“Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí với nhau thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa” — Các Mác Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện
Trang 1MỤC L C Ụ
L ời nói đầ 3 u
chất và hiện tượng 3
1 Định nghĩa bản chất và hiện tượng 3
a Khái niệm 3
b Phân biệt bản chất với cái chung và quy luật 4
2 Mối liên hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng 4
a Bản chất và hiện tượng đều tồn tại một cách khách quan 4
b Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng 5
c Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng 6
3 Ý nghĩa phương pháp luận 7
PHẦN I : Vận dụng thực tếI 9
Kết luận 12
Trang 2Lời nói đầu
Thực t trong cuộc sống, chúng ta th y r ng khi xem xét b t kỳ s v t, hi n ế ấ ằ ấ ự ậ ệ tượng nào x y ra trong t nhiên và xã hả ự ội đều có nh ng khía cữ ạnh bên ngoài mà giác quan con người có thể nhận thức và đánh giá chính xác được Nhưng bên cạnh đó cũng có những khía c nh, ạ những m i liên h bên trong bố ệ ị ẩ đi đằng sau n
sự v t ậ mà chỉ có th dùng ể nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng để phân tích thật kĩ mới có th k t lu n chính xác ể ế ậ được
Các khía cạnh xuất hiện bên ngoài được gọi là hiện tượng, và những khía cạnh bên trong được gọi là bản chất Trên thực tế, mọi sự vật và mọi quá trình luôn tồn tại hai khía cạnh này và chúng luôn vận động và phát triển cùng nhau
Vì vậy, khi xem xét các sự vật, quá trình trong tự nhiên và xã hội, chúng ta cần phân biệt được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng để tránh nhầm lẫn dẫn đến nhìn nhận sai về sự vật và quá trình đó Quá trình từ bản chất đến hiện tượng giúp con người rút ra những kết luận đúng đắn nhất Vì vậy muốn nhận thức một cánh chính xác về đối tượng thì không nên dừng lại ở vài hiện tượng đơn lẻ mà cần phải phân tích tổng hợp nhiều hiện tượng một cách, chặt chẽ để tìm ra bản chất thực sự của nó
Và khi đã hiểu được định nghĩa về bản chất và hiện tượng, chúng ta lại đặt ra một câu hỏi: Nó có ý nghĩa như thế nào khi vận dụng vào thực tế ? Đó là lí do của
đề tài sau: “Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu,
học tập của sinh viên”
PHẦN I Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện :
chứng giữa bản chất và hiện tượng
a Khái ni m ệ
Trang 3Bản chất là ph m trù ch t ng th các m i liên h khách quan, tạ ỉ ổ ể ố ệ ất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát tri n cể ủa đối tượng và được th ể hiện qua các hiện tượng tương ứng của đối tượng
Hiện tượng là phạm trù chỉ những biểu hiện của các mặt, các mối liên hệ tất nhiên, tương đố ổn địi nh ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và là hình thức thể hiện bản ch t cấ ủa đối tượng
Ví dụ: Bản ch t cấ ủa âm thanh là sóng cơ học, đượ ạc t o nên b i s dao ở ự động của các phân t trong không khí Còn hiử ện tượng cộng hưởng âm (khi có hai hoặc nhiều sóng âm giao nhau) là bi u hi n c a tính ch t sóng ể ệ ủ ấ
b Phân bi t b n ch t v i cái chung và quy lu t ệ ả ấ ớ ậ
Phạm trù b n ch t g n li n v i phả ấ ắ ề ớ ạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất với cái chung Có cái chung là b n chả ất, nhưng có cái chung không phải là bản
chất Ví d : ụ Con người ai cũng có cảm xúc: vui, buồn, tức giận,… Đó là điểm chung nhưng không phải là bản chất của con người Mặt khác, bản tính của con người là v kị ỷ Đó vừa là điểm chung, vừa là b n chả ất
Phạm trù b n ch t và ph m trù quy lu t là cùng lo i, hay cùng m t b c Tuả ấ ạ ậ ạ ộ ậ y nhiên b n ch t và quy luả ấ ật không đồng nh t v i nhau M i quy luấ ớ ỗ ật thường ch ỉ biểu hi n m t m t, m t khía c nh nhệ ộ ặ ộ ạ ất định c a b n ch t B n ch t là t ng h p củ ả ấ ả ấ ổ ợ ủa nhiều quy lu t Vì v y ph m trù b n ch t rậ ậ ạ ả ấ ộng hơn và phong phú hơn quy luật Ví dụ: Quy lu t giá tr là quy lu t kinh tậ ị ậ ế cơ bản c a s n xu t hàng hóa, ủ ả ấ thể hiện bản chất c a sủ ản xuất hàng hóa, là cơ sở của t t c các quy lu t khác c a s n xu t hàng ấ ả ậ ủ ả ấ hóa
a Bản chất và hiện tượng đều tồn t i m cách khách quan.ạ ột
Các nhà ch ủ nghĩa duy tâm chủ quan không th a nhừ ận s t n t i khách quan ự ồ ạ của b n ch t và hiả ấ ện tượng Họ cho rằng, b n ch t không th c s t n t i, b n chả ấ ự ự ồ ạ ả ất chỉ là một định nghĩa mà con người bịa đặt ra, còn hiện tượng ch t n t i d a trên ỉ ồ ạ ự những c m nhả ận ch quan củ ủa con người Những người theo chủ nghĩa duy tâm
Trang 4khách quan tuy th a nh n s t n t i th c s c a b n chừ ậ ự ồ ạ ự ự ủ ả ất nhưng đó không phải là cái v n có c a s v t mà theo h ố ủ ự ậ ọ đó chỉ là những th c th tinh thự ể ần
Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lê-nin cho rằng hai phạm trù b n ch t và hiả ấ ện tượng đề ồ ạu t n t i khách quan, t có, không do ai sáng t o ra ự ạ
Lí do là vì m i s vọ ự ật đều đượ ạc t o nên t ừ những y u t ế ố xác định Các y u t này ế ố liên k t v i nhau thông qua các m i quan h khách quế ớ ố ệ an, đan xen và gắn bó với nhau Trong đó có những m i liên h tố ệ ất nhiên tương đố ổn địi nh Nh ng m i liên ữ ố
hệ tất nhiên đó tạo nên b n ch t c a s v t V y, b n ch t là cái t n t i khách quan ả ấ ủ ự ậ ậ ả ấ ồ ạ gắn li n v i s v t Còn hiề ớ ự ậ ện tượng là bi u hi n ra bên ngoài c a b n chể ệ ủ ả ất để con người nh n thậ ức, cũng là cái khách quan và không phải do c m giác ch quan cả ủ ủa con người quyết định
b Sự thống nh t ấ giữa bản ch t và hiấ ện tượng
Mọi sự vật đều là một thể thống nhất giữa bản ch t và hiấ ện tượng Bản chất
và hiện tượng t n t i khách quan, gi a chúng có m i quan h hồ ạ ữ ố ệ ữu cơ chặt chẽ, chằng chịt, đan xen nhau, không thể tách rời Không có b n ch t nào t n t i thuả ấ ồ ạ ần tuý tách r i ờ hiện tượng, ngượ ạc l i không có hiện tượng nào l i không là sạ ự biểu hiện của một b n chả ất nhất định Để nhấn m nh s ạ ự thống nh t này: ấ
“Bản chất hi n ra Hiệ ện tượng là có tính b n chả ất”
— V.I.Lenin
Sự thống nh t gi a b n ch t và hiấ ữ ả ấ ện tượng th ể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, b n chả ất luôn được b c l ra thông qua hiộ ộ ện tượng, còn hiện tượng bao gi ờ cũng là sự biểu hi n c a b n ch t ệ ủ ả ấ
“Bản chất “được ánh lên” nhờ hiện tượng”
— G.V.P Hêghen Thứ hai, bản chất và hiện tượng có xu hướng phù hợp với nhau Bất kỳ bản chất nào cũng được biểu hiện thông qua nhiều hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở một mức độ nhất định, hoặc nhiều hoặc ít Bản chất nào thì sẽ thể hiện ra qua hiện tượng ấy Bản chất khác nhau sẽ
Trang 5bộc lộ ra qua các hiện tượng khác nhau Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng sẽ thay đổi theo Khi bản chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện nó sẽ mất đi theo Và, nếu có một bản chất mới xuất hiện thì cũng sẽ xuất hiện những hiện tượng mới phản ánh bản chất mới
Ví dụ, qua mỗi chế độ xã hội bản chất và hiện tượng, của chế độ đó sẽ có sự thay đổi rõ rệt Chế độ phong kiến có bản chất bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị qua chế độ chiếm hữu ruộng đất và áp bức nhân dân lao động Bản chất đó được nhìn nhận rõ qua các hiện tượng là giai cấp địa chủ gắn liền với các đặc quyền sở hữu ruộng đất, còn nhân dân thì bị bóc lột bởi sưu cao thuế nặng Sang chế độ tư bản, bản chất của chế độ tư bản, của giai cấp tư sản là bóc lột giá trị thặng dư đối với giai cấp vô sản làm thuê Bản chất này được bộc lộ ra ở nhiều hiện tượng trong xã hội tư bản như sự bần cùng hóa giai cấp vô sản, nạn thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ, ô nhiễm môi trường, chiến tranh v.v…
=> Khi xã hội thay đổi từ chế độ phong kiến sang tư bản, không còn tầng lớp địa chủ, quý tộc, không còn chế độ sở hữu ruộng đất và cũng không còn hiện tượng
áp bức bóc lột nhân dân qua hình thức tô thuế Tương tự, khi chế độ tư bản biến mất, không còn giai cấp tư sản, không còn chế độ bóc lột giá trị thặng dư thì các hiện tượng tư bản trên cũng sẽ mất đi theo
c Sự đối lập giữa b n ch t và hiả ấ ện tượng
Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, nhưng đây là sự thống nhất biện chứng, nghĩa là chúng vừa thống nhất vừa mâu thuẫn Nói cách khác, không phải bản chất và hiện tượng phù hợp nhau hoàn toàn mà còn bao hàm cả sự mâu thuẫn lẫn nhau
“Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí với nhau
thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa”
— Các Mác
Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện
ở chỗ:
Trang 6Thứ nhất, bản chất là cái ẩn dấu sâu kín ở bên trong hiện thực khách quan, còn hiện tượng là cái bộc lộ ra bên ngoài của hiện thực ấy húng thống nhất với C nhau ở chỗ bản chất chỉ có thể bộc lộ ra thông qua hiện tượng và hiện tượng là biểu hiện của một bản chất nhất định ề cơ bản chúng phù hợp với nhauV , tuy
nhiên, không bao giờ phù hợp hoàn toàn
Thứ hai, bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn hiện tượng chỉ phản ánh một khía cạnh cá biệt Vậy nên bản chất không biểu hiện hoàn toàn ở một hiện tượng nhất định mà biểu hiện thông qua nhiều hiện tượng khác nhau Ngược lại, mỗi hiện tượng chỉ phản ánh một khía cạnh của bản chất trong một trường hợp xác định Nhiều khi hiện tượng phản ánh không đúng hoặc xuyên tạc bản chất thực sự ban đầu
Thứ ba, bản chất là cái tương đối ổn định, ít biến đổi, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi Bởi vì những nội dung mà hiện tượng phản ánh không chỉ được quyết định bởi bản chất mà còn được quyết định bởi điều kiện môi trường bên ngoài nó Điều kiện bên ngoài biến đổi thì hiện tượng được bộc lộ ra cũng biến đổi
Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám "chắc", không "ngồi vững" bằng "bản chất"
— V.I.Lenin
Sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng chung quy là do những gì hiện tượng bộc lộ ra không hoàn toàn chính xác với bản chất Hiện tượng không biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng y nguyên như bản chất ban đầu mà đã bị tác động hoặc ít hoặc nhiều, bị cải biến, bóp méo bởi điều kiện môi trường, đôi khi còn xuyên tạc nội dung, sự thật của bản chất bên trong Vì vậy, muốn nhận thức chính xác bản chất sự vật chúng ta không nên chỉ dừng lại ở một hoặc một số hiện tượng đơn lẻ
mà phải thông qua phân tích kĩ càng, tổng hợp đầy đủ các hiện tượng
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, do bản chất và hiện tượng tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ ràng buộc, không tách rời nhau, bản chất thì ẩn dấu sâu kín bên trong sự vật còn hiện
Trang 7tượng thì lại là cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất dưới hình thức đã bị cải biến, cho nên, muốn nhận thức được bản chất của sự vật thì phải xuất phát từ các hiện tượng, quá trình thực tế
Và vì một bản chất có thể biểu hiện ra bằng nhiều hiện tượng khác nhau và mỗi hiện tượng chỉ phản ánh một khía cạnh nhất định của bản chất, cho nên, khi xem xét một sự vật hay quá trình, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những hiện tượng bên ngoài mà phải đi sâu, đào bới cái bên trong rồi tổng hợp đầy đủ, liên kết với nhau, để tìm ra đúng bản chất thực sự của nó
Thứ hai, bản chất là cái tất nhiên tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định
sự vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng là cái không ổn định, cái không quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hơn nữa hiện tượng nhiều khi còn xuyên tạc bản chất, cho nên, nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng mà phải tiến tới nhận thức bản chất của sự vật Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh và phạm
vi nhất định, chúng ta không thể nắm rõ hết tất cả các hiện tượng phản ánh bản chất Do vậy, nên ưu tiên việc xem xét các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình Dĩ nhiên, kết quả của cách xem xét này không thể phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất một cách hoàn hảo, mà chỉ phản ảnh một cấp độ nhất định của
nó Nhận thức bản chất của một sự vật là một quá trình đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Nó vô cùng phức tạp, công phu và không có điểm dừng
“Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô tận, từ hiện tượng đến bản chất, từ
bản chất cấp một, nếu có thể nói vậy, đến bản chất cấp hai v.v…
cứ thế mãi”
—V.I. Lê Nin
Thứ , bản chất là sự thống nhất giữa các mặt, các mối liên hệ tất nhiên, vốn có ba của sự vật, hiện tượng, bản chất là địa bàn thống lĩnh của các mâu thuẫn biện chứng và chúng được giải quyết trong quá trình phát triển dẫn đến sự biến đổi của bản chất, tạo ra sự chuyển hoá của đối tượng từ dạng này sang dạng khác nên các
Trang 8phương pháp đã được áp dụng vào hoạt động cũ trước đây cũng phải thay đổi bằng các phương pháp khác, phù hợp với bản chất đã thay đổi của đối tượng
PHẦN II: Vận dụng thực tế
hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng trong nghiên cứu, học tập của
sinh viên
Về vai trò và ý nghĩa phép biện chứng duy vật nói chung và cặp phạm trù , bản chất – hiện tượng nói riêng đã kế thừa và phát triển phép biện chứng từ tự phát đến tự giác, tạo ra chức năng phương pháp luận chung nhất, giúp định hướng việc
đề ra các nguyên tắc tương ứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn và là một hình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất đối với khoa học, bởi chỉ có nó mới có thể đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong thế giới, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá độ từ lĩnh vực nghiên cứu này sang lĩnh vực nghiên cứu khác
Cụ thể ở đây, ta sẽ nói về ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa bản chất
và hiện tượng trong vấn đề nghiên cứu và học tập của sinh viên
Thứ nhất, quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng giúp sinh viên chúng ta định hướng nguyên tắc nghiên cứu và học tập: Muốn nhận thức rõ được bản chất của đối tượng nghiên cứu, học tập thì cách duy nhất phải tìm hiểu sâu, tổng hợp đầy đủ các hiện tượng, quá trình thực tế
Ví dụ, trong môn học lịch sử, chúng ta được học về nhà nước phong kiến Trước tiên, ta phải tìm hiểu về các đặc trưng giai cấp, tình trạng xã hội bấy giờ
Xã hội phong kiến có kết cấu phức tạp, trong đó có hai giai cấp cơ bản là địa chủ, phong kiến và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp khác như thợ thủ công, thị dân Giai cấp địa chủ, phong kiến được phân chia thành nhiều đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản Nông dân là bộ phận
Trang 9đông đảo nhất trong xã hội phong kiến nhưng đồng thời cũng là đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề, do vậy, đấu tranh giai cấp trong xã hội thường xuyên xảy
ra Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp địa chủ, phong kiến đã sử dụng mọi biện pháp có thể, đẩy người nông dân vào những “đêm trường trung cổ” Từ các hiện tượng cụ thể trên, ta mới có thể kết luận bản chất giai cấp của nhà nước phong
kiến là bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, phong kiến, là công cụ để thực
hiện và bảo vệ lợi ích, quyền, địa vị thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc phong
kiến trong xã hội; được xây dựng trên cơ sở của phương thức sản xuất phong kiến
mà nền tảng là nền kinh tế dựa trên sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với ruộng đất cũng như một số tư liệu sản xuất khác, và sở hữu cá thể của của
nông dân trong sự lệ thuộc vào giai cấp địa chủ
Thứ hai, quá trình tìm hiểu bản chất của đối tượng nghiên cứu, học tập sẽ là một quá trình tư duy vô cùng lâu dài, phức tạp Đó là quá trình sinh viên phải tìm hiểu từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc, từ bản chất sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn,… Khi tổng hợp các hiện tượng, sinh viên nên đặt đối tượng nghiên cứu vào các môi trường, điều kiện hoàn cảnh khác nhau, bởi vì môi trường bên ngoài làm cho hiện tượng bộc lộ ra bị tác động hoặc ít hoặc nhiều Từ đó, sinh viên sẽ nắm được bản chất cấp I, và như thế chưa phải là hết
Từ bản chất cấp I, sinh viên lại có thể nghiên cứu, nghiền ngẫm thêm để tổng hợp
ra bản chất II, và từ cấp II đến cấp III, cứ như thế mãi…
Ví dụ khi nghiên cứu về một nguyên tố hoá học, các nhà khoa học đã cùng nhau , khám phá ra bản chất của nguyên tử là sự tương tác của điện tử và hạt nhân
Mặc dù ban đầu nguyên tử có nguồn gốc chỉ những hạt không thể phân chia nhỏ hơn nữa, nhưng như ngày nay đã biết nguyên tử là thuật ngữ khoa học tổ hợp của nhiều hạt hạ nguyên tử Các hạt thành phần của nguyên tử là electron,
proton và neutron Đó là bản chất cấp I Sau một thời gian dài, các nhà khoa
học lại khám phá ra lượng tử Những nguyên lý của cơ học lượng tử đã mô tả
thành công các tính chất quan sát thấy của nguyên tử và là nền tảng cho lý
thuyết nguyên tử và hạt hạ nguyên tử Đây là bản chất cấp II của nguyên tử Có
Trang 10thể nói, uá trình tìm hiểu, nghiên cứu là kéo dài vô tận, không bao giờ kết thúc q
Có thể trong tương lai, bản chất cấp III cũng sẽ sớm được phát hiện
Thứ ba, trong quá trình nghiên cứu và học tập, sinh viên phải xem xét đối tượng nghiên cứu dưới nhiều hiện tượng khác nhau và nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên trong thực tế, các loại nguồn lực là có hạn nên trong một phạm vi hoàn cảnh và thời gian nhất định, sinh viên khó có thể xem xét hết toàn bộ các hiện tượng có thể xảy ra Do vậy, sinh viên nên thu hẹp phạm vi để xem các hiện tượng điển hình trong các hoàn cảnh điển hình Tuy kết quả của việc xem xét này không thể phản ánh đầy đủ bản chất thực sự của sự vật nhưng nó cũng đã phản ánh bản chất đến một cấp độ nhất định Cũng vì lẽ đó, khi tổng kết nghiên cứu, sinh viên nên đưa ra kết luận của mình một cách hết sức thận trọng
Ví dụ, khi nghiên cứu về dự án cải thiện giấc ngủ, Hội Y học Việt Nam cần
có nhiều người khác nhau tham gia ngủ dưới những điều kiện, tác động khác nhau
Tuy nhiên, khảo sát hết toàn bộ mọi người là bất khả thi Vì vậy, họ tuyển 200 tình
nguyện viên: những người có giấc ngủ khoẻ mạnh, hoặc người gặp vấn đề trong việc đi vào giấc ngủ để tham gia vào dự án Mặc dù 200 chỉ là con số nhỏ so với toàn bộ người ở Việt Nam nhưng nó đã phản ánh một lượng lớn thông tin để cung cấp cho ngành y tế, từ đó tiếp tục phân tích, tổng hợp để nhận diện được các rối loạn thường gặp có thể định hướng điều trị các chứng bệnh liên quan đến thần ,
kinh, giấc ngủ cho bệnh nhân trong tương lai
Cuối cùng, ọi đối tượng đều được tạo thành từ sự thống nhất và đấu tranh m giữa các mặt đối lập, nên mọi đối tượng luôn không ngừng phát triển Mà bản chất
là phạm trù chỉ tổng thể các mối liên hệ khách quan, tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát triển của đối tượng Nên khi sự vật phát triển thì bản chất cũng thay đổi để tạo ra sự chuyển hoá của đối tượng từ dạng này sang dạng khác Vì thế các phương pháp đã áp dụng vào hoạt động nghiên cứu cũ trước đây cũng cần sinh viên đổi mới, sáng tạo bằng các phương pháp mới, phù hợp với bản chất đã thay đổi của đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong học tập và công việc