1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

124 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ trái cây tỉnh Bến Tre

56 824 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ trái cây tỉnh Bến Tre
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận án cao học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Bến Tre
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 230,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

124 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ trái cây tỉnh Bến Tre

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề nghiên cứu:

Trái cây là một trong những thế mạnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long nóichung và tỉnh Bến Tre nói riêng

Được xác định là một trong hai khâu đột phá quan trọng, kinh tế vườn được cáccấp lãnh đạo và ban ngành tỉnh tập trung phát triển song song với kinh tế thủy sản.Thể hiện quyết tâm đó, nghị quyết của Đại hội Đại biểu Tỉnh Đảng bộ Bến Tre đãxác định nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của giai đoạn 2001 – 2005 là: “ Tập trungkhai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiếp tục đầu tư và các thế mạnh vềthủy sản, kinh tế vườn… Đẩy mạnh đầu tư tập trung phục vụ khai thác tiềm năng lợithế kinh tế thủy sản và kinh tế vườn…”

Trên thực tế, trái cây đã đem lại công ăn việc làm và thu nhập ổn định chohàng trăm ngàn nông dân trong tỉnh Bến Tre, góp phần gia tăng GDP và chuyểndịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Tuy nhiên, nhìn lại thực trạng sản xuất, bảo quản chế biến và tiêu thụ trongthời gian qua đã cho thấy trái cây Bến Tre chịu nhiều thăng trầm trên thị trường.Người nông dân mất định hướng sản phẩm, thường họ tự chọn và trồng những loạicây ăn trái theo kinh nghiệm, theo phong trào Trái cây thường có tính mùa vụ, tiêuthụ chủ yếu ở dạng tươi sống, lại thiếu hẳn các cơ sở phân loại, chế biến, bảo quảnnên tình trạng “được mùa, mất giá” xảy ra thường xuyên Được sản xuất trên diệntích nhỏ lẻ manh mún, không tập trung nên trái cây không đồng đều, năng suấtthấp, giá thành cao, huy động trái cây hàng hóa gặp nhiều khó khăn

Trong khi các sản phẩm trái cây còn nhiều bất cập như vậy, thì sản phẩm cùngloại của một số nước lân cận có ưu thế tràn sang thị trường bằng nhiều con đườngchính ngạch lẫn nhập lậu

Trang 2

Như vậy có thể nói rằng nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do thịtrường trái cây còn nhiều bất ổn, chính sự bất ổn này đã tác động lớn đến tình hìnhsản xuất trái cây của bà con nông dân tại tỉnh Bến Tre, đặc biệt gây ra những biếnđộng về cơ cấu lao động tại địa phương, ảnh hưởng lớn đến đời sống một bộ phậnnông dân trong tỉnh Giải quyết vấn đề thị trường trái cây vẫn là chủ đề hàng đầuvà nóng hổi cho các nhà quản lý Những động thái gần đây của Chính phủ đã phầnnào chứng minh điều này.

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp

nhằm phát triển thị trường tiêu thụ trái cây tỉnh Bến Tre” làm đề tài cho luận án

cao học

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đánh giá được hiện trạng và triển vọng của thị trường trái cây trên thế giớivà Việt Nam

- Đánh giá được thực trạng tình hình sản xuất, tiêu thụ trái cây tại tỉnh BếnTre Qua đó, rút ra được những mặt tồn tại đã và đang ảnh hưởng đến việc mở rộngthị trường trái cây của tỉnh Bến Tre

- Đánh giá được những cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu trong việcmở rộng thị trường tiêu thụ trái cây đối với tỉnh Bến Tre

- Xây dựng các giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ trái cây tại tỉnhBến Tre

3 Giới hạn vấn đề nghiên cứu:

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các loại trái cây chủ yếu và có nhiều triển vọngvề thị trường như: nhãn, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, cam, chanh, xoài…

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp sau đây để nghiên cứu:

Trang 3

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu những vấn đề, những bài họckinh nghiệm nhằm ứng dụng vào thực tế tỉnh Bến Tre.

- Phương pháp điều tra mẫu: điều tra 60 hộ trồng cây ăn trái tại các huyệntrọng điểm

- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn các chuyên gia trong ngành nhằm đưa ranhững nhận định và dự báo xu hướng có liên quan

Trang 4

Chương1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÁI CÂY

TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM.

1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÁI CÂY TRÊN THẾ GIỚI: ( * ) 1.1.1 Tình hình sản xuất trái cây trên thế giới:

Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO), sảnlượng trái cây năm 2002 của cả thế giới là: 475,5 triệu tấn Dẫn đầu là Châu Á vớidiện tích 23,34 triệu ha đạt sản lượng 204,6 triệu tấn Kế đến là Châu Mỹ Latin –Caribê với 7,13 triệu ha và 98,5 triệu tấn, và Châu Phi với 9,13 triệu ha và61,9 triệu tấn

Quốc gia sản xuất trái cây đứng đầu thế giới là Trung Quốc (70,4 triệu tấn),tiếp theo là Ấn Độ (46,6 triệu tấn), Indonesia (8,2 triệu tấn) Thái Lan (7,7 triệu tấn)Trong tổng sản lượng trái cây thế giới, trái cây nhiệt đới chiếm khoảng phânnửa (232,8 triệu tấn) đặc trưng là các loại cây chủ yếu như: chuối, cam, xoài, dứa,quít, chanh, bơ, đu đủ

Trong giai đoạn từ 1998 – 2002 sản lượng trái cây thế giới tăng bình quân2,08%, riêng ở khu vực các nước đang phát triển có tốc độ tăng 2,58% Theo dự báocủa FAO (dự án Link), tốc độ tăng trưởng của nông sản nói chung và trái cây nóiriêng sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000 –2004 và những năm tiếp theo với tốc độtăng hàng năm là 6,6% trong đó khu vực Châu Á – Thái Bính Dương tăng 7,5%

1.1.2 Tình hình tiêu thụ trái cây trên thế giới.

* Xuất khẩu: Các nước có sản lượng trái cây lớn cũng là những nước xuất khẩu

hàng đầu trên thế giới Theo thống kê của FAO, vào năm 2001, các nước xuất khẩu

Trang 5

trái cây dẫn đầu thế giới là : Trung Quốc (460,6 ngàn tấn cây có múi), Ấn Độ (46,2ngàn tấn xoài), Mêxicô (71,6 ngàn tấn bơ), Thái Lan (425,2 ngàn tấn dứa).

* Nhập khẩu: Các nước trên thế giới thường nhập khẩu các loại trái cây như:

bơ, xoài, đu đủ và dứa tươi – 4 loại trái cây nhiệt đới chủ yếu trên thị trường quốctế dự báo sẽ tăng mạnh từ 750 triệu USD năm 1995 là 1,1 tỷ USD vào năm 2005.Tỷ trọng nhập khẩu các loại trái cây nhiệt đới của các nước phát triển là 83%,các nước đang phát triển là 17% Thị trường nhập khẩu trái cây nhiệt đới tập trungvào các khu vực EU, Mỹ, Nhật Bản Năm 2001, EU nhập khẩu 4,6 triệu tấn chuối,2,3 triệu tấn tấn cam, gần 1 triệu tấn dứa (tươi và đóng hộp), 628 ngàn tấn chanh,

188 ngàn tấn xoài Mỹ nhập 3,8 triệu tấn chuối, 238 ngàn tấn xoài, hơn nửa triệutấn dứa (tươi và đóng hộp) Nhật chủ yếu nhập: 990 ngàn tấn chuối, 264 ngàn tấncam và 118 ngàn tấn dứa

Xu hướng tăng trưởng nhập khẩu trái cây ở các nước đang phát triển cao hơncác nước phát triển

* Về xu hướng thị trường: Nói chung thị trường có những xu hướng như sau:

- Nhu cầu thị trường về trái cây nhiệt đới ngày càng gia tăng do ý thức vềdinh dưỡng trong khẩu phần ăn và do thu nhập và đời sống dân chúng ngày càngđược nâng cao

- EU dự kiến trong 10 năm tới sẽ gia tăng nhập khẩu các loại trái cây như đuđủ xoài, các loại trái cây nhiệt đới quý hiếm

- Xu hướng đa dạng hóa sản phẩm trái cây nhiệt đới: Trước đây thị trườngtiêu thụ mạnh chuối, dứa nay chuyển sang cả các loại khác như: xoài, đu đủ, vải,nhãn, sầu riêng, bơ… Yêu cầu về chất lượng trái cây cũng được cụ thể (như ghi têngiống, màu sắc, hương vị, cấu trúc phần thịt ăn được, hạt lép hay không hạt.)

- Xu thế nhập khẩu trái cây nhiệt đới có 2 dạng:

Trang 6

Nhập số lượng lớn và giá rẻ với một số sản phẩm truyền thống (chuối,dứa)

Nhập số lượng ít và giá rất cao: xoài, sầu riêng, măng cụt, trái vải…

- Tiêu chuẩn về kiểm định trái cây của một số nước phát triển ngày càngkhắt khe (Mỹ, Nhật, Úc, EU…)

- FAO cũng khuyến cáo quy trình và tiêu chuẩn cho việc kiểm phẩm dựa trêncác yêu cầu về vệ sinh, sâu bệnh cần phòng trừ, dư lượng hóa chất trong sản phẩm

1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÁI CÂY TẠI VIỆT NAM

1.2.1 Về sản xuất:

* Về diện tích :Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích cây

ăn trái ở Việt Nam phát triển khá nhanh, từ 218.000 ha (1985) lên 346.000 ha(1995), và hiện nay đã lên đến 643.500 ha Diện tích cây ăn trái Việt Nam liên tụcgia tăng theo những tốc độ khác nhau tùy vùng và tùy từng thời kỳ – Phần lớn dânchúng trồng tự phát theo cung cầu của thị trường, một số ít là theo sự chỉ đạo, tácđộng của Nhà nước Theo kế hoạch, diện tích vườn cây ăn trái sẽ đạt 1 triệu ha vàonăm 2010

* Sản lượng : Sản lượng trái cây năm 2003 dự kiến đạt 4 triệu tấn Tốc độ

tăng sản lượng hàng năm khá cao, đạt 8 %/năm

* Phân bố: Diện tích vườn cây ăn trái Việt Nam bình quân 0,5 – 02 ha/hộ.

Một số trang trại có diện tích khá lớn từ 05- 50ha/hộ, hầu như rất ít trang trại códiện tích hàng trăm ha

Diện tích trồng cây ăn trái tập trung khoảng 70.000 ha chiếm 15% tổng diệntích cây ăn trái Một số địa phương có diện tích cây ăn trái tập trung như: xoài cátHòa Lộc (Tiền Giang), Thanh Long (Bình Thuận), nho (Ninh Thuận), vải (BắcGiang, Hưng Yên), dứa (Tiền Giang, Long An), nhãn (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh

Trang 7

Long) bưởi 5 roi (Vĩnh Long), cam sành Tam Bình, chôm chôm, sầu riêng(Bến Tre)…

* Chủng loại: Theo điều tra của các nhà nông học, tại Việt Nam hiện có 39 họ,

124 loài và trên 350 giống cây ăn trái Cây ăn trái được trồng tại hầu hết các tỉnhtrên cả nước nhưng tập trung nhiều nhất tại miền Đông và Tây Nam bộ Có thể chiatrái cây ra làm 3 loại chính:

- Trái cây nhiệt đới: chuối, dứa, mít, xoài, ổi, dừa, đu đủ, sầu riêng, măngcụt, vú sữa, mảng cầu, me, táo, chùm ruột, sa-pô, khế…

- Trái cây cận nhiệt đới: bơ, cam, quýt, vải, nhãn…

- Trái cây ôn đới: mận, đào, lê, nho, dâu tây…

Đặc biệt các tỉnh miền Tây có nhiều điều kiện để phát triển cây ăn trái nhất làtrái cây nhiệt đới do đất đai phì nhiêu, khí hậu ưu đãi, nguồn nước dồi dào, nhâncông rẻ Có 12 chủng loại cây ăn trái nhiệt đới mang đặc trưng của Nam bộ như:sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, xoài, thanh long, vú sữa, nhãn , chuối, dứa, mít,dâu, táo

- Diện tích cây ăn trái năm 2002 của miền Tây Nam bộ đạt 238.441 ha chiếm70% diện tích cây ăn trái cả nước, sản lượng đạt gần 3 triệu tấn chiếm 75% tổngsản lượng cả nước Tốc độ tăng diện tích gần 7% năm Dự kiến năm 2003 đạt253.000 ha

- Bình quân sản xuất trái cây đầu người ở đồng Nam bộ cao nhất nước: 146kg/người/năm trong khi cả nước 48kg/người/năm (Châu Á Thái Bình Dương: 30kg; thếgiới: 110kg) ( Xem Biểu 1: Diện tích và sản lượng cây ăn trái của Nam bộ).

* Về năng suất và giá thành

Theo nhận định của Cty Les Vergers Du Mekong một công ty vốn 100% nướcngoài tại Cần Thơ, hầu như mọi cây ăn trái của Việt Nam đều có giá thành sản xuấtcao hơn các nước có cùng chủng loại cây ăn trái như Equador, Zamaica, Kenya,

Trang 8

Uganda, Zambia… Đặc biệt, đối với một số cây chủ lực của Việt Nam đều có giá rấtcao so với Thái Lan và Châu Á (Xem Biểu 2: Giá thành trái cây Việt Nam so với Thái Lan)

Giá thành cao của trái cây Việt Nam phụ thuộc vào các nguyên nhân: năngsuất thấp (do giống, chăm sóc, quy mô nhỏ), phí vận chuyển cao phải qua trungchuyển nhiều cảng, các phí khác như đóng gói, bảo quản……cũng khá cao

0 50 100 150 200 250 300

Cam Ca Chua Chuoi Xoai

VN TL

Biểu 2: Giá thành trái cây Việt Nam so với Thái Lan

Các chuyên gia nước ngoài nhận định rằng Việt Nam sản xuất và kinh doanhtrái cây theo kiểu “du kích” trong khi các nước đều được tiêu chuẩn hóa

* Mùa vụ:

Với khí hậu nhiệt đới đặc trưng cộng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹthuật, nhiều nông dân đã áp dụng các biện pháp như kích thích sinh trưởng cho rahoa trái vụ làm cho xu hướng thời vụ được nới rộng và tương đối chủ động Nhãn,các loại cây có múi hầu như có mặt quanh năm trên thị trường

Trái cây mang đậm nét thời vụ Thời vụ thu hoạch đóng vai trò rất quan trọngđối với hiệu quả kinh tế của trái cây thương mại Chẳng hạn như chôm chôm BếnTre thu hoạch trước chôm chôm Long Khánh, chất lượng cao hơn nên giá cao hơn từ

2 đến 3 lần Sầu riêng hạt lép thu hoạch muộn hơn sầu riêng khổ qua xanh và giá

Trang 9

bán thường cao hơn từ 1,5 – 2 lần Nhãn tiêu da bò của Việt Nam thu hoạch hầunhư quanh năm , trong khi đó nhãn ở các nước trong khu vực chỉ thu hoạch vàotháng 7, tháng 8 nên nhãn của chúng ta có thể bán với giá cao hơn vào những thángtrái vụ.

Thời vụ cũng gắn chặt với giá cả thị trường nội địa lẫn xuất khẩu Giá cả của trái cây phụ thuộc vào hai nhân tố: chất lượng trái cây và sản lượng cung ứng trên thị trường cùng một thời điểm

S

T

T

Loại trái cây

Tháng trong năm

1 Cây có múi Nam Bộ

Cây có múi Bến Tre

2 Nhãn ĐBSCL

Nhãn Bến Tre

3 Xoài Nam bộ

Xoài Bến Tre

4 Sầu riêng Nam bộ

Sầu riêng Bến Tre

5 Chôm chôm ĐBSCL

Chôm chôm Bến Tre

6 Măng cụt Nam bộ

Măng cụt Bến Tre

Biểu 3: Mùa vụ thu hoạch trái cây Nam bộ.

Nguồn : Tạ Minh Tuấn – Phòng nghiên cứu thị trường – SOFRI

1.2.2 Về tiêu thụ:

1.2.2.1 Tiêu thụ nội địa: ( * )

Theo kinh nghiệm của các nước xuất khẩu rau quả thì thị trường nội địa là cơsở bền vững cho thị trường rau quả xuất khẩu Khi nào thị trường tiêu thụ nội địaphát triển thì khi đó thị trường nước ngoài sẽ phát triển

* Nguồn: Hiệp hội Trái cây Việt Nam

Trang 10

Mức tiêu thụ trái cây bình quân đầu người của nước ta là 40kg/năm, dự báođến năm 2010 là 65 kg/năm

Trái cây Việt Nam được tiêu thụ nội địa khoảng từ 90% trong tổng sản lượng,chủ yếu là trái cây tươi Một phần rất nhỏ trong lượng tiêu thụ nội địa (khoảng 5%)được sử dụng cho chế biến công nghiệp tập trung vào các nhà máy chế biến rauquả Cũng như các loại hàng khác, thị trường nội địa tiêu thụ tất cả các loại trái cây,nhưng giá cả thường không cao bằng xuất khẩu Đặc điểm nổi bật cần chú ý ở thịtrường nội địa là việc tiêu thụ bị ảnh hưởng lớn bởi thị hiếu và sức mua của ngườitiêu dùng cho từng loại trái cây

Hiện nay, cả nước có hơn 50 đơn vị có liên quan đến chế biến rau quả và hàngchục ngàn cơ sở chế biến nhỏ tham gia vào lĩnh vực sơ chế và chế biến trái cây.Riêng Tổng Công ty rau quả Việt Nam có 18 Nhà máy trực thuộc Tình hình chunglà việc quy hoạch vùng nguyên liệu không theo kịp với tốc độ xây dựng nhà máynên một số nhà máy hoạt động không hết công suất, thiếu nguyên liệu trầm trọng.Mạng lưới tiêu thụ trái cây nội địa ở nước ta còn yếu và thiếu Chúng ta chưaxây dựng mạng phân phối trái cây Nam – Bắc Trái cây chủ yếu do các thương láibuôn chuyến gom từng xe tải để đưa hàng từ Nam ra Bắc và không theo định kỳ,chủ yếu do nhu cầu đột xuất và giá hấp dẫn trong một thời điểm nào đó

Hệ thống tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào tậpquán nông dân – chợ Cả đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay chưa thiết lập đượcchợ đầu mối bán buôn tầm cở nào, ngoài chợ đầu mối truyền thống trên sông- chủyếu vẫn là trái cây tươi Trái cây sấy khô và nước hoa quả ép vẫn còn xa lạ do chíphí sản xuất cao

Trang 11

Hiện nay, các loại trái cây nội địa bị cạnh tranh quyết liệt bởi các loại trái cây:táo, nho, lê, cam, quýt, sầu riêng… nhập từ Singapore, Philippines, Úc, New Zeland,Thái Lan, Trung Quốc…

1.2.2.2 Xuất khẩu ( * )

Hiện nay, trái cây Việt Nam đã xuất khẩu sang các nước: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Mỹ, Hà Lan, Nga, Singapore, Campuchia, HongKong và nhiều nước khác (khoảng 50 nước) Tuy nhiên, lượng trái cây và kim ngạch xuất khẩu khá khiêm tốn chỉ bằng 0,29 %

so với Thế giới, bằng 5,48% so với Trung Quốc và bằng 16,51% so với Thái Lan.

Việt Nam chưa có thị trường xuất khẩu trái cây ổn định,chưa được Nhà nướcbảo trợ, chưa có hợp đồng buôn bán song phương hoặc đa phương giữa Chính phủ tavà các nước khác Các doanh nghiệp vẫn còn thói quen dựa dẫm vào Nhà nước,chưa tích cực tìm kiếm thị trường Trái cây xuất khẩu còn mang nặng tính buônchuyến và do tư nhân đảm nhiệm là chủ yếu Các doanh nghiệp tư nhân kinh doanhtrái cây phần lớn cũng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa không đủ lực, vừa không có

*

* Nguồn: FAO và Bộ Thương Mại

Trang 12

sự hỗ trợ của Nhà nước, không liên kết lẫn nhau, mạnh ai nấy làm, thậm chí gâykhó cho nhau và hậu quả là nhà vườn lãnh đủ khi thị trường ế ẩm.

Thị trường Trung Quốc là thị trường trái cây lớn nhất của Việt Nam nên chúng

ta cần nghiên cứu kỹ Đây là thị trường đầy tiềm năng với yêu cầu về chất lượngchưa cao lắm và đa dạng về chủng loại Nhu cầu về trái cây của họ cũng rất lớnnhất là vùng Tây Nam và Tây Bắc Tuy nhiên, do ảnh hưởng của buôn bán biênmậu nên rủi ro còn cao và rất bấp bênh

1.3 TRIỂN VỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ TRÁI CÂY TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI: (*)

- Thị trường trái cây nội địa: Đây là thị trường quan trọng chiếm đến 90% sản

lượng tiêu thụ Trong hướng phát triển sắp tới, với dân số 80 triệu người cộng vớilượng du khách hàng năm trên 2 triệu người, thị trường nội địa được khẳng định làrất hấp dẫn Thêm vào đó, nhờ vào đời sống được nâng cao do thu nhập tăng, ngườidân sẽ có ý thức hơn về nhu cầu dinh dưỡng Các thức uống có ga, có cồn dần dầnđược thay thế bằng nước uống hoa quả Theo dự báo tiêu thụ trái cây, mức tiêu thụtrái cây bình quân đầu người sẽ tăng từ 40 kg lên đến 65 kg/người/năm (2005), kéotheo tổng mức tiêu thụ dự kiến đạt khoảng 5,3 triệu tấn (tăng 63% so với năm2000)

Phải khẳng định rằng thị trường nội địa là một thị trường đầy tiềm năng và lànền tảng để xuất khẩu ra nước ngoài

- Thị trường Trung Quốc: là thị trường trái cây lớn nhất của Việt Nam chiếm

trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây Đây là một thị trường đầy tiềmnăng với yêu cầu về chất lượng không đòi hỏi khắt khe lắm và đa dạng về chủngloại Dự báo nhu cầu tiêu thụ trái cây Việt Nam tại thị trường này trong thời giansắp tới tăng không dưới 10% năm Sau khi vào WTO, Trung Quốc giảm thuế nhập

Trang 13

khẩu trái cây từ 40% còn vào khoảng 13% (bình quân) Đây là cơ hội cho trái câyViệt Nam thâm nhập và phát triển tại thị trường này Trung Quốc nhập trái cây đểtiêu dùng và tái xuất đi nhiều nước trên thế giới Các loại trái cây thường nhập lànhãn tiêu, nhãn da bò, nhãn long (tươi và sấy khô), xoài (bưởi, xiêm, thanh ca)chuối già, chôm chôm Java tươi.

Từ năm 2002 trở lại đây, khi Trung Quốc trở thành thành viên chính thức củaWTO, ngoài chính sách thuế có thay đổi như đã nói ở trên, thì các quy định về kiểmtra chất lượng sản phẩm, kiểm dịch thực vật và hạn ngạch đều do Trung Ương đảmnhiệm nên tốn nhiều thời gian và tiêu chuẩn theo quy định của quốc tế khắt khehơn Đây là lý do chính làm các thương nhân giảm nhịp độ và doanh số buôn bántrái cây giữa hai nước

- Thị trường Liên Bang Nga: trước đây khi còn là Liên Xô, nước ta đã xuất rất

nhiều sản phẩm rau quả tươi và chế biến cho thị trường này Hiện nay, chúng ta cóthể xuất từ 3.000 – 5.000tấn chuối khô/năm (với yêu cầu đảm bảo chất lượng đếntay người tiêu dùng) Tương tự cho trái cam, khả năng tiêu thụ cam tại Nga cũng từ5.000 – 10.000tấn/năm Các loại trái cây khác như: dứa, xoài, vải, nhãn, chômchôm, đu đủ, thanh long…, nếu được bảo quản và chế biến tốt thì khả năng xuấtkhẩu sang Nga rất cao Khâu tiếp thị, quảng cáo sản phẩm ở thị trường Nga cầnđược khuếch trương để thị trường Nga biết đến trái cây nhiệt đới của Việt Nam

- Thị trường cộng đồng Châu Aâu: bình quân tiêu thụ trái cây ở khu vực này là

18,3kg/người/năm Hệ thống bán lẻ trái cây nhiệt đới ở đây mạnh hơn các loại câyôn đới (chiếm tỷ lệ 70% so với 58%)

Thị trường này có nhu cầu cao về trái cây nhiệt đới nhưng yêu cầu về chấtlượng cũng cao Đồng thời đòi hỏi marketing nhiều hơn vì họ vẫn còn xa lạ vớinhiều loại trái cây Việt Nam Năm 2000 chúng ta đã xuất được 10 triệu USD rauquả vào thị trường này Ở các nước Pháp, Italia, Hà Lan, Thụy Sĩ, Đức … chủ yếu

Trang 14

tiêu thụ trái cây qua chế biến (dứa, nước quả cô đặc và một số lượng nhỏ xoài,bưởi, chôm chôm).

- Thị trường Nhật: bình quân nhập khẩu trái cây nhiệt đới tính theo đầu người

là 0,92kg/năm Hầu hết do các nhà nhập khẩu lớn đảm nhiệm, phân nửa được đưađến các chợ bán buôn, phân nửa giao cho các đại lý Ngoài ra các siêu thị cũng cóthể nhập thẳng trái cây Thị trường Nhật với tiêu chuẩn kiểm dịch khắt khe nên tráicây Việt Nam chỉ nhập khẩu vào thị trường này đã qua chế biến Hiện Việt namđang được hưởng chính sách ưu đãi thuế quan của Nhật với thuế suất bình quânMFN từ 5 –20%

- Thị trường Mỹ: bình quân nhập khẩu theo đầu người là 1,64 kg/năm Với

chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp nước mình tỷ lệ tiêu thụ trái cây nhiệt đới đượcsản xuất là 59% Với hiệp định thương mại Việt – Mỹ, khả năng thâm nhập vào thịtrường này cao sẽ giúp trái cây Việt Nam khai thác được thế mạnh của mình, nhấtlà các loại quý hiếm Tuy nhiên, cũng như các nước khác, thị trường Mỹ đòi hỏitiêu chuẩn vệ sinh nghiêm ngặt và kiểm dịch thực vật khắt khe Việt Nam đangchịu thuế suất trung bình là 20% so với 5 % của Trung Quốc ( được hưởng ưu đãiMFN)

Trang 15

- Ý thức của dân chúng càng ngày sẽ sử dụng cây ăn trái nhiều hơn vì đây lànguồn dinh dưỡng từ thiên nhiên tốt hơn các loại thức uống từ gas, từ nhân tạo Dođó, nhu cầu cây ăn trái ngày càng tăng.

- Nông dân cùng Nhà nước đang tìm một lối ra cho trái cây Việt Nam

1.4.2 Thách thức đối với ngành trái cây Việt Nam:

Cây ăn trái vẫn còn nhiều thách thức:

- Giống cây ăn trái phần lớn là giống địa phương, năng suất, chất lượng thấp.không sạch bệnh, không có xác nhận

- Chưa ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách mạnh mẽ vào việc sảnxuất, chế biến bảo quản, đóng gói trái cây để hạ giá thành sản phẩm

- Chưa có quy hoạch vùng chuyên canh trên góc độ cả nước, điều kiện cơ sởđể sản xuất trái cây hàng hóa

- Chưa quy hoạch chợ bán buôn, hình thành mạng lưới thương mại, đầu tư,chế biến

- Công tác khuyến nông, tập huấn chưa được tiến hành sâu rộng

- Công nghiệp chế biến trái cây còn yếu kém

- Xúc tiến thương mại còn manh nha

- Vận chuyển khó khăn trên miền sông nước, một số phí khác cũng tăng

- Trung Quốc: thị trường lớn nhất của trái cây Việt Nam đang chuyển hướngtiêu thụ: thuế nhập khẩu cho trái cây Thái Lan là 0% trong khi Việt Nam là 13%,các thị trường khác như Nhật, Mỹ, EU, trái cây Việt Nam cũng kém cạnh tranh hơnmột phần là do chính sách thuế quan các các nước này còn phân biệt

- Yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, thẩm mỹ khác trước, ngon, đẹp, sạch (ưutiên), rẻ, chất lượng và sản lượng ổn định

Trang 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ

2.1 THỰC TRẠNG VỀ SẢN XUẤT TRÁI CÂY TẠI TỈNH BẾN TRE.

2.1.1 Diện tích – sản lượng – Phân bố địa lý:

* Diện tích:

Trong thời kỳ 1991 – 2002, diện tích cây ăn trái của Bến Tre liên tục tăng từ14.175ha (năm 1991) lên đến 36.776 ha (năm 2002) Tốc độ tăng bình quân hàngnăm là 9,05% Đây là tốc độ phát triển diện tích khá cao của Bến Tre đứng thứ 2sau Tiền Giang (50.600ha) và trước Cần Thơ (34.769 ha) (Xem Biểu 5: Diện tích cây ăn trái của Bến Tre 1991-2002.)

Nhìn vào cơ cấu diện tích ta thấy tỷ trọng của nhãn và chôm chôm chiếm khácao, gần 46%% tổng diện tích cây ăn trái, thứ đến là các loại cây có múi (cam,chanh, quít) chiếm khoảng 23%, còn lại là các cây ăn trái khác

Trang 17

khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất cây trồng, thoát khỏi tư tưởng tự cấp tựtúc, bước đầu cải tạo vườn tạp để đi vào thâm canh, chuyên canh cây ăn trái khi cơchế thị trường bắt đầu phát triển (Xem Biểu 6: Sản lượng cây ăn trái Bến Tre).

* Phân bố địa lý:

Vườn cây ăn trái Bến Tre tập trung chủ yếu tại 3 huyện (có nguồn nướcngọt gần như quanh năm) là Chợ Lách, Châu Thành và Mõ Cày Do điều kiện tựnhiên thích hợp, Chợ Lách dẫn đầu về diện tích, sản lượng lẫn chủng loại và năngsuất cây trồng Đây cũng là huyện được tỉnh xem là địa bàn trọng điểm để xâydựng các mô hình sản xuất, chế biến cây ăn trái, thứ đến là Châu Thành và MỏCày, Các huyện khác, diện tích, sản lượng, cây ăn trái xem như không đáng kể

(Xem Biểu 7: Phân bố diện tích cây ăn trái tỉnh Bến Tre ).

Chợ Lách Châu ThànhMõ CàyCác Huyện Khác

2.1.2 Năng suất và giá thành các loại trái cây:

- Năng suất các loại trái cây tại các huyện tương đối đồng đều, không cóchênh lệch lớn (Xem Biểu 8: Năng suất một số loại trái cây phân theo Huyện ).

- Nếu so sánh năng suất các loại trái cây của Bến Tre năm 2002 với kế hoạchnăm 2010 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chúng ta thấy rằng năngsuất trái cây của Bến Tre hoàn toàn có khả năng đạt được như kế hoạch đã đề ra,

Trang 18

ngoại trừ xoài cát (khả năng tăng lên từ 5,3 T/ha đến 15T/ha thì khó đạt được).

(Xem biểu 9: Năng suất một số loại trái cây Bến Tre so với cả nước).

-Về giá thành: chưa có thống kê và điều tra nào nghiên cứu kỹ lưỡng về giá

thành các loại trái cây của Bến Tre Tuy nhiên, chúng ta có thể lấy nhận định củaCông ty Les Vergers Du Mekong để chứng minh rằng, hầu hết giá thành các loạitrái cây Việt Nam đều cao hơn các nước như Equador, Zaimaica, Kenya, Ugande,Zambia.Ngay tại Đông Nam Á, giá thành của trái cây chúng ta vẫn cao hơn nhiều

so với Thái Lan, Trung Quốc

2.1.3 Chất lượng trái cây và yêu cầu của khách hàng.

Chất lượng trái cây tùy thuộc lớn vào giống, vào từng nhà vườn (cách chămsóc, nguồn nước, thổ nhưỡng…) Tuy nhiên, qua đánh giá của các khách hàng vàchuyên gia thì trái cây Bến Tre chưa có sự đồng đều về kích cỡ, màu sắc, trọnglượng

Chất lượng của trái cây, hàng hóa nói chung chịu ảnh hưởng bởi một sốnhân tố sau :

- Độ chín khi thu hoạch: Việc xác định lúc nào thu hoạch là rất quan trọng Thu hoạch sớm thì màu sắc chưa đạt yêu cầu, tỷ lệ đường và acid chưa cân bằng nên mùi vị mất ngon, có khi quá chua Ngược lại, nếu thu hoạch trễ thì lượng đườngvà acid giảm nhiều, trái cây có vị nhạt

- Các dụng cụ khi thu hoạch (dụng cụ cắt hái, hứng, đựng, đóng gói…) và kỹ thuật thu hoạch

- Giờ thu hoạch: buổi sáng thu hoạch trái cây thường tốt hơn các buổi khác trong ngày

Hiện nay, theo yêu cầu của khách hàng nói chung trái cây thương mại phải đạtchuẩn sau đây:

Trang 19

- Thuần giống, xuất phát từ giống có xác nhận, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.

- Thu hái phải đủ già, không bị bầm dập

- Không bị sâu bệnh và an toàn vệ sinh dịch bệnh Không có tồn dư kim loại nặng hoặc độc tố của thuốc trừ sâu

- Tuỳ theo từng khách, có yêu cầu riêng về trọng lượng trái, kích cỡ, độ ngọt, hấp dẫn về màu sắc vỏ, độ chua……

- Đóng gói đúng tiêu chuẩn

- Có mặt thường xuyên trên thị trường

- Giá cả phải chăng

- Thương hiệu có tiếng, có uy tín

Lâu nay, trái cây Bến Tre phần lớn xuất tiểu ngạch sang thị trường TrungQuốc Thị trường này rộng lớn, có nhiều tiềm năng tiêu thụ trái cây Việt Nam Loạitrái cây nào cũng có thể bán đươc, chất lượng không cao lắm, giá phải tương đối rẻvà phải giữ chữ tín trong buôn bán Tuy nhiên, trong những tháng gần đây, thịtrường này có nhiều thay đổi, yêu cầu cao hơn về chất lượng, kiểm dịch chặt chẽ từcấp Trung Ương của Trung Quốc… những vấn đề này đang là thách thức cho cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh trái cây Việt Nam

Nước ta chưa có quy định nào về tiêu chuẩn hay quy cách của trái cây, trong khi đó các nước phát triển đều chào hàng trái cây bằng những tiêu chuẩn định tính, định lượng cụ thể, có đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu rõ ràng

2.1.4 Chủng loại trái cây và thời vụ thu hoạch:

Nếu không tính cây dừa, Bến Tre trồng được nhiều loại cây ăn trái, trong đónhãn chiếm 40 % diện tích, cây có múi 20%, chôm chôm 10%, còn lại là các câykhác

Trang 20

Từ năm 2001 đến nay, nhiều nhà vườn đã chuyển hướng từ việc trồng nhãnsang trồng sầu riêng hạt lép, bòn bon Thái Lan, xoài cát, cam sành có hiệu quả kinh

tế cao.( Xem Biểu 10: Cơ cấu diện tích và sản lượng Trái Cây Bến Tre 2002)

Với ưu thế khí hậu nhiệt đới ven biển và nhiều cửa sông cuối nguồn bồi đắpphù sa cho ba dãy cù lao, Bến Tre hình thành nên một vùng trái cây quanh nămxanh tốt Đặc điểm này giúp cho nhiều loại trái cây có thể phát triển xen canhquanh năm cùng vơí các vùng chuyên canh , giúp cho các nhà vườn có thể nâng caohiệu quả

Một số loại trái cây phổ biến ở Bến Tre là:

- Nhãn: Tiêu lá bầu, Xuồng cơm vàng, Long

- Chôm chôm: Java, Chôm chôm nhãn (đường)

- Bưởi:Đường, Long, Da xanh, Năm roi

- Sầu riêng: Hạt lép, Mong thong

- Xoài: Cát Hoà Lộc, Cát chu, Thanh ca, Xiêm, Ghép (xoài hôi, xoài bưởi)

- Cam: Sành

* Về thời vụ thu hoạch:

Đối với trái cây, mùa vụ là một đặc điểm đóng vai trò quan trọng trong việcsản xuất hàng hoá Xu hướng mùa vụ hiện thời tương đối được nới rộng và chủđộng do người dân biết áp dụng một số biện pháp kích thích sinh trường, cho ra hoatrái vụ và khống chế nước

Thông thường trái cây thu hoạch trái vụ hoặc đầu mùa sẽ bán được giá hơnchính vụ Tuy nhiên, một số loại trái cây trái vụ vẫn bị rớt giá vì ai cũng thực hiệnbiện pháp ra hoa trái vụ (nhất là trong năm 2002) (Xem Biểu3: Mùa vụ thu hoạch trái cây Nam Bộ ).

2.1.5 Thực trạng của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật:

Trang 21

Nông dân Bến Tre đã có ý thức nâng cao hiệu quả bằng cách tăng năng suất,chất lượng thông qua các hình thức thâm canh, xen canh, chuyển đổi giống.

Trong thời gian qua, một số ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng vàocác vườn cây ăn trái tại Bến Tre như sau:

* Về giống:

Chất lượng giống vườn ươm là yếu tố có tác động quan trọng cho vườn câymới lập và ảnh hưởng lâu dài đối với chu kỳ sống của cây và hiệu quả kinh tế củacây trồng

Các nhà vườn Bến Tre có nhiều kinh nghiệm trong việc sưu tập, trồng và nhângiống nhiều loại cây ăn trái tốt, có hiệu quả kinh tế cao Tiêu chuẩn để chọn giốngthường căn cứ vào các tiêu chuẩn như cây phải sạch bệnh, sinh trưởng và phát triểntốt, năng suất cao, ổn định nhiều năm chất lượng trái cây phù hợp với ngườitiêu dùng

Các loại giống cây trồng đang được phổ biến tại Bến Tre:

- Nhãn: Tiêu da bò (xuất khẩu), Long (tiêu thụ nội địa)

- Chôm chôm: Đường, Rong riêng, Chôm chôm nhãn, Java

- Sầu riêng: Cơm vàng hạt lép, Mong thong

- Cam: Sành

- Bưởi: Năm roi, Đường , Da xanh , Long

- Xoài: Cát Hoà Lộc, Cát chu

* Về mật độ và khoảng cách, các mô hình canh tác:

Xu hướng chung của các nhà vườn Bến Tre là trồng cây với mật độ dày đểmau thu hoạch và sản lượng cao Tập quán này phù hợp với hộ có quy mô diện tíchnhỏ Tuy nhiên, trồng dày quá sẽ dẫn đến năng suất thấp, nhiều bệnh hại, chu kỳkhai thác ngắn

Trang 22

* Các mô hình trồng xen chủ yếu là: nhãn - sầu riêng, nhãn – chôm chôm, nhãn

– cam, măng cụt – bòn bon

* Tỉa cành tạo tán: nhằm làm cây thấp đi, tăng số cành mang trái, từ đó dễ

dàng áp dụng các biện pháp IPM (thả kiến vàng và thiên địch)

* Bảo vệ thực vật: Hầu hết các hộ đều sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu

bệnh hại trên các loại cây Vấn đề liều lượng, thời gian cách ly an toàn không đượcquan tâm đến Việc này ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng và môitrường sinh thái, tạo nguy cơ sâu bệnh lờn thuốc

* Bón phân: Người dân thường sử dụng đạm, lân, kali, chưa quan tâm sử dụng

phân hữu cơ để tăng tính thoát nước, tăng quần thể vi sinh vật có ích (giải quyếtbệnh Greening vàng lá chết cây)

* Xử lý ra hoa để tạo nghịch mùa trái vụ: Nông dân hiện nay có nhiều kinh

nghiệm và áp dụng tiến bộ kỹ thuật để xử lý ra hoa nghịch vụ và rải vụ, nhất làtrên cây nhãn Tuy nhiên, do thị trường còn nhiều bất ổn, nông dân lại không đượccập nhật thông tin đầy đủ và kịp thời để biết xử lý trái vụ vào lúc nào, loại trái cây

gì có giá, bán vào thị trường nào Do đó, hiệu quả kinh tế thu được vẫn không cao.Nhiều nông dân xử lý cho trái nghịch vụ, cuối cùng nghịch vụ cũng như chính vụ,giá bán vẫn thấp

* Giống cây ăn trái:

+ Khu vực nhà nước và tập thể:

Từ năm 1996 đến năm 2000, tỉnh đã đầu tư hơn 2 tỷ đồng để xây dựng các trạigiống do trung tâm giống cây trồng quản lý Từ năm 2000 đến năm 2002 đầu tư hơn

7 tỷ đồng để nâng cấp các trại giống để từng bước hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, xâydựng 3 trại giống ở Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày Tỉnh hiện có 7 Hợp tác xãchuyên doanh cây giống đang hoạt động ở Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm Các

Trang 23

trại giống và Hợp tác xã này hàng năm sản xuất và cung ứng khoảng 150.000 câygiống các loại.

+ Khu vực Tư nhân:

- Toàn tỉnh có 10.000 hộ sản xuất – kinh doanh giống cây ăn trái

- 70 nhà lưới lớn nhỏ sản xuất cây có múi sạch bệnh

- Hàng năm sản xuất 15 – 20 triệu cây giống

* Nhận xét:

- Sản xuất giống chưa có định hướng rõ nên tập trung đầu tư và phát triểnchưa đúng mức, sản xuất giống chưa đồng bộ nhất là các giống chủ lực, mạng lướicung ứng giống chưa nhiều, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu tại chỗ

- Nông dân thiếu vốn và chưa nhận thức được giống là nhân tố quyết định nênchưa mạnh dạn sử dụng giống có chất lượng tốt Mặt khác, chưa có định hướng đầu

ra cho sản phẩm cây trồng nên nông dân còn lúng túng trong việc chọn giống

- Một số hộ kinh doanh giống chạy theo số lượng, lợi nhuận nên việc thiếuquan tâm chất lượng và uy tín trên thương trường

- Quản lý nhà nước đối với công tác giống còn lúng túng, bất cập chưa theo kịpyêu cầu phát triển, chưa kiểm soát hết giống du nhập vào tỉnh cũng như giống xuấtbán ra ngoài tỉnh

2.1.6 Thực trạng các hoạt động sau thu hoạch.

Hoạt động sau thu hoạch là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhấtđối với trái cây Bến Tre đã có nhiều cuộc hội thảo, và các chương trình nghiên cứubàn thảo đến vấn đề công nghệ sau thu hoạch Quá trình xử lý trái cây sau thuhoạch có thể hình dung bằng sơ đồ sau đây:

Trang 24

Một số hoạt động sau thu hoạch có thể nêu ra như sau:

* Bảo quản, chế biến:

- Làm sạch các loại sâu, bệnh hại: các biện pháp hiện nay thường sử dụng làxông ethylen, bromid, methyl bromid, carbonxyl sulfit để phòng trừ sâu, ong, ruồiđục trái, nhện, rệp dính, hoặc nhúng dimethoate, nhúng sáp, xử lý nhiệt, xử lý lạnh,chiếu phóng xạ, nhúng chitosan để bảo quản một số loại trái cây

- Đối với bảo quản tươi: bảo quản trái cây tươi từ 1,5 tháng đến 2 tháng sau thuhoạch chưa được phổ biến Nông dân chủ yếu rửa sạch, phân loại, đóng thùng rồiđưa đi tiêu thụ Do đó, khả năng xuất hàng hoá bằng đường thuỷ hoặc đường bộsang các nước, lân cận cũng rất khó khăn, chưa kể đến việc xuất khẩu sang các thịtrường xa hơn

Nhà vườn đã sử dụng một số biện pháp xử lý đối với các loại trái cây nhưsau:

- Đối với xoài: người dân bắt đầu biết xử lý bằng thuốc trừ nấm (Tecto) đểngừa thối trái do nấm và một số bệnh khác như thán thư và chảy mủ Một số hộkhác cũng đang thử áp dụng một số hoá chất để kéo dài thời gian sinh trưởng.Thông thường nhất là ủ chín bằng khí axêtilen

- Đối với cam, chanh được bảo quản trong nhà mát hoặc vùi trong cát

Trang 25

- Đối với nhãn: thường được sấy (xông khí) SO2 , dư lượng SO2 còn trong tráicây khá cao, 240-250 ppm trong cơm nhãn Trong khi đó theo yêu cầu của Mỹ vàNhật thì chỉ 30ppm.

- Chôm chôm: được trữ lạnh trong thùng xốp polystiren nhằm chống mất nướcvà giữ không cho chuyển màu

- Các phương tiện vận chuyển thường sử dụng là: xuồng, gánh bộ, xe ba gác,

xe gắn máy ,xe tải, xe lạnh, máy bay và tàu biển

- Tỷ lệ hỏng do vận chuyển chiếm đến 27% (Theo đánh giá của Hiệp hội Tráicây Việt Nam)

* Đóng gói:

Nông dân chủ yếu dùng bao PE để bọc, thùng gỗ, thùng móp, rỗ mũ, thùngcarton, sọt tre, để chứa các loại trái cây khi đi tiêu thụ

Nói chung mẫu mã đơn giản, chưa đảm bảo an toàn cho trái cây phía trong (dễ

bị dập, không thoáng khí, không hoá chất giữ trái cây lâu hư…) và không đượcđẹp mắt

Hầu hết các hộ nông dân chưa được huấn luyện và hướng dẫn kỹ thuật thuhoạch, như về độ chín thu hoạch thích hợp cho từng loại trái, cho những mục đíchkhác nhau, cho các thị trường khác nhau, chủ yếu họ dựa vào kinh nghiệm

Thời gian thu hoạch trong ngày cũng chưa được chú ý như hái trái quá trưa sẽdẫn đến nắng nóng quá , trái dễ mất màu và hư

Trang 26

Khi thu hoạch nông dân thường đổ xuống đất , dễ nhiễm vi sinh vật, bầm dập.Dụng cụ thu hoạch chưa được cải tiến, rất lạc hậu

2.1.7 Nhận xét.

- Diện tích cây ăn trái của Bến Tre tương đối lớn, chủng loại đa dạng, phongphú Tuy nhiên chưa hình thành các vùng chuyên canh lớn Vấn đề này là do Tỉnhchưa lập bản đồ cây ăn trái, trồng cây gì ở đâu xuất thị trường nào Định hướng pháttriển chưa rõ

- Nhãn (tươi, khô) và chôm chôm tươi và chiếm tỷ trọng cao (46%) trongkhi xuhướng tiêu thụ cây ăn trái trên thế giới có sự chuyển hướng (tiêu thụ nước hoa quảcô đặc và đóng hộp) Các nước trên thế giới không chuộng lắm hai loại trái câynày

- Hiện nay trái cây xuất khẩu và tiêu thụ nội địa chủ yếu là sản phẩm tươi Sảnphẩm đã qua chế biến không cao Trong khi đó, trình độ chế biến, bảo quản sảnphẩm tươi không được chú ý, chưa ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khâunày

- Giá thành trái cây còn khá cao do năng suất kém và sản xuất manh mún

- Chất lượng trái cây Bến Tre ngoài một vài loại đặc biệt như sầu riêng hạtlép, nhãn tiêu da bò, xuồng cơm vàng… còn lại các loại khác chưa thuần giống, độđồng đều và kích cỡ không được tiêu chuẩn hoá, màu sắc vỏ và độ ngọt không đápứng được yêu cầu

- Thời vụ thu hoạch phần lớn trái cây Bến Tre chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thụcủa khách hàng (số lượng lớn tập trung vào một thời điểm)

- Hệ thống kho trung chuyển hầu như chưa có gì

- Thời gian vận chuyển ảnh hưởng đến chất lượng trái cây, tỷ lệ hỏng do vậnchuyển cao, chưa có phương tiện chuyên dùng để vận chuyển trái cây

Trang 27

- Hệ thống bảo quản và chế biến chủ yếu là thủ công của hộ dân, chưa đượcnhà nước xây dựng và hoàn thiện.

- Công tác khuyến nông, cung cấp thông tin về kỹ thuật canh tác, công tác cảitạo giống còn thực hiện chưa rộng khắp, chưa cập nhật được những công nghệ củanước ngoài và triển khai còn chậm

- Thu nhập của nông dân từ trái cây còn chưa ổn định do giá cả thị trường cònbấp bênh

- Ý thức của người dân trong việc chọn giống, bình tuyển giống và bón cácloại phân hoá học chưa được cao

- Nhiều loại giống không xác nhận, không qua kiểm định được sử dụng trànlan

- Phân bón hoá học được sử dụng phổ biến gây thoái hoá đất Phân hữu cơchưa được coi trọng

2.2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHÁCH HÀNG CỦA TRÁI CÂY BẾN TRE :

2.2.1 Thị trường tiêu thụ trái cây Bến Tre:

2.2.1.1 Phân theo khu vực địa lý:

Trái cây Bến Tre được tiêu thụ trên thị trường nội địa và xuất khẩu, trong đóchủ yếu là nội địa Thị trường tiêu thụ nội địa của Bến Tre bao gồm: tại chỗ vàngoài địa phương

Theo số liệu của Sở Thương Mại – Du lịch Bến Tre, vào năm 2001 toàn tỉnhcó khoảng 200 điểm bán lẻ trái cây tại chợ và khoảng 1000 hộ nhà vườn mang sảnphẩm ra chợ bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Trên toàn tỉnh có 300 vựa trái cây theo nhiều quy mô khác nhau tập trung tạihuyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày

Trang 28

- Việc tổ chức thu mua tại các vựa trái cây hết sức linh hoạt theo nhiềuphương thức:

+ Mua theo số lượng thực tế tại nhà vườn

+ Mua tại các vựa do nhà vườn mang đến

+ Vệ tinh thu gom ở những nơi không thuận lợi giao thông

- Tuỳ theo đặc điểm các vùng trái cây mà vựa có thể thu mua nhiều mặt hàngtrái cây hoặc chuyên doanh một mặt hàng Chẳng hạn như các vựa Chợ Lách muanhãn, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt…., các vựa Mỏ Cày chuyên mua cam, vựaGiồng Trôm chuyên mua chanh, chuối…

- Giá cả thu mua chủ yếu chịu sự khống chế điều tiết của các vựa trái cây lớnnhư chợ Cầu Muối (TPHCM), chợ An Hữu (Tiền Giang) hoặc giá của các thương láiđường dài đi Hà Nội, Trung Quốc

- Thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh là: Tiền Giang, TPHCM Từ đây, các vựa lớnsẽ phân phối hàng đi miền Trung, các tỉnh phía Bắc Ngay tại Bến Tre, cũng có mộtsố vựa đóng hàng đi các tỉnh Kiên Giang, Lâm Đồng, Vũng Tàu, Đắc Lắc

- Theo số liệu điều tra của chúng tôi , vào năm 2002 tỷ trọng tiêu thụ trái câyngoài tỉnh khoảng 95% (368.686 tấn), 5% tiêu thụ trong tỉnh (19.404 tấn)

Trong sản lượng trái cây tiêu thụ ngoài tỉnh có khoảng 15-20% được xuấtkhẩu sang Trung Quốc Ngoài ra, vào cuối năm 2002, đầu năm 2003 các thương láiđã xuất khoảng 1.000 tấn chôm chôm và nhãn qua thị trường Campuchia

- Theo dự báo của Sở Thương Mại Du lịch, một số thị trường xuất khẩu trái câytiềm năng của Bến Tre là:

+ Trung Quốc: nhãn tươi, chuối khô, dừa trái

+ EU: xoài, nước ép từ xoài, chuối, nước ép trái cây chuối

+ Mỹ, Canada: nước trái cây, các sản phẩm từ nhãn và chuối

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w