rộng, bình quân diện tích theo đầu người thuộc loại thấp Về chất lượng, đất ở Bến Tre chưa thật sự thuận lợi đối với cây trồng, phần đất mặn, đất phèn chiếm gần nửa diện tích, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém
Khí hậu Bến Tre thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhưng cũng là môi trường thuận lợi để sâu bọ phát triển
Với sông ngòi chằng chịt, bờ biển khá dài, Bến Tre có tiềm năng trong việc nuôi, đánh bắt thủy sản
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch làm cho địa hình Bến Tre bị chia cắt Sông ngòi chằng chịt làm cho giao lưu đường thủy rất thuận lợi, song đi lại bằng đường
bộ sẽ gặp trắc trở Muốn qua sông phải có cầu, đò Cầu, phà không những hao tốn kinh phí xây cất mà còn gây lãng phí về thời gian đi lại Gặp những bất trắc lớn khi đau yếu, bệnh tật, lại phải “lụy đò” rõ ràng là rất khó khăn Giao thông không thuận lợi cũng là trở lực trong việc thu hút đầu tư
bao vây, chia cắt, cô lập, tiêu diệt lực lượng cách mạng Tuy nhiên kẻ thù cũng gặp phải khó khăn, đó là địa hình chia cắt đã hạn chế tác dụng của các phương tiện chiến tranh hiện đại, cơ giới, làm cho hệ thống đồn bót của chúng bị giam hãm trong trận địa chiến tranh nhân dân, bị tiêu diệt từng mảng
Trang 36Nằm xa trung tâm Sài Gòn – Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh), bị cách trở về địa lý, Bến Tre bị hạn chế khả năng tiếp cận, giao lưu văn hóa
lập với các vùng lân cận, với thế giới bên ngoài Bến Tre nằm trên con đường thủy chiến lược từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Bờ biển khá dài và những cửa sông lớn đảm bảo cho tàu bè có trọng tải lớn có thể đi từ biển vào các sông, lên đến tận Campuchia Từ Bến Tre, ghe thuyền có thể ra miền Bắc, miền Trung, sang tận vịnh Thái Lan Có thể nói, Bến Tre nằm ở vị trí ngã tư của nhiều tuyến giao thông thủy Đây là điều kiện để người Bến Tre tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, cách thức tổ chức đời sống của nhiều nơi
Cuộc đấu tranh của cư dân với thiên nhiên là một khía cạnh, một bộ phận của diện mạo văn hóa Trong điều kiện thiên nhiên của vùng đất Bến Tre có sự đan xen những thuận lợi lẫn những khó khăn, việc khai thác thiên nhiên để tổ chức cuộc sống đòi hỏi con người ở vùng đất này phải nỗ lực cao, năng động, sáng tạo, có ý chí, nghị lực
Trang 37Chương 2 DIỆN MẠO VĂN HÓA – XÃ HỘI CỦA VÙNG ĐẤT BẾN TRE TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX
2.1 Đời sống xã hội
Từ thế kỷ XVII, lưu dân từ nhiều nơi đã vào vùng đất Nam Bộ để khai phá,
lập nên xóm ấp một cách tự phát để đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc chiến đấu với thiên nhiên Thôn ấp ngày càng nhiều, đây là cơ sở để chính quyền phong kiến thiết lập các đơn vị hành chính, xác lập chủ quyền, quản lý xã hội
Đời sống xã hội của cư dân Bến Tre, từ chỗ do cư dân tự quản, dần dần được
đặt dưới sự quản lý, can thiệp ngày càng sâu của giai cấp thống trị
2.1.1 Quá trình hình thành và đặc điểm của thôn xóm, làng xã:
Thôn ấp ở Nam Bộ nói chung, trong đó có Bến Tre, được hình thành một cách tự phát trước khi chính quyền phong kiến thành lập các đơn vị hành chính cơ
sở
Để tạo dựng cuộc sống, trong điều kiện thiên nhiên hoang vu, lưu dân đã phải chiến đấu hết sức gian khổ trong việc chống lại thú dữ, bệnh tật, lũ lụt, hạn hán, sâu bọ phá hoại mùa màng… Trong hoàn cảnh như thế, người ta không thể sống đơn độc Đến khai phá ở bất kỳ nơi nào, lưu dân cũng đều nhanh chóng họp thành thôn ấp để đoàn kết, gắn bó với nhau trong làm ăn, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, đoàn kết chống lại thú dữ, cường hào Lúc đầu, năm, bảy nóc gia hợp lại thành xóm Dân cư tiếp tục được bổ sung, xóm được mở rộng thành thôn, nhiều thôn hợp lại thành làng xã
Người ta luôn mong ước cho cuộc sống được an bình, mưa thuận gió hòa Ước mơ ấy được thể hiện qua việc chọn các mỹ tự để đặt tên làng, tên tổng như An Phước, Phú Túc, Thạnh Phú, Lộc Thuận, Phú Mỹ, Mỹ Thạnh…
So với làng của người Việt ở miền Bắc, tuổi đời của làng xóm ở Nam Bộ nói chung, Bến Tre nói riêng, còn rất non trẻ Làng xóm được tạo lập từ khi lưu dân vào khai phá vùng đất Bến Tre, do vậy, làng xóm có tuổi đời cao nhất cũng chỉ khoảng
ba trăm năm Có thể nói, làng ở Bến Tre là làng khai phá Có làng do dân cư từ
Trang 38nhiều nguồn tập hợp lại lập nên, có làng có nguồn gốc là đồn điền của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn Ở Bình Đại, làng Thới Thuận nằm sát biển do một nhóm lưu dân làm nghề chài lưới ở miền Trung vào lập nên; làng Thạnh Phước vốn là một đồn canh của nhà Nguyễn
Theo kết quả điều tra của tác giả Nguyễn Phương Thảo trong tập tiểu luận
Văn hóa dân gian Nam Bộ – những phác thảo: “Kiến họ Nguyễn ở Định Thủy,
thuộc huyện Mỏ Cày, theo gia phả, mới định cư ở đây chưa đầy chín đời Phổ hệ của ông Nguyễn Văn Liền (69 tuổi vào năm 1985) ở xã Phú Thuận thuộc huyện Bình Đại cũng chỉ gồm có 6 đời”[72, tr.11] Chính vì đặc điểm non trẻ nên làng ở đây không có tính cố kết dòng họ lâu đời, không bị ràng buộc bởi lệ làng, hương ước như làng ở Bắc Bộ Mối quan hệ gắn bó chủ yếu giữa người với người trong cùng một làng không phải là quan hệ thân tộc, mà là nghĩa tình giữa họ với nhau Người ta xem trọng tính dân chủ và bình đẳng trong đối xử Người ta không có tâm
lý phân biệt dân chính cư hay dân ngụ cư Giáo sư Huỳnh Lứa cho rằng: “Thôn ấp ở đây mang tính “mở”, sẵn sàng và nhiệt tình đón nhận và giúp đỡ những người từ nơi khác phiêu bạt tới có nơi cư trú và có công ăn việc làm Tính chất “mở” của thôn ấp Nam Bộ thời kỳ đầu khai phá còn thể hiện ở chỗ “dễ hợp mà cũng dễ tan” Những con người nghèo khổ từ tứ phương di cư đến, gặp gỡ và tụ họp nhau lại thành những “dân ấp dân lân”, thành thôn xóm, nhưng rồi cũng có thể dễ dàng chia tay chuyển đi nơi khác nếu họ cảm thấy ở đó không thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống” [40, tr.130-131]
Xem xét ở góc độ quan hệ giai cấp, làng ở Bến Tre có mức độ phân cực cao
Theo Địa phương chí Bến Tre do người Pháp công bố năm 1930, trong tổng diện
tích 144.587 ha, số ruộng đất công của tỉnh chỉ có 3.816ha, trong khi diện tích đất của điền chủ chiếm đến 140.771ha Số điền chủ có dưới 10ha là 38.105 người, số chiếm từ 10 đến 500ha chiếm 3.978 người (dân số Bến Tre năm 1929 là 315.000 người) [22, tr.33] Nói cách khác, trong tổng số 94 làng của Bến Tre lúc ấy, số làng
có công điền – công thổ rất ít Ngay từ buổi đầu khai phá, do chính sách khuyến khích khai hoang của nhà nước, ở Nam Bộ nói chung, Bến Tre nói riêng, đã xuất
Trang 39hiện tầng lớp điền chủ, có những điền chủ sở hữu đến hàng trăm mẫu đất Thời Pháp thuộc, đất đai do dân khai khẩn còn bị người Pháp chiếm Có những điền chủ người Pháp sở hữu hàng chục, hàng trăm hecta, chẳng hạn: năm 1880, Pilê chiếm
200 ha ở Bảo Thạnh, năm 1901, Giôvanxili chiếm 300ha ở Giao Thạnh, năm 1905 Prêđiani chiếm 718 ha ở An Nhơn [71, tr.19] Như vậy, trong xã hội xuất hiện sự phân cực khá rõ nét giữa một số ít người có trong tay nhiều ruộng đất và đa số người có rất ít ruộng đất Với những nông dân không có đất, để có được miếng ăn,
họ phải lĩnh canh ruộng đất của điền chủ Cuộc sống của họ vì thế cũng rất bấp bênh
2.1.2 Việc tổ chức bộ máy quản lý xã hội, sắp xếp các đơn vị hành chính qua các thời kỳ
Thời kỳ các chúa Nguyễn
Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp Nguyễn Hoàng, cho thải hồi các quan do nhà Lê cử, cải tổ bộ máy chính quyền Giúp chúa quản lý các dinh, có
ba ty:
Ty xá sai, do đô tri và ký lục đứng đầu, giữ việc giấy tờ, kiện tụng
Ty tướng thần, do cai bạ đứng đầu, làm nhiệm vụ thu thuế, cấp lương bổng
Ty lệnh sử, do nha úy đứng đầu, trông coi việc tế tự, phát lương cho quân lính ở chính dinh
Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, tiến hành tổ chức lại bộ máy chính quyền Ở chính dinh, ty xá sai được chia đổi thành bộ hình và bộ lại, ty tướng thần được đổi thành bộ hộ, ty lệnh sử đổi thành bộ lễ, đặt thêm bộ hộ, bộ công và hàn lâm viện
Các đơn vị hành chính địa phương được phân định lại Đàng Trong được chia thành 12 dinh Khu vực Thuận – Quảng có 6 dinh, đó là dinh Bố Chính, dinh Quảng Bình, dinh Lưu Đồn, dinh Cựu, Chính Dinh và dinh Quảng Nam Phần đất còn lại được chia thành 6 dinh, cụ thể là dinh Phú Yên, dinh Bình Khang, dinh Bình Thuận, dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn và dinh Long Hồ Hà Tiên là trấn phụ thuộc
Trang 40Cai quản các dinh có các quan trấn thủ, cai bạ, ký lục Dưới dinh là phủ, dưới phủ là huyện, tổng, xã
Quản lý mỗi phủ có quan Tuần phủ và quan Khám lý Cai quản cấp huyện có tri huyện, đề lại, thông lại, huấn đạo, lễ sinh Quản lý xã có tướng thần và xã trưởng, nhiệm vụ chủ yếu là thu thuế Số lượng chức dịch cai quản xã được qui định tùy theo quy mô của xã
Năm 1757, hai cù lao Minh và Bảo của vùng đất Bến Tre được thành lập tổng Tân An, thuộc Châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định Tổng Tân An lúc này có khoảng một trăm thôn trại Như vậy, trước thời điểm 1757, đã có cư dân đến đây khai phá, trên cơ sở đó, thôn, ấp được hình thành Năm 1757 là thời điểm đánh dấu sự xác định chủ quyền vùng đất của chính quyền phong kiến thời các chúa Nguyễn
Nguyễn Duy Oanh ghi trong Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam: “bấy giờ,
tại hữu ngạn rạch Bến Tre (gần rạch Cá Lóc), quan địa phương có cất cái trạm để kiểm soát các thuyền buôn bán qua lại trên sông, đồng thời cũng để thu thuế các thuyền buôn ấy Trạm này gọi là bến thuế” [62, tr.17]
Quan thu thuế thuộc ngạch riêng, được gọi là Bản đường quan, bao gồm các chức đề đốc, phó đề đốc, đề lĩnh, phó đề lĩnh, các ký lục, thư ký Hệ thống Bản đường quan được đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của nội phủ
Dưới triều Nguyễn (1802 – 1858)
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh cho hợp nhất 11 trấn phía Bắc thành một tổng trấn với tên Bắc Thành Năm 1808, 5 trấn cực Nam cũng được hợp lại thành một với tên Gia Định thành
Năm 1808, tổng Tân An được đổi thành huyện Tân An, thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh Lúc này, huyện Tân An có hai tổng là Tân Minh và An Bảo Tổng Tân Minh có 72 thôn, trại Tổng an bảo gồm 63 thôn, trại Huyện lỵ đầu tiên đặt tại thôn Phước Hạnh, xứ Ba Việt, nay là xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Cũng trong lúc này, dinh Trấn Định được đổi thành trấn Định Tường, huyện Kiến
An được thăng thành phủ, tổng Kiến Hòa được thăng thành huyện Kiến Hòa, bao