Nhân nuôi với số lượng lớn có thể chuyển về các thành phố lớn bán cho các nhà hàng đặc sản thì giá trị còn cao hơn nhiều vì ở những nơi này nhu câu về sản phẩm từ động vật hoang dã là rấ
Trang 1KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận
1.1 Trong điều kiện tự nhiên phổ thức ăn của Kỳ đà hoa rất
rộng gồm 11 loài thức ăn là các con mồi còn sống hay đã chết Trong
đó chủ yếu là Cá nước ngọt, Nghóe và xác chết động vật Hang của
Kỳ đà rất đơn giản chúng thường trú mình trong các hốc cây rỗng
mục bên cạnh các khe suối hay các hốc đá
1.2 Trong điều kiện nuôi nhốt kỳ đà hoa hoạt động mạnh mẽ
trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm và hoạt động mạnh
nhất trong khoảng từ tháng 5 đếm tháng 9
1.3 Trong điều kiện nuôi nhốt kỳ đà sử dụng nhiều loại thức
ăn khác nhau trong đó sử dụng nhiều nhất là cóc nhà (Bufo
melanosticus) chiếm khoảng 24,71 %, tiếp theo là ngóe (Limnonectes
limnocharis) chiếm khoảng 23.26%, cá (15,7%), phổi lợn (15,12%),
da lợn (12,79 %) Thức ăn mà Kỳ đà ít sử dụng là trứng chim cút
(6,4%) chuột 1,16%, thằn lằn bóng (0,87%)
1.4 Kỳ đà sinh trưởng mạnh nhất vào giữa mùa hoạt động
trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 9
1.5 Trong điều kiện nhân tạo việc nhân giống Kì đà rất khó
khăn Đề tài đã áp dụng một số phương pháp ấp trứng nhưng chưa
thành công
1.6 Trong điều kiện môi trường nuôi nhốt Kì đà rất ít bị
bênh Chúng thường mắc bệnh tiêu chả là chính, cần theo dõi sát sao
và có biện pháp phòng trị bệnh kịp thời
1.7 Đề tài đã xây dựng được 01 quy trình kỹ thuật chăn nuôi
kỳ đà thương phẩm và tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật cho
cán bộ khuyến nông, người dân xã Mường Phăng, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên
4.2 Khuyến nghị
Cần có những nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt nghiên cứu về
sinh sản trong điều kiện nuôi nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc
gây nuôi và bảo tồn thành công loài động vật này
Nhân nuôi kỳ đà hoa thương phẩm cần chú ý trong những
tháng mùa đông (tháng 12 đến tháng 2 năm sau) cần có biện pháp
sưởi ấm cho Kỳ đà nếu không kỳ đà có thể chết vì lạnh Các hộ gia
đình khi chăn nuôi thương phẩm loài này nên bán kỳ đà vào cuối
tháng 10 đầu tháng 11 hàng năm để tránh mùa đông
SỞ KH&CN TỈNH ĐIỆN BIÊN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP TỈNH
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG KỲ ĐÀ HOA (VARANUS
SALVATOR) TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN)
(MÃ SỐ ĐỀ TÀI/DỰ ÁN)
Cơ quan chủ trì đề tài/dự án: Trung tâm NCKH & CG Công nghệ Chủ nhiệm đề tài/dự án: ThS Đào Nhân Lợi
Sơn La, 2015
Trang 22
SỞ KH&CN TỈNH ĐIỆN BIÊN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP TỈNH
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG KỲ ĐÀ HOA
(VARANUS SALVATOR) TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN)
(MÃ SỐ ĐỀ TÀI/DỰ ÁN)
ThS Đào Nhân Lợi TS Cao Đình Sơn
31
3.7 Xây dựng mô hình chăn nuôi Kỳ đà
Đã xây dựng được 01 mô hình chăn nuôi Kỳ đà tại bản Huổi Phạ, Phường Him Nam, Thành Phố Điện Biên:
Số lượng cá thể trong mô hình : 20 cá thể/01 mô hình (10 cá thể đực và 10 cá thể cái)
Thời gian xây dựng : tháng 8 năm 2014
- Nguồn giống: Công ty Cổ phần và Dịch vụ thương Mại rắn Vĩnh Sơn
Địa chỉ: Xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc
3.8 Xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi kỳ đà 3.9 Hội thảo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi Kỳ đà cho các cơ sở chăn nuôi, hộ gia đình áp dụng vào sản xuất
- Tổ chức hội thảo
- Đã tổ chức 01 hội thảo nhằm mục đích tổng kết đánh giá, giúp bổ sung hoàn thiện quỳ trình kỹ thuật nhân nuôi Kỳ đà hoa và
mở rộng mô hình
+ Địa điểm tổ chức: Thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên + Thành phần đại biểu: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên, Phòng kinh tế Thành phố Điện Biên, Phòng Nông nghiệp huyện Điện Biên, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Điện Biên, Sở Nông nghiệp tỉnh Điện Biên, Chủ trang trại chăn nuôi Kỳ đà, Trung tâm thực nghiệm Nông Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Bắc, các giảng viên Khoa Nông Lâm Trường Đại học Tây Bắc
- Tập huấn chuyển giao
+ Đã tổ chức 01 lớp Tập huấn cho người dân quy trình kỹ thuật chăn nuôi Kỳ đà thương phẩm và đưa người dân di thăm quan
mô hình
+ Đối tượng tập huấn: Cán bộ khuyến Nông huyện Điện Biên, người dân xã Mường Phăng, Cán bộ Kiểm Lâm khu rừng Đặc dụng Mường Phăng
Trang 3Sau 30 ngày quan sát ta thấy tỷ lệ trứng có phôi ở các công
thức thí nghiệm như sau
Bảng 3.22 Tỷ lệ trứng Kỳ đà có phôi ở các công thức thí
nghiệm Công thức thí nghiệm Số lượng
trứng đem
ấp (quả)
Số lượng trứng có phôi
Tỷ lệ %
có đực
Công thí nghiệm 1 (1
Công thức thí nghiệm 2
Công thức thí nghiệm 3
Từ bảng trên ta nhận thấy trong các công thức thí nghiệm thì
công thức số 1 (1 đực 1 cái) cho tỷ lệ có phôi là cao nhất 13 quả
(chiếm 68,4%), thứ hai là công thức thí nghiệm 2 (1 đực 2 cái) cho tỷ
lệ có phôi là 19 quả (chiếm 52,8%) cuối cùng là công thức 3 (1 đực 3
cái) l6 quả (chiếm 30,8%)
- Tỷ lệ nở của trứng
Qua quá trình ấp trứng từ ngày 10/4/2015 đến ngày 10 tháng 7
năm 2015 thì trứng kỳ đà không nở:
+ Sau 30 ngày trứng Kỳ đà có tiến triển rất tốt, phát hiện rõ
ràng các trứng có phôi và các trứng không có phôi và chưa có phôi
+ Sau 60 ngày trứng Kỳ đà có những quả có những quả teo
móp lại 1/3 quả
3.6 Đánh giá tình hình bệnh tật của Kỳ đà
Trong tự nhiên, kỳ đà ít bị bệnh nhờ sống trong môi trường
thích hợp Tuy nhiên trong điều kiện nuôi một số bệnh xuất hiện,
phản ánh chuồng trại, thức ăn hoặc việc chăm sóc nuôi dưỡng không
phù hợp
Trong quá trình quan sát và theo dõi thì Kỳ đà hoa thường
mắc một số loại bệnh như: bệnh tiêu chảy, bệnh thiếu vitamin A,
MỞ ĐẦU
Kỳ đà hoa thuộc họ Kỳ đà (Varanidae), có cơ thể dài tới 2,5
m, cá thể cái có cơ thể nhỏ hơn Đây là loài thằn lằn cỡ lớn nhất, đầu thuôn dài, cổ dài, mõm dài và hơi dẹp, có hai lỗ hình bầu dục ở vị trí gần mắt hơn là gần mút mõm Lưỡi dài mảnh, đầu lưỡi chẻ đôi, lưỡi luôn luôn thò ra thụt vào qua khe miệng như lưỡi rắn Cơ thể to dài,
có đuôi dẹp bên, sống đuôi rất rõ Môi trường sống của kỳ đà phong phú và đa dạng Kỳ đà hoa hoang dã có mặt ở hầu khắp các nước khí hậu nhiệt đới, nhất là những vùng rừng núi và thường sống trong những gốc cây, hốc đá, kẽ hở đất, đá… Ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn Da kỳ đà hoa lớn làm đồ mĩ nghệ, đồ lưu niêm
có giá trị thương mại cao được nhiều người người ưa thích, mật kỳ đà ngâm rượu hoặc sấy khô làm thuốc để chữa nhiều bệnh như bệnh động kinh, hen, nhức mỏi xương cốt, kiết lỵ, Thịt kỳ đà hoa là thực phẩm đặc sản rừng rất thơm ngon và bổ dưỡng được thị trường rất ưa chuộng (hiện thời giá bán 1kg kỳ đà trên thị trường khoảng 400.000 đồng/kg, riêng túi mật giá khoảng 300.000 đồng) Nhân nuôi với số lượng lớn có thể chuyển về các thành phố lớn bán cho các nhà hàng đặc sản thì giá trị còn cao hơn nhiều vì ở những nơi này nhu câu về sản phẩm từ động vật hoang dã là rất lớn.Vì vậy, hiện nay ở ngoài tự nhiên kỳ đà hoa đang bị săn bắt rào riết và đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp kỳ đà ở mức nguy cấp (EN) và trong Nghị định 32 ở nhóm IIB (động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Mặt khác, thành phố Điện Biên là thành phố du lịch có nhiều các nhà hàng đặc sản, quán ăn và mỗi năm đón hàng trăm nghìn khách du lịch đến thăm,…do vậy sẽ có nhu cầu rất cao về sản phẩm này
Tóm lại, kỳ đà hoa là loài bò sát có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên ngoài tự nhiên mật độ, trữ lượng đã bị giảm sút không còn khả năng khai thác Thực tế đòi hỏi phải nhân nuôi, phát triển số lượng cá thể để vừa đáp ứng như cầu của thị trường, vừa làm giảm áp lực săn bắn và góp phần bảo tồn nguồn gen quí hiếm Mặc dù đã có một số
cơ sở bước đầu chăn nuôi thành công loài này, tuy nhiên cho đến nay, những hiểu biết và tài liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái loài,
về kỹ thuật chăm sóc và đặc biệt là kỹ thuật nuôi sinh sản, nhân giống còn rất hạn chế
Trang 44
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
29
lượng > 30 g cho tỷ lệ phôi là 42,86% trong khi đó trứng có khối lượng < 25 g cho tỷ lệ phôi thấp nhất chiếm 21,21%
3.5.4 Khả năng ấp nở bằng phương pháp nhân tạo
3.5.4.1 Thiết kế phòng ấp trứng
Phòng ấp trừng kỳ đà thiết kế đơn giản nhưng phải đảm bảo cho nhiệt độ và độ ẩm luôn luôn ổn định ở mức 280C và độ ẩm ở 80 – 90% Vì vậy phòng thiết kế như sau
+ Điện tích phòng khoảng 4 m2 xung quanh xây bằng tường gạch cao 2 m bên trên có lợp mái phibro xi măng hay mái tôn + Nền nhà được đổ bê tông dày khoảng 5 cm
+ Trong phòng được bố trí hệ thống theo dõi nhiệt độ độ ẩm Trên nền phòng được đổ cát ẩm dày 50 cm và bố trí các giỏ
ấp trứng như hình sau:
3.5.4.2 Phương pháp ấp trứng
+ Trứng kỳ đà vừa mới nở ra được thu thập lại, dùng cồn 1 phần nghìn để khử trùng, sau đó xếp trứng vào khay ấp trừng và đưa vào phòng ấp
+ Trong phòng ấp trứng đặt các giá bằng nhựa sâu khoảng 40
cm, chôn trong cát đến bằng miệng mặt giỏ bên trong khay bằng nhựa có đặt khay nhỏ chứa nước (để giữ độ ẩm cho trứng Kỳ đà) sau
đó mới đặt khay trứng lên và đậy lại
+ Trong phòng và mỗi khay bằng nhựa cần phải đặt nhiệt kế
để theo dõi nhiệt độ và độ ẩm thường xuyên
+ Nếu nhiệt trong phòng cao và độ ẩm thấp ta sử dụng bình phun nước dạng sương mù phun nước vào cát và xung quanh khay ấp
để giữ độ ẩm luôn luôn ở mức 80 – 90%
+ Nếu nhiệt độ trong phòng thấp độ ẩm cao thì ta cần phải sử dụng bóng sưởi hồng ngoại để sưởi ấm cho trứng (chú ý phải thường xuyên kiểm tra nhiệt độ và độ ẩm trong phòng và khay ấp trứng để có những điều chỉnh cho phù hợp)
3.5.4.3 Kết quả quan sát qua trình ấp trứng
- Phát hiện trứng có phôi
+ Sau thời gian ấp trứng 30 ngày tiến hành soi trứng để kiểm tra xem trứng có phôi hay không Ta lấy đen pin ánh sáng đỏ soi sát vào quả trứng (giống trứng gà) nếu như ta quan sát thấy các tia máu hình thành thì những quá trứng đó là những quả trứng có đực những quả trứng không hiện mạch máu và tối màu ta tiến hành loại bỏ
Trang 5Chỉ số
hình
dạng
Tổng số
trứng
Số lượng trứng
có phôi
Tỷ lệ%
Số lượng trứng không phôi
Tỷ lệ%
1,55 –
1,65
Từ bảng trên ta có nhận xét: Qua quá trình quan sát chúng tôi
thấy tỷ lệ có phôi trong nhóm trứng có chỉ số hình dạng trong khoảng
1,55 – 1,65 cho tỷ lệ có phôi là cao nhất (chiếm 66,7%), tiếp theo là
nhóm có chỉ số hình dạng > 1,65 (chiếm 36,7%), thấp nhất là nhóm
có chỉ số hình dạng < 1,55 (chiếm 21,36%)
3.5.3.2 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá chất
lượng trứng Trứng kỳ đà đẻ ra, cân ngay, kết quả theo dõi khối
lượng trứng thể hiện trong bảng sau
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của khối lượng trứng đến tỷ lệ có phôi
Khối
lượng
trứng (g)
Tổng số
trứng
Số lượng trứng có phôi
Tỷ lệ%
Số lượng trứng không phôi
Tỷ lệ%
Từ bảng trên ta có nhận xét: Trứng có khối lượng từ 25 g – 30
g cho tỷ lệ phôi cao nhất (chiếm 63,04%), tiếp theo là trứng có khối
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi kỳ đà tại tỉnh Điện Biên
Xây dựng mô hình chăn nuôi Kỳ đà 20 Cá thể tại tỉnh Điện Biên
Tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nhân nuôi Kỳ đà cho người dân áp dụng và sản xuất
2.2 Nội dung nghiên cứu Nội dụng 1 Điều tra khảo sát Nội dụng 2 Theo dõi tập tính của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
Nội dung 3 Nghiên cứu xác định thức ăn cho kỳ đà hoa Nội dung 4 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của kỳ đà hoa Nội dung 5 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản cơ bản của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
Nội dung 6 Đánh giá tình hình bệnh tật của kỳ đà hoa Nội dung 7 Xây dựng mô hình chăn nuôi kỳ đà hoa Nội dung 8 Xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi kỳ đà Nội dung 9 Hội thảo tập huấn chuyển giao kỹ thuật 2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm 1 Thí nghiệm về nuôi kỳ đà hậu bị được bố trí tại tỉnh Điện Biên
- Địa điểm 2 Thí nghiệm về kỳ đà nhỏ và kỳ đà sinh sản được bố trí tại Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Nông – Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Bắc, Thuận Châu, Sơn La
2.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần thức ăn và sinh trưởng của cá thể
Kỳ đà hoa
Đối tượng nghiên cứu gồm 10 cá thể kỳ đà hoa (5 cá thể thời
kỳ hậu bị (14 tháng tuổi) và 5 cá thể kỳ đà nhỏ (7 ngày tuổi) Nguồn giống do Công ty Cổ phần dịch vụ và Thương mại rắn Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc cung cấp Bố trí thí nghiệm nuôi Kỳ đà thể hiện trong bảng sau:
Trang 66
+ Thí nghiệm bố trí theo dõi thức ăn và sinh trưởng của Kỳ đà hoa
hậu 14 tháng tuổi tại Thành phố Điện Biên
+ Thí nghiệm bố trí theo dõi thức ăn và sinh trưởng của Kỳ đà nhỏ (1
tuần tuổi) tại Trung Tâm Thực nghiệm Nông – Lâm nghiệp, Thuận
Châu, Sơn La
+ Bố trí thí nghiệm theo dõi một số đặc điểm sinh sản
Thí nghiệm theo dõi sinh sản được bố trí 27 cá thể kỳ đà theo
tỷ lệ (1 đực : 1 cái; 1 đực 2 cái; 1 đực: 3 cái) được bố trí tại Trung
tâm thực nghiệm Nông – Lâm nghiệp, Thuận Châu, Sơn La
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thực hiện nội dung 1 Điều tra Khảo sát
+ Điều tra theo tuyến
Tiến hành điều tra: Dấu vết của Kỳ đà để lại như phân của
Kỳ đà, thức ăn thừa, dấu vết để lại, kiểu sinh cảnh ưa thích của Kỳ
đà, thức ăn của Kỳ đà, hang hốc trú ẩn của Kỳ đà
+ Khảo sát một số mô hình chăn nuôi Kỳ đà tại các cơ sở
chăn nuôi:
2.4.2 Phương pháp thực hiện nội dung 2 Theo dõi tập tính của Kỳ
đà trong điều kiện nuôi nhốt
Tại các công thức thí nghiệm tiến hành quan sát 1 tuần 1 lần
24/24 h trong suốt thời gian nghiên cứu để xác định một số tập tính
cơ bản như:
+ Tập tính bắt mồi của kỳ đà, tập tính tự vệ, tập tính sử dụng
nước, tập tính tắm nắng, thời gian hoạt đông của kỳ đà
2.4.3 Phương pháp thực hiện nội dung 3 Nghiên cứu xác định
thức ăn cho Kỳ đà hoa
Thành phần thức ăn
Dựa vào kết quả điều tra khảo sát, tham khảo tài liệu tiến
hành cho ăn nhiều loại thức ăn khác nhau xem con vật ăn những loại
thức ăn nào Từ đó xác định được các danh lục các loại thức ăn mà
con vật sử dụng
- Xác định khẩu phần ăn
Tiến hành cân lượng thức ăn trước khi cho ăn và sau khi cho
ăn với mỗi loại thức ăn để xác định khối lượng thức ăn kỳ đà tiêu thụ
qua các tháng
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu nội dung 4: Nghiên cứu đặc điểm
sinh trưởng của Kỳ đà
27
khù khù ở phía trước đầu của con cái (quá trình vơn nhau) Quá trình này có thể kéo trong khoảng 2 – 3 ngày cho đến khi cá thể cái chịu đực thì các thể đực leo lên lưng cá thể cái và thò gai giao cấu ở gốc huyệt và tiến hành giao phối với con cái
- Tuổi sinh sản của Kỳ đà + Không thể căn cứ vào màu sắc và kích thước để xác định thời điểm sinh sản của kỳ đà cái mà buộc phải nhớ tuổi của kỳ đà, kỳ
đà sẽ sinh sản sau khoảng 20 -24 tháng tuổi Vậy khi kỳ đà 20 - 24 tháng tuổi thì ta bắt đầu gép đôi Sau thời gian phối giống khoảng 20 – 25 ngày thì kỳ đà bắt đầu đẻ
- Số lượng trứng trong 1 nứa
Kỳ đà sinh sản vào khoảng tháng 4, kết quả quan sát kỳ đà
đẻ trứng trong các công thức thí nghiệm ta thấy số lượng trứng một các thể kỳ đà hoa đẻ ra từ 6 - 8 quả/lứa thể hiện trong bảng sau
Bảng 3.16 Tổng số lượng kỳ đà đẻ trong các công thức thí nghiệm
Công thức thí nghiệm Số lượng
trứng (quả)
Ghi chú
Công thí nghiệm 1 (1 đực: 1 cái) 21 quả 2 quả hỏng
Công thức thí nghiệm 2 (1 đực : 2
Công thức thí nghiệm 3 (1:3 cái) 68 quả 16 quả hỏng
3.5.3 Nghiên cứu thành phần và chất lượng trứng
3.5.3.1 Hình dạng trứng
Trứng của kỳ đà đẻ ra màu trắng, hình bầu dục, vỏ trứng mềm Chỉ số hình dạng trứng thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của chỉ số hình dạng đến tỷ lệ có phôi
Trang 7giai đoạn kỳ đà có sự tích lũy năng lượng cho thời kỳ trú đông nên
chỉ số gia tăng kích thước vẫn đạt mức trung bình từ (1,84 – 1,94%)
3.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản của Kỳ đà trong điều
kiện nuôi nhốt
3.5.1 Kĩ thuật tạo chuồng cho Kỳ đà đẻ
Tạo chuồng đẻ trừng là một khâu rất quan trong trong quá
trình nuôi Kỳ đà sinh sản, Kỳ đà có tập tính ăn trứng của những con
khác nếu không có kiểu chuồng hợp lý sau khi đẻ trứng ra các cá thể
khác sẽ ăn hết trứng, chuồng đẻ trứng được thiết kế như sau:
Chiều cao của chuồng khoảng 1 m, chiều rộng của chuồng
1,2 m, chiều dài khoảng 1,2 – 1,5 mét, dáy chuồng được rải 1 lớp cát
cách lớp cát 20 cm được rải 1 lớp lưới B40 mắt lớn, bên trên miệng
chuồng được bọc kín bằng lưới B40 Khi thấy kỳ đà bụng to, sờ bụng
thấy có các cục rắn rắn thì ta nhốt kỳ đà vào Khi kỳ đà đẻ trứng trên
lưới B40 và trứng rơi xuống cát xung quanh có tường bảo vệ nên
không bị con khác ăn mặt khác tránh được hiện tượng các trứng dính
chặt vào nhau
3.5.2 Một số đặc điểm sinh sản của kỳ đà
- Chọn giống kỳ đà:
+ Chọn những con to khỏe, không bị bệnh, di tật hay có biểu
hiện không bình thường như biếng ăn, ít vận động, có kích thước từ
trung bình trở lên, trọng lượng khoảng 3,0 kg
+ Cách nhận biết kỳ đà đực và kỳ đà cái bằng cách vật ngữa
con kỳ đà lên quan sát gốc đuôi và lỗ huyệt
Kỳ đà đực: Kích thước thường lớn hơn kỳ đà cái, gốc đuôi
phồng to, đuôi tròn, lỗ huyệt có gờ, khi bóp vào gốc đuôi sẽ có gai
giao cấu màu đỏ lộ ra ở lỗ huyệt
Kỳ đà cái: Kích thước thường nhỏ hơn kỳ đà đực, gốc đuôi
nhỏ, đuôi thon, lỗ huyệt nhỏ lép, khi bóp vào gốc đuôi không có gai
giao cấu lộ ra
- Thời gian ghép đôi
+ Thời gian giao phối của kỳ đà hoa vào khoảng cuối tháng 2
đầu tháng 3 Trong thời gian này ta bắt kỳ đà nhốt riêng theo các
công thức thí nghiệm theo tỷ lệ 1: 1 cái, 1 đực: 1 cái và 1 đực 3 cái
- Biểu hiện động dục và phương thức giao phối
+ Khi 2 các thể đực và cái gặp nhau trong thời gian gép đôi,
cá thể đực gật đầu liên tục theo chiều lên xuống và phát ra tiêng kêu
+ Tăng trưởng tương đối về khối lượng (g) Xác định tăng trưởng tương đối theo trọng lượng cơ thể (RP%):
RP% = (P2 – P1)/((P2 + P1)/2)*100%
Trong đó: P1: là trọng lượng cơ thể ở lần đo cuối tháng trước
P2: là trọng lượng cơ thể con vật lần đo cuối tháng sau
+ Tăng trưởng tương đối về chiều dài (mm)
RP% = (L2 – L1)/((L2 + L1)/2)*100%
Trong đó: L1: Là chiều dài cơ thể ở lần đo cuối tháng trước
L2: là chiều dài cơ thể con vật lần đo cuối tháng sau
2.3.5 Phương pháp thực hiện nội dung 5 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản cơ bản của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
+ Bố trí thí nghiệm Công thức thí nghiệm: Tỷ lệ đực cái được ghép đôi theo công thức: 1 đực/ 1 cái, 1 đực 2 cái, 1 đực 3 cái mỗi công thức 3 lần nhắc lại
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh sản Theo dõi, ghi chép tỷ mỷ các biểu hiện của con vật như: Các biểu hiện khi động dục của con vật, thời gian ghép đôi, số trứng trong một lứa, mùa sinh sản
+ Nghiên cứu chất lượng trứng Trứng đẻ ra đem xác định khối lượng trứng, chỉ số hình dạng trứng
CSHD = D/d (D là đường kính lớn nhất của trứng, d là đường kính nhỏ)
+ Khả năng ấp nở bằng phương pháp nhân tạo Trứng được đẻ ra đem ấp ở nhiệt độ trong khoảng từ 28 –
320C, độ ẩm 80 – 90%
+ Xác định: tỷ lệ trứng có phôi (%), tỷ lệ ấp nở (%), tỷ lệ nuôi sống (%), thời gian ấp (ngày), trọng lượng của kỳ đà mới nở (g) Trứng của kỳ đà sẽ nở sau 80 – 90 ngày, trong quá trình ấp hàng ngày theo dõi nhiệt độ, độ ẩm thường xuyên
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu nội dung 6: Đánh giá tình hình bệnh tật của Kỳ đà
Trang 88
Trong quá trình nghiên cứu quan sát, theo dõi, phát hiện các
cá thể bị bệnh, các loại bệnh tật thường gặp ở Kỳ đà từ đó tìm hiểu
các nguyên nhân, triệu chứng bệnh cho từng loại bệnh, từ đó đề xuất
các biện pháp phòng, chữa bệnh hiệu quả
2.3.7 Phương pháp nghiên cứu nội dung 7: Xây dựng mô hình
chăn nuôi Kỳ đà
+ Địa điểm xây dựng: Tại tỉnh Điện Biên
+ Số lượng cá thể trong mô hình: 20 Cá thể/1 mô hình
+ Thời gian xây dựng: tháng 8 năm 2014
2.3.8 Phương pháp thực hiện nội dung 8 Xây dựng quy trình kỹ
thuật nuôi Kỳ đà (tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi kỳ đà)
- Dựa trên các kết quả quan sát các thí nghiệm, tổng hợp đề
xuất xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi Kỳ đà
25
Bảng 3.15 Sự tăng trưởng chiều dài cơ thể kỳ đà hoa qua các
tháng
Năm Tháng
tương đối chung
Cá thể 1 Cá thể 2 Cá thể 3 Cá thể 4 Cá thể 5
L R 1L % L R2 L % L R 3L % L R 4L % L R 5L % L R CL %
2013
2014
- Từ bảng trên ta có nhận xét:
Đầu mùa hoạt động (tháng 3, 4) sự gia tăng chiều dài của kỳ
đà hoa tương đối thấp Tháng 3 đạt 1.79 % đây là giai đoạn khởi đầu cho một mùa hoạt động của kỳ đà, cơ thể con vật sau thời gian trú đông gầy hơn do lượng mỡ dự trữ bị tiêu giảm, do đó chúng có nhu cầu thức ăn để bù lại phần năng lượng bị hao hụt này, con vật chủ yếu tăng trưởng theo trọng lượng
Giữa mùa hoạt động, sự gia tăng kích thước của Kỳ đà nhanh hơn giai đoạn này hoạt động dinh dưỡng của con vật rất lớn, con vật thường xuyên lột xác và thời gian giữa 2 lần lột xác ngắn Trong đó tháng 8 chiều dài tăng nhanh nhất (đạt 2,37%), tiếp theo các tháng 7 (2.33%), tháng 5 (2.33%)
Cuối mùa hoạt động (tháng 10, 11) sự gia tăng kích thước của kỳ đà giảm xuống so với giữa mùa hoạt động, Tuy nhiên đây là
Trang 912 -32 -27 -24 -27 -33 -143
26
10,4
4
26
36
10,4
4
Từ bảng trên có nhận xét:
Đầu mùa hoạt động (tháng 3,4), là giai đoạn kỳ đà tích cực
ăn mồi để để bù đắp lại năng lượng hao hụt trong thời kỳ trú đông và
cung cấp năng lượng cần thiết cho các quá trình sinh lý Sự gia tăng
trọng lượng kỳ đà có xu hướng tăng qua các tháng, đạt 6.40% tháng 3
và 8,63% tháng 4
Giữa mùa hoạt động (Tháng 5, 6, 7, 8, 9) là giai đoạn Kỳ đà
có sự gia tăng trọng lượng nhanh, kỳ đà chủ yếu lột xác trong giai
đoạn này Tháng 8 và tháng có sự gia tăng nhanh nhất đạt 10,44%
Cuối mùa hoạt động (tháng 10,11) sự gia tăng trọng lượng có
giảm xuống so với giai đoạn trước đó, tuy nhiên vẫn tương đối cao
(tháng 10 6,57%) vì giai đoạn này có sự tích lũy năng lượng chuẩn
bị cho kỳ trú đông
3.4.1.2 Sự tăng trưởng theo chiều dài cơ thể (mm)
Nghiên cứu tăng trưởng của cá thể Kỳ đà hoa trong điều kiện
nuôi nhốt kết quả thể hiện trong bảng sau:
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng Kỳ đà 3.1.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, tập tính của Kỳ đà hoa trong môi trường tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường nhé
3.1.1.1 Thức ăn của Kỳ đà hoa trong điều kiện tự nhiên
Qua quá trình điều tra khảo sát trên 5 tuyến, phỏng vấn 28 người dân địa phương có kinh nghiệm trong nghề rừng chúng tôi đã thống kê được thành thức ăn của kỳ đà bao gồm các loại sau
Bảng 3.1 Thành phần thức ăn của Kỳ đà trong điều kiện tự
nhiên Stt Loại thức ăn Điều tra
(lần gặp)
Phỏng vấn (người)
Ghi chú
1
2 Nghóe
(Limnonectes
limnocharis)
3
Cóc nhà (Bufo
4
Thằn lằn (Mabuya
5
6
Trang 1010
7
8
9
10
Số liệu trên cho thấy: Phổ thức ăn của Kỳ đà rất rộng gồm 10
loài thức ăn là các con mồi còn sống hay đã chết Trong đó chủ yếu là
Cá nước ngọt, Nghóe và xác chết động vật
Như vậy, trong môi trường nuôi nhốt ta có thể cho Kỳ đà ăn
cá, cóc, nghóe, đây là những nguồn thức ăn tương đối phong phú và
dễ kiếm
3.1.1.2 Nơi sống của Kỳ đà
Qua quá trình điều tra khảo sát chúng tôi thấy môi trường
sống của Kỳ đà rất phong phú, chúng thường sống trong các gốc cây,
hốc đá, kẽ hở của đất đá Kỳ đà thường bơi lội và kiếm ăn trong hay
gần các lưu vực nước đặc biệt là những suối nhiều nước, có nước
quanh năm Ban ngày thường phơi mình trên các mỏm đá hay thân
cây đổ để tắm nắng, trong những ngày trời nắng
3.1.1.3 Hang ổ của Kỳ dà
Hang ổ của kỳ đà khá đơn giản chúng thường lợi dụng những
khe đá, những hốc đất, hốc cây ven khe suối, hay đào hang bên các
bãi cát ít người qua lại ven suôi
Các hang và nơi hoạt động kiếm ăn của kỳ đà chủ yếu ở gần
các lưu vực nước như vậy trong môi trường nuôi nhốt ta có thể bố trí
hệ thống các bể nước để kỳ đà hoạt động
23
7 125,0 15,0 127,0 15,2 126,0 15,2 121,0 16,2 119,0 16,3 618,0 15,5
8 144,0 14,9 149,0 15,3 151,0 15,6 143,0 16,3 144,0 16,7 731,0 15,7
Từ bảng trên ta nhận thấy kỳ đà nhỏ trong giai đoạn đầu (3 tháng đầu) kỳ đà tăng trưởng nhanh về kích thước trong đó cao nhất
là (8/2013: 24.7%) tiếp theo tháng 9 (20.7%) Bước vào, năm 2014 vào đầu mùa hoạt động (tháng 3, 4) sự gia tăng chiều dài của Kỳ đà hoa tương đối thấp Tháng 3 đạt 14,7 % đây là giai đoạn khởi đầu cho một mùa hoạt động của kỳ đà, cơ thể con vật sau thời gian trú đông gầy hơn do lượng mỡ dự trữ bị tiêu giảm, do đó chúng có nhu cầu thức ăn để bù lại phần năng lượng bị hao hụt này, con vật chủ yếu tăng trưởng theo trọng lượng
Giữa mùa hoạt động (tháng 6,7,8,9), sự gia tăng kích thước của kỳ đà nhanh hơn giai đoạn này hoạt động dinh dưỡng của con vật rất lớn Trong đó tháng 8 chiều dài tăng nhanh nhất (đạt 15,7%), tiếp theo các tháng 7 (15.5%), thấp nhất là tháng 9 (8,7%)
Cuối mùa hoạt động (tháng 10, 11) sự gia tăng kích thước của kỳ đà giảm xuống so với giữa mùa hoạt động chỉ vào khoảng (2,3 – 3,5%)
3.4.2 Sự tăng trưởng kỳ đà hoa (>14 tháng tuổi)
3.4.2.1 Sự tăng trưởng về trọng lượng
Qua quá trình nghiên cứu thu thập số liệu thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.14 Sự gia tăng trọng lượng cơ thể Kỳ đà qua các tháng
Tháng
Gia tăng khối lượng (g)
Tăng trưởng tương đối chung
Cá thể 1 Cá thể 2 Cá thể 3 Cá thể 4 Cá thể 5
RcP
%