1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đặc điểm thơ văn nôm của phạm thái

100 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Phạm Thái ở khía cạnh con người, thời đại, cá tính sáng tạo, cuộc bút chiến văn chương với Nguyễn Huy Lượng, mối tình thâm sâu với Trương Quỳnh Như

Trang 1

NGUYỄN THỊ DIỄM

ĐẶC ĐIỂM THƠ VĂN NÔM CỦA PHẠM THÁI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

Người hướng dẫn: TS TRẦN THỊ TÚ NHI

Trang 2

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 11

1.1 Thơ văn Nôm thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX 11

1.1.1 Quá trình phát triển 11

1.1.2 Đặc điểm nội dung tư tưởng 15

1.1.3 Đặc điểm thể loại văn học 19

1.2 Con người và sự nghiệp thơ văn Phạm Thái 22

1.2.1 Con người 22

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 25

Tiểu kết Chương 1 27

Chương 2 CÁC KHUYNH HƯỚNG CẢM HỨNG VÀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ VĂN NÔM PHẠM THÁI 29

2.1 Các khuynh hướng cảm hứng 29

2.1.1 Cảm hứng thế sự 29

2.1.2 Cảm hứng nhân văn 37

2.1.3 Cảm hứng tôn giáo 42

2.1.4 Cảm hứng thiên nhiên, danh lam, thắng tích 48

2.2 Con người cá nhân 54

2.2.1 Con người cá nhân đa tài, đa tình 54

Trang 4

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG THƠ VĂN NÔM

PHẠM THÁI 64

3.1 Sự đa dạng trong hệ thống thể loại 64

3.1.1 Sử dụng điêu luyện hệ thống thể loại vay mượn 64

3.1.2 Sử dụng sáng tạo hệ thống thể loại nội sinh 68

3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 74

3.2.1 Hệ thống ngôn ngữ gốc Hán 74

3.2.2 Ngôn ngữ dân dã, bình dị 78

3.3 Giọng điệu thơ văn 84

3.3.1 Giọng điệu ngông nghênh, kiêu bạc 85

3.3.2 Giọng điệu trữ tình, tha thiết 88

Tiểu kết Chương 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 5

Theo khảo sát, số lượng tác phẩm của Phạm Thái không nhiều Trải qua bao biến cố lịch sử những tác phẩm còn lại đến nay khá khiêm tốn Theo công

bố của Sở Cuồng Lê Dư, Phạm Thái chỉ có 56 tác phẩm, mà dài hơi nhất là Sơ

kính tân trang Phạm Thái không thể sánh với Nguyễn Du về tầm mức, không

thể sánh với Hồ Xuân Hương về tính đặc dị của đề tài, ông cũng không thể sánh với Phạm Đình Hổ với số lượng tác phẩm khảo cứu thấm đẫm tinh thần khảo chứng Nhưng Phạm Thái vẫn có một chỗ đứng riêng trên văn đàn Ở bất kì thể loại nào, Phạm Thái cũng có những tác phẩm thành công về mặt nội dung cũng như nghệ thuật Về nội dung, tác phẩm của ông là tiếng nói tiến

bộ, rất riêng, thể hiện cái tôi cá tính, một nhân cách nhất quán trong cách hành

xử Về mặt nghệ thuật, Phạm Thái là một trong những nhà thơ có khả năng Việt hóa cao độ các loại hình thi ca gốc Hán Ông là người đã có công đưa khả năng tự sự vào thơ Nôm Đường luật, là người biết kết hợp đa thể loại trong truyện thơ Nôm

Trải qua thời gian, hậu thế cần phải có một sự nhìn nhận đúng đắn về

Trang 6

Phạm Thái cùng những thành tựu mà ông đóng góp cho nền văn học dân tộc Đặc biệt ở bộ phận sáng tác chữ Nôm, Phạm Thái đã thể hiện được tài năng và nhân cách độc đáo của mình nhưng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ Với mong muốn góp vào quá trình nghiên cứu về Phạm Thái, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm thơ văn Nôm của Phạm Thái” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Qua công trình, chúng tôi mong muốn sẽ đưa ra sự đánh giá đầy đủ, chân thực về bộ phận sáng tác thơ văn Nôm của Phạm Thái

2 Lịch sử vấn đề

Trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng, thơ văn của Phạm Thái có giá trị lớn trên nhiều phương diện Rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Phạm Thái ở khía cạnh con người, thời đại, cá tính sáng tạo, cuộc bút chiến văn chương với Nguyễn Huy Lượng, mối tình thâm sâu với Trương Quỳnh Như và các tác phẩm thơ văn của Phạm Thái chủ yếu là Chiến tụng Tây Hồ phú, Văn tế Trương Quỳnh Như và Sơ kính tân trang… Vẫn chưa có công trình nào tập hợp nghiên cứu đầy đủ về toàn bộ di sản thơ văn Nôm của Phạm Thái Với phạm vi tư liệu hiện có, chúng tôi có thể phân chia các vấn đề nghiên cứu về Phạm Thái và thơ văn Nôm của ông như sau:

2.1 Nghiên cứu về con người, cuộc đời và nhận định chung về thơ văn Phạm Thái

Khởi đầu là Sở Cuồng Lê Dư với công trình Phổ chiêu Thiền sư thi tập

(1932), đã tập hợp những sáng tác của Phạm Thái gồm 56 tác phẩm cùng với bài tựa giới thiệu khái quát về tác giả, nội dung thơ văn của ông: “Phạm Thái

là một nhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn cuối thể kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Ông chiếm một vị trí độc đáo trong lịch sử văn học bởi lẽ các tác phẩm của ông còn lại đều là thơ Nôm, mà phần lớn đều đạt đến ngưỡng “thi trung hữu tình” [7;152]

Trang 7

Tiếp nối sau đó, Dương Quảng Hàm trong hai bộ văn học sử Việt Nam

thi văn hợp tuyển (1943) và Việt Nam văn học sử yếu (1944) đã tuyển chọn

một số tác phẩm của Phạm Thái và đưa ra đánh giá bước đầu về tài năng văn chương của ông

Lịch sử văn học Việt Nam (1962) của Lê Trí Viễn, Văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc đều nhắc đến Phạm Thái

và sáng tác văn chương của ông Nguyễn Lộc khẳng định văn tài của Phạm Thái ở thể loại truyện thơ Nôm và nhận định khuynh hướng cảm hứng chính trong thơ ca Phạm Thái: “Có thể nói mối tình thắm thiết giữa hai người là nguồn cảm hứng chính cho phần lớn thơ văn Phạm Thái Về sau tình yêu không thành, Quỳnh Như bị ép lấy người khác, nàng không chịu đã tự vẫn Cái chết của Quỳnh Như khắc sâu thêm những đau khổ làm nát lòng Phạm Thái” [43;233]

Hoàng Hữu Yên khi hiệu đính, chú giải tác phẩm Sơ kính tân trang của

Phạm Thái và ra mắt năm 2002 đã có bài giới thiệu công phu về cuộc đời, sự nghiệp của Phạm Thái, đánh giá nội dung và nghệ thuật thơ văn của ông Hoàng Hữu Yên cho rằng: “Không còn là chuyện ngẫu nhiên, những thành tự

mà Phạm Thái gặt hái được là những bông hoa đẹp trong vườn hoa văn học

cổ điển đang nở rộ dưới ánh nắng trời xuân của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa, của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam đương thời” [46;11]

Nguyễn Văn Xung trong công trình “Phạm Thái và Sơ kính tân trang” xuất bản năm 1973 tại ấn quán Phong Phú, Sài Gòn, đã có một bài giới thiệu khái quát về Phạm Thái trong phần mở đầu công trình Nguyễn Văn Xung đã tìm hiểu bối cảnh thời đại, thân thế và tác phẩm Về đặc điểm văn chương, Phạm Thái được tác giả nhìn nhận như một đấng anh hùng say mê giấc mộng, say mê tình ái, say mê giang hồ, một tráng sĩ khoác áo thiền sư Qua công trình, Nguyễn Văn Xung đã có những nhận định, đánh giá về địa vị của Phạm

Trang 8

Thái trong nền văn học cuối Lê đầu Nguyễn: “Phạm Thái là tác giả tên tuổi của một thời kỳ văn học quan trọng Khác hơn vai trò nhân tố mang chở thụ động của nhân vật chinh phu ra đời nửa thế kỷ trước, ông đã là một chứng nhân sống động và có ý thức của một trào lưu văn học mới mẻ, phản ánh những xao xuyến xã hội và tự vấn về những giá trị cổ truyền Ông vừa làm chứng cho lịch sử vừa làm lịch sử: trên cương vị nhà văn, ông ghi chép những diễn biến của tâm tư con người thời đại; và trên cương vị làm người, ông đã tích cực tham dự vào những hoạt động của thế hệ ông Phạm Thái vừa là một giá trị văn học vừa là một giá trị nhân văn lớn” [40;50]

Nguyễn Phạm Hùng trong công trình Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) đã nhắc đến Phạm Thái ở giai đoạn “Văn học thời Lê Trung Hưng – Nguyễn (Thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX)” Ở phần viết về truyện Nôm và phú Nôm, tác giả đã nói qua về tiểu sử Phạm Thái, tư tưởng chính trị

và tư tưởng thơ văn của ông: “Những câu thơ tình của Phạm Thái thực sự có thể coi là những câu thơ mới trước khi có phong trào thơ Mới hơn một thế kỷ” [20;145]

Năm 2019, Trần Trọng Dương kế thừa kết quả nghiên cứu của Sở Cuồng Lê Dư để tổng hợp thành cuốn “Phạm Thái toàn tập” Ở công trình này, Trần Trọng Dương đã giới thiệu lại toàn bộ sáng tác của Phạm Thái do

Sở Cuồng Lê Dư sưu tập được và tập hợp những bài viết về Phạm Thái đã được công bố của tác giả và một số nhà nghiên cứu trong nước Công trình được chia thành 2 phần: phần 1: Khảo cứu; phần 2: Tác phẩm Trần Trọng Dương đã phác họa về cuộc đời, con người, quá trình sáng tác của Phạm Thái

và bước đầu đánh giá về giá trị văn chương của ông Giá trị lớn nhất của công trình này đó là công lao tập hợp tư liệu của tác giả để cho người đọc có được cái nhìn khái quát về con người, sự nghiệp của Phạm Thái

Ngoài ra, một số công trình bên cạnh việc giới thiệu tiểu sử, trích dẫn

Trang 9

một vài tác phẩm thơ văn Phạm Thái còn đưa ra nhận xét về nội dung, nghệ

thuật như Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 2, tái bản 1997) Phạm

Thế Ngũ xếp Phạm Thái vào hàng ngũ những văn gia Bắc hà có thái độ phản đối Tây Sơn Trong công trình, Phạm Thế Ngũ phác thảo sơ lược tiểu sử Phạm Thái, khảo sát nội dung một số tác phẩm như Chiến tụng Tây Hồ, Văn

tế Trương Quỳnh Như, các bài thơ tỏ tình thương nhớ người yêu, truyện Nôm

Sơ kính tân trang, những bài thơ ngẫu cảm… Phạm Thế Ngũ nhận định:

“Phạm Thái ở địa hạt hành động không nên trò trống gì nhưng dưới con mắt nhà văn học, hình ảnh của ông thật quyến rũ Người trai thời loạn ấy đã đeo gươm tráng sĩ, đã khoác áo thiền sư, lại đóng vai tình lang nồng nhiệt, để rồi đương tuổi thanh xuân, đeo nặng cuộc đời như một cùm xích, con người ấy quả đã hội hợp được tất cả những gì gọi là lãng mạn trong quan niệm của chúng ta nay” [32;316]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu tương đối kỹ càng về tiểu

sử Phạm Thái và bước đầu nêu những nhận định mang tính định hướng về đặc điểm thơ văn Phạm Thái Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đánh giá rất cao khả năng văn chương của Phạm Thái và nhìn nhận ông như một nhà Nho có

cá tính sáng tạo rất riêng

2.2 Nghiên cứu về Sơ kính tân trang

Sơ kính tân trang của Phạm Thái ra đời những năm cuối của thế kỷ

XVIII, đầu thế kỷ XIX Là tác phẩm khá đặc biệt, thiên truyện thơ Nôm này

đã được một số nhà nghiên cứu trong giới học thuật và độc giả yêu văn thơ chọn làm đối tượng khảo cứu Đáng chú ý là một số bộ văn học sử, giáo trình lịch sử văn học ở các trường đại học, chuyên khảo, tiểu luận nghiên cứu, đánh

giá về Sơ kính tân trang của Triêu Dương, Nguyễn Nghiệp, Trần Nghĩa, Tế

Hanh, Trần Nho Thìn, Lại Nguyên Ân, Phạm Thế Ngũ, Vũ Tiến Quỳnh, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Nhàn, Nguyễn Phạm Hùng, Trần Đình

Trang 10

Sử, Phạm Nam Trung, Đặng Thị Hảo

Phạm Thái sống vào giai đoạn cuối của nền văn học trung đại nên ông cũng sớm tiếp thu được sự chuyển biến này Tác phẩm của ông ở bất kỳ thể loại nào ít nhiều đều lấy cảm hứng từ câu chuyện tình của chính mình Do đó,

đọc truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang của Phạm Thái, các nhà nghiên cứu

văn học luôn thống nhất đây “là một thiên tự truyện” [25;134] Thanh Lãng

khẳng định với Sơ kính tân trang, “Phạm Thái đã đem hết tâm tư thầm kín

của ông ra mà bộc lộ ở đấy: nó là một cuốn truyện tự thuật truyện đời ông và đời của người yêu ông” [23;570] Nguyễn Lộc cho rằng tác phẩm đã “cố gắng diễn tả lại câu chuyện tình của chính bản thân tác giả” [25;311] để giãi bầy nỗi vui, buồn, được, mất, bi phẫn và giấc mộng đẹp của bản thân

Hoàng Hữu Yên, người dày công nghiên cứu, hiệu đính, chú giải Sơ

kính tân trang cũng khẳng định: “Tính độc đáo trước tiên của Sơ kính tân trang cần được nhấn mạnh là tính tự truyện của tác giả Phạm Thái không vay

mượn cốt truyện ở đâu cả Ông viết lại chuyện của chính bản thân mình” [46;161] Đồng tình với quan điểm trên, Kiều Thu Hoạch nhận ra tính tự thuật

rất rõ trong Sơ kính tân trang Ông khẳng định“Sơ kính tân trang là một

trường hợp khá thú vị Đây là một tác phẩm có tính chất tự truyện của Phạm Thái, nhằm ghi lại mối tình bi thảm giữa nhà thơ tài hoa này với Trương Quỳnh Như Những nhân vật chính trong tác phẩm như Phạm Kim, Trương Quỳnh Thư… chỉ là bản sao chép từ những nguyên mẫu có thật trong hiện

thực là Phạm Thái và Trương Quỳnh Như” [18;170]

Viết Sơ kính tân trang dù với mục đích “nhằm thuật lại mối tình lỡ dở

với Trương Quỳnh Như nhưng đồng thời tự an ủi mình bằng một giấc mơ” [2;18] hay “không nhằm mục đích dãi bầy bi kịch của đời mình bằng việc tái sinh lại đoạn đời buồn đau đó qua những trang viết” [1;82] thì cũng không thể phủ nhận tính tự thuật của tác phẩm Rõ ràng, đây là việc “sử dụng đời tư của

Trang 11

bản thân như chất liệu để nhận thức, khám phá toàn bộ sự đa dạng và phức tạp trong hoạt động tâm lý và tình cảm của mỗi cá nhân con người [17;330] như

nhận xét của nhóm tác giả Từ điển thuật ngữ văn học Vì thế, tính chất tự thuật của Sơ kính tân trang đã đánh dấu bước đột phá trong phong cách khai

thác đề tài của văn học trung đại Việt Nam

Nguyễn Huệ Chi đã đánh giá đây là hiện tượng chưa từng có trong văn học trung đại: Phạm Thái “là người duy nhất trong các nhà văn cổ điển xây dựng truyện thơ bằng chất liệu đời sống dân tộc, và bằng chính câu chuyện thầm kín của riêng mình” [31;1369] Cùng từ góc nhìn này, nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đánh giá rất cao việc làm của Phạm Thái khi đem đến cho văn chương cổ điển có thêm một tiếng nói rất táo bạo về tình yêu: “lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, có nhà văn đã công khai thuật lại mối tình

ngoài vòng lễ giáo của chính mình” [2;18]

Nghiên cứu Sơ kính tân trang, tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp

sáng tác của Phạm Thái không phải lúc nào cũng có những nhận định thống nhất, thậm chí trái ngược nhau Áp chiếu lập trường, tư tưởng của Phạm Thái

vào nội dung nghệ thuật Sơ kính tân trang, Nguyễn Nghiệp chỉ thấy những

điểm yếu và đánh giá rất thấp tác phẩm: “Xét về toàn bộ tác phẩm mà nói, thử

hỏi tác dụng giáo dục Sơ kính tân trang đối với thế hệ chúng ta phỏng được

bao nhiêu Một con người với tư tưởng căn bản là phản động và tiêu cực như Phạm Thái làm sao có thể tạo ra những giá trị nhân đạo cao cả, có tác dụng cho thế hệ được” [2;57] Ý kiến của Nguyễn Nghiệp không nhận được sự

đồng thuận của khá nhiều nhà nghiên cứu, vẫn biết Sơ kính tân trang còn

những hạn chế, song các nhà nghiên cứu đều nhận thấy vẫn có những nét khả thủ nhất là những dấu ấn mà tác giả đã để lại trong tiến trình phát triển truyện thơ Nôm

Không chỉ là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của tác giả, Hoàng Hữu

Trang 12

Yên còn cho rằng “có thể coi đó là một hiện tượng văn học hiếm có trong thể loại truyện thơ, một thể loại lớn, phong phú, đa dạng về nội dung và nghệ thuật của nền văn học cổ điển rực rỡ” [46;18] Xuất phát từ những lý do đó,

trong bài giới thiệu Sơ kính tân trang, Hoàng Hữu Yên đã nhìn nhận tác phẩm

là “bản tình ca độc đáo” [46;16]

Lại Ngọc Cang cũng đánh giá cao vị trí của Sơ kính tân trang Ông

viết: “Tôi nghĩ rằng bên cạnh những lệch lạc mà ta vẫn cần phải vạch rõ ra,

Sơ kính tân trang vẫn xứng đáng có một vị trí đặc biệt trong văn học nước

nhà” Sau này, Lại Ngọc Cang cũng có những đánh giá tương tự: “Với Sơ

kính tân trang, văn chương cổ điển có thêm một tiếng nói rất táo bạo về tình

yêu Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, có nhà văn đã công khai

thuật lại mối tình “ngoài vòng lễ giáo” của chính mình Ở Sơ kính tân trang,

không phải chỉ có những cuộc tình duyên của những người “ngọc diệp, kim chi”, “hào hoa, trâm hốt” Xếp hàng đôi sau Quỳnh Thư, Phạm Kim, Thụy Châu còn có những cặp vợ chồng Hồng - Yến, Oanh - Nhạn” [2;18-24] Từ

đó, Lại Ngọc Cang nhận định: “Ý định của Phạm Thái đã rõ rệt Trước sau,

Sơ kính tân trang chỉ là một câu chuyện tình bắt nguồn từ thực tế và đó là một

mối tình tự do, trong trắng, chung thủy, vượt ra ngoài vòng thao túng của lễ

giáo phong kiến Sơ kính tân trang, vì vậy có thể coi là tác phẩm lãng mạn

đầu tiên của văn học Việt Nam Nó là kết quả của quá trình đấu tranh của văn chương cổ điển chống sự đè nén của lễ giáo phong kiến và có thể xem như

dấu hiệu báo trước sự xuất hiện một sớm một chiều của Đoạn trường tân

thanh Vị trí đặc biệt của nó trong lịch sử văn học nước ta là ở chỗ đó” [2;27]

Như vậy, Phạm Thái là một nhân vật văn hóa đã được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu từ rất sớm Việc nghiên cứu về ông qua bao thời gian đã làm sáng rõ phần lớn những chi tiết về cuộc đời, con người và sưu tập phần lớn thơ văn của ông hiện còn vào một tập, dày dặn để phổ biến cho đời Tập

Trang 13

trung nghiên cứu về Phạm Thái nhiều nhất là ở truyện Nôm Sơ kính tân trang,

tác phẩm là thành tựu lớn nhất trong sự nghiệp văn chương của ông và cũng thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả Tuy nhiên, việc tập hợp để đưa ra kết luận nghiên cứu về đặc điểm thơ văn Nôm của Phạm Thái cũng vẫn còn là vấn để bỏ ngõ Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn để đi sâu vào nghiên cứu mảng thơ văn này Phạm Thái để thấy hết được con người, tình cảm và quan niệm nghệ thuật của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà chúng tôi quan tâm ở đây là thơ văn Nôm của Phạm Thái giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX

Văn bản khảo sát “Phạm Thái toàn tập”, Nhà xuất bản Văn học, Sở

Cuồng Lê Dư phiên chú, Trần Trọng Dương khảo cứu, hiệu chú Đây được xem là cuốn sách tập hợp đầy đủ các bài thơ của Phạm Thái nhất hiện nay được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu đáng tin cậy Những trích dẫn về thơ Phạm Thái cả phần phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ trong luận văn này đều được dẫn từ công trình này Người viết thừa hưởng thành quả của những người đi trước và không sáng tạo gì thêm về phiên âm dịch nghĩa của văn bản

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi muốn tổng kết các đặc điểm cơ bản trong sáng tác chữ Nôm của Phạm Thái Bên cạnh đó, luận văn góp phần hiểu thêm về tâm hồn, tư tưởng tình cảm và những đóng góp đặc sắc trong sáng tạo nội dung và nghệ thuật của Phạm Thái trong thơ văn Nôm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử

Trang 14

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liện tham khảo và Phụ lục, Luận văn kết cấu theo 3 chương:

Chương 1: Những cơ sở lí luận chung

Chương 2: Các khuynh hướng cảm hứng và con người cá nhân trong thơ văn Nôm Phạm Thái

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ văn Nôm Phạm Thái

Trang 15

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Thơ văn Nôm thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX

1.1.1 Quá trình phát triển

Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học thời trung đại là tính song ngữ Điều này không chỉ đúng với văn học trung đại Việt Nam mà còn đúng với văn học của nhiều nước trên thế giới Tính song ngữ làm cho văn học trung đại trở nên phong phú, đa dạng, giàu có hơn nhưng đồng thời cũng nảy sinh hiện tượng bất bình đẳng giữa hai bộ phận văn học Đối với văn học Việt Nam, hiện tượng bất bình đẳng này thể hiện rõ ở thái độ xem trọng văn chương viết bằng chữ Hán còn xem thường văn chương viết bằng chữ Nôm Truyện Kiều xứng tầm kiệt tác là thế, nhưng do áp lực của cả một thời đại

“bất bình đẳng” đối với tình trạng song ngữ trong một nền văn học, khi kết thúc nó, Nguyễn Du đành phải viết “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh” còn Cao Bá Quát thì lâm vào băn khoăn, khó

xử, khi nhận thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều là những áng văn hay chưa từng có nhưng lại chưa dám lấy quốc ngữ làm văn chương… Tuy nhiên cả Nguyễn Du và Cao Bá Quát cũng như các tác gia khác, đặc biệt là các tác gia tiêu biểu như Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó, Nguyễn Văn Siêu, Phan Huy Chú, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ cùng thời, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tú Xương về sau… không hề coi thường việc sáng tác bằng chữ Nôm (tiếng Việt)

Văn học chữ Nôm ra đời cùng với ý thức tự lập tự cường của dân tộc Việt Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, văn học Nôm đã định hình và

Trang 16

học bằng chữ Nôm đầu tiên của những tên tuổi như Nguyễn Thuyên, Trần Nhân Tông đến những đại diện tiêu biểu cuối cùng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương… văn học Nôm đã đi được một chặng đường khá dài để trở nên toàn bích Kho tàng thư tịch về chữ Nôm và văn học chữ Nôm, hiện được lưu giữ tương đối đầy đủ nhất và phong phú nhất ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, với số lượng tác phẩm khoảng 1500 tên sách (trong đó sách viết toàn chữ Nôm khoảng 500 tác phẩm, sách chữ Hán diễn Nôm khoảng 200 tác phẩm, sách chữ Hán lẫn Nôm khoảng 800 tác phẩm), đó

là chưa kể tới hàng vạn thác bản văn bia có chữ Nôm (trong đó văn bia toàn khắc chữ Nôm khoảng gần 200 đơn vị)

Ở giai đoạn đầu tiên của văn học viết Việt Nam, từ thế kỷ X – XIV, đây

là giai đoạn đi lên của giai cấp phong kiến, có vai trò tích cực đối với sự phát triển của dân tộc Với ý thức làm chủ quốc gia trong sự phân biệt với phong kiến phương Bắc, giai cấp phong kiến mang tinh thần dân tộc, đại diện cho dân tộc trên mọi phương diện Ở bình diện văn hóa, giai cấp phong kiến nhà

Lý – Trần đã xây dựng cơ sở cho việc hình thành ngôn ngữ của dân tộc Chữ Nôm ra đời và bắt đầu có những sáng tác văn học Những tác phẩm văn học

Nôm đầu tiên đến nay vẫn còn là Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền

thành đạo ca của Trần Nhân Tông Ngoài ra, các bộ sử lớn của Việt Nam,

như Đại Việt sử ký tiền biên (q.5, t.37) và Khâm định Việt sử thông giám

cương mục (q.7, t.26) đều ghi: “Mùa thu tháng 8 năm Nhâm Ngọ niên hiệu

Thiên Bảo thứ 4 (1282), có cá sấu đến sông Lô, Vua sai quan Thượng thư Bộ Hình là Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi Vua cho việc ấy giống việc làm Hàn Dũ (đời nhà Đường) nên ban cho ông họ Hàn Thuyên giỏi thơ phú quốc ngữ, nhiều người bắt chước làm Nay gọi thơ quốc

âm là Hàn luật bắt đầu từ đây” Rất tiếc bài văn của Nguyễn (Hàn) Thuyên đã

bị thất truyền, còn tập thơ của ông là Phi sa tập cũng đã thất truyền, nhưng

Trang 17

theo Phan Huy Chú ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch

chí) thì “Tập này có nhiều thơ quốc âm” Như vậy, theo các tư liệu lịch sử thì

Nguyễn (Hàn) Thuyên là người giỏi về văn và thơ Nôm, rất tiếc các tác phẩm

của ông hiện không còn Căn cứ vào ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch

triều hiến chương loại chí thì Chu Văn An (?-1370) có Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (đã bị thất truyền), sau này các nhà nghiên cứu cho rằng có thể trong tập

thơ này có thơ chữ Nôm Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục

(Chính biên, q.7, t.44) thì Nguyễn Sĩ Cố (thế kỷ XIV) cũng giỏi làm văn thơ

quốc âm, để cho mọi người theo và cũng theo Khâm định Việt sử thông giám

cương mục (Chính biên, q.11, t.3 và t.22) có chép việc Hồ Quí Ly (cuối thế kỷ

XIV - đầu thế kỷ XV) có làm thơ quốc âm để tặng vua Trần Nghệ Tông và

dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra quốc ngữ để dạy cho các quan gia (nhưng đều thất truyền) Theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử thì Hồ Tông Thốc (thế kỷ XIV) có soạn cuốn Phú học chỉ nam và Nguyễn Phi Khanh (1355-1428) cùng nhiều nho sĩ có làm bài phú Con ngựa lá

Đến thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi được giặc Minh, giai cấp phong kiến tiến đến mức phát triển cực thịnh Cuộc kháng chiến giành được thắng lợi là

vì dựa vào lực lượng nhân dân Trong khí thế thắng lợi vang dội của tinh thần,

ý thức dân tộc, giai đoạn này chứng kiến sự phát triển lớn mạnh của văn học chữ Hán lẫn chữ Nôm Nguyễn Trãi đã có công lao to lớn trong việc đưa thơ

văn Nôm phát triển mạnh mẽ với tập thơ Quốc âm thi tập bao gồm 254 bài

thơ mang âm điệu, hồn cốt dân tộc Bên cạnh đó, những tác gia trong hoàng tộc giai đoạn này cũng có vai trò rất lớn để đưa văn học Nôm lớn mạnh, đại diện tiêu biểu nhất là Lê Thánh Tông Với tác phẩm Hồng Đức quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông và 28 vì tinh tú trong Tao đàn đã đem đến cho đời những tác phẩm thơ Nôm mang hơi thở của cuôc sống, tâm tình của người dân đất

Việt Ngoài ra còn có các tác phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn chép

Trang 18

trong Thiên Nam dư hạ tập tương truyền là của Lê Thánh Tông, Kim lăng

ký và Phan Trần tương truyền là của Đỗ Cận (thế kỷ XV), Hồng Châu quốc ngữ thi tập của Lương Như Hộc (thế kỷ XV); rất tiếc, những tác phẩm này

hầu hết đã thất truyền

Đến thế kỷ XVII, văn học Nôm tiếp tục chinh phục những đỉnh cao mới Sự phát triển của văn học chữ Nôm về mọi mặt đã phản ánh sự thắng lợi vang dội của phong trào nhân dân chống phong kiến trên địa hạt văn chương Hàng loạt tác phẩm diễn ca lịch sử, ngâm khúc Nôm dài hơi được ra đời, cho

thấy sự phát triển lớn mạnh của ngôn ngữ thơ ca dân tộc: Thiên Nam minh

giám, Thiên Nam ngữ lục, Tứ thời khúc vịnh, Nghĩ hộ bát giáp thưởng đào văn… Đặc biệt, sự xuất hiện của Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân quốc ngữ thi đã khẳng định sự hiện diện vững chắc của thơ văn chữ Nôm bên cạnh thơ

văn chữ Hán

Nhưng có lẽ văn học chữ Nôm thực sự tạo nên những giá trị đặc biệt là

ở giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Ở giai đoạn này, những mâu thuẫn của chế độ phong kiến đã lên đến đỉnh điểm Những cuộc tranh quyền đoạt lợi giữa giai cấp phong kiến diễn ra thường xuyên, nhân dân không chịu nổi áp bức đã vùng lên quyết liệt chống trả Những thắng lợi của quần chúng nhân dân trên mặt trận vũ trang đã lật đổ toàn diện các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn Những biến động lớn lao của lịch sử cùng với

sự khẳng định sức mạnh của quần chúng nhân dân đã ảnh hưởng lớn trên lĩnh vực văn hóa, văn học Chưa bao giờ ngôn ngữ dân tộc lại thăng hoa để hình thành nên những kiệt tác có giá trị bất hủ như ở giai đoạn này Hàng loạt tác giả, tác phẩm thơ văn Nôm đặc sắc về nội dung, nổi bật về nghệ thuật đã hình thành như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… Đến giai đoạn này, thơ văn Nôm đã

có bước phát triển ngoạn mục để vượt lên trên thơ văn chữ Hán về mọi

Trang 19

phương diện

Thơ văn chữ Nôm vì sử dụng ngôn ngữ dân tộc nên có thể miêu tả một cách linh hoạt và cụ thể hơn văn học chữ Hán Những nét phong phú, mỹ lệ của thiên nhiên, tính cách, tâm hồn, cuộc sống, suy nghĩ của con người Việt được thơ văn Nôm chuyển tải sâu sắc và ý nhị hơn cả Đặc biệt, trong một giai đoạn mà ý thức, tinh thần của nhân dân lao động trỗi dậy một cách mạnh

mẽ như cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX thì ngôn ngữ, tiếng nói của quần chúng nhân dân trở thành tiếng nói đại diện cho cả dân tộc Điều này đã làm cho văn học chữ Nôm có tính dân tộc đậm đà hơn văn học chữ Hán Hơn nữa, văn học chữ Nôm vì chưa bao giờ có một địa vị chính thức trong đời sống chính trị và văn hóa nên chưa bao giờ được dùng để tạo nên những tác phẩm mang tính điển chế nhà nước hay những tác phẩm sử học, triết học, chính trị… Chính vì vậy tác phẩm Nôm tách rời tính học thuật Văn học chữ Nôm chủ yếu bao gồm những tác phẩm thuần túy văn học Điều này lý giải vì sao những tác phẩm văn học Nôm nói chung, văn học Nôm ở giai đoạn phát triển rực rỡ của nó, cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, nói riêng đã trở thành những kiệt tác vượt thời gian, tồn tại và phát triển lớn mạnh cùng văn hóa Việt trong suốt trường kỳ lịch sử

1.1.2 Đặc điểm nội dung tư tưởng

Văn học chữ Nôm giai đoạn thế kỷ X – XIV phát triển với khuynh hướng gắn bó giữa đạo và đời trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Hai tác phẩm chữ Nôm của Phật hoàng Trần Nhân Tông đều ca ngợi

Phật giáo Thiền tông Bài Cư trần lạc đạo phú và bài Đắc thú lâm tuyền

thành đạo ca Cả hai bài này đều do người đời sau cho vào tập Thiền tông bản hạnh, khắc ván in lần đầu vào năm Cảnh Hưng 6 (1745) Đó là những bài ca

ngợi cảnh thiền và lòng thiền, trong đó con người an nhiên tự tại, sống giữa đời trần mà cũng hòa vui trong đạo Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần

Trang 20

Nhân Tông hướng đến ca ngợi con người trong niềm vui với đạo, đạo ở đây phải được tu dưỡng, rèn luyện cùng núi cao sông rộng, nơi thâm sơn cùng cốc

để đạt đến cảnh giới cao nhất và có thể truyền bá được cho nhiều người Cư trần lạc đạo phú của Phật hoàng lại cổ vũ các cư sĩ vui với đạo tại gia, sống giữa trần đời vẫn có thể đắc đạo Những tác phẩm chữ Nôm khác của các tác gia đời Trần Hồ như Mạc Đĩnh Chi, Hồ Quý Ly, Nguyễn Phi Khanh lại gắn

bó với khuynh hướng Nho giáo, ca ngợi nghĩa quân thần, đạo lý thánh hiền, bách gia chư tử Nhưng hầu hết đã thất truyền nên khó có thể khái lược những nội dung cụ thể

Những tác phẩm chữ Nôm ở thế kỷ XV- XVII của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm… có nội dung phong phú, đa dạng, cơ bản gắn liền với tâm tình của người Việt Thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu tha thiết của ông dành cho nước cho dân với tinh thần nhân nghĩa sâu sắc, đồng thời cũng có cả nỗi thao thức dằn vặt từ cảnh ngộ riêng tư, một cái tôi

trữ tình mang màu sắc của cả Nho, Phật và Lão Hồng Đức quốc âm thi

tập viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, nhưng cũng có bài pha “lục

ngôn” theo kiểu “Hàn luật” của Việt Nam Nội dung nặng về những đề tài

“cao quý”, vịnh người vịnh cảnh, thấm đậm tư tưởng Nho gia Tuy nhiên, đây

là thời thái bình thịnh trị, nên tập thơ cũng toát lên niềm lạc quan, tự hào dân tộc và thiện chí trau giồi ngôn ngữ dân tộc của vua tôi nhà Lê Thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được viết khi tác giả ở ẩn nên bao trùm không khí an nhàn ẩn dật, yêu quý thiên nhiên, xa lánh bụi đời, tuy không dứt lòng thương nước lo đời, quan tâm thế sự Ngoài ra, những tác phẩm diễn ca lịch sử giai

đoạn này như Việt sử diễn âm, Thiên Nam minh giám, Thiên Nam ngữ lục…

cũng khơi gợi được tinh thần tự hào dân tộc, khát vọng hòa bình

Văn học chữ Nôm ở giai đoạn từ thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu lớn Giá trị của văn học Nôm giai

Trang 21

đoạn này là ở sự quan tâm sâu sắc đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội đương thời và cả những góc khuất trong đời sống con người thời đại Sự quan tâm này không thể hiện ở một hiện tượng đơn lẻ mà là đồng loạt, xuyên suốt ở nhiều tác giả, tác phẩm Chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn, nhân bản trong văn học Nôm được thể hiện sâu sắc, đầy giá trị qua nhiều tác phẩm của các tác gia nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Lê Ngọc Hân, Phan Huy Ích, Phạm Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Hữu Chỉnh… Điểm khác biệt của văn học Nôm khi thể hiện vấn đề này so với văn học chữ Hán đó là văn học Nôm đã bỏ qua tất cả giáo điều, định kiến xã hội để đi sâu vào những ngóc ngách sâu kín nhất của đời sống tâm hồn con người thời đại, đã quan tâm đến những con người nhỏ

bé nhất, bị chà đạp nhiều nhất để vì họ mà lên tiếng Hơn nữa, văn học Nôm còn mạnh mẽ đả phá toàn bộ thể chế phong kiến, giáo điều Nho gia mà bọn phong kiến vẫn rêu rao trong các tác phẩm của mình mà văn học chữ Hán không dám đề cập đến Nói cách khác, văn học chữ Nôm giai đoạn này đã có

xu hướng ly tâm khỏi quan điểm chính thống mà văn học chữ Hán chưa thể vượt qua

Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX phát triển trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, vừa có nội chiến vừa hướng tới thống nhất đất nước, vừa xuất hiện phong trào nông dân khởi nghĩa vừa có chống ngoại xâm, vừa có những trang văn đạt tới đỉnh cao của giá trị nhân văn nhân đạo Đội ngũ tác giả chủ yếu là nhà nho nhưng đã có sự phân hóa mạnh mẽ, bao gồm các tầng lớp vua quan và nho sĩ, bác học và bình dân Sáng tác bằng chữ Nôm đạt thành tựu vượt trội so với chữ Hán Các thể loại văn học in đậm bản sắc dân tộc phát triển lên một tầm cao mới, đưa đến những giá trị thẩm mỹ giàu tính nhân văn Hiện thực xã hội được phản ánh đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn, mở rộng hơn các sắc thái tình cảm Ý thức con người cá nhân được khai thác từ nhiều

Trang 22

góc độ và thể hiện trong nhiều nhân vật điển hình sinh động Tính chức năng, giáo huấn và những quy phạm hình thức ngày càng giảm nhẹ trong khi chất văn chương và kiểu văn học hình tượng ngày càng được phát huy

Viết về tình yêu, văn học chữ Nôm đã thể hiện được khát vọng tự do, giải phóng tình dục, giải phóng cá tính con người vốn đã bị kèm cặp quá lâu Trong ngâm khúc lẫn truyện Nôm đều thể hiện được điều này Các tác phẩm đều tập trung khẳng định những giá trị nhân văn, in đậm sắc thái bi kịch trữ tình, phản ánh số phận người phụ nữ bị bỏ rơi nơi cung cấm và nỗi cô đơn khi chồng ra trận Với tư cách là con người, họ có đủ mọi cung bậc tâm trạng vui

buồn Quan trọng hơn, người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc dám bộc lộ

rõ nhu cầu tình cảm và ước vọng quan hệ thân xác với nhà vua:

Cái đêm hôm ấy đêm gì, Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng

Hoặc như người chinh phụ khao khát nhớ chồng trong Chinh phụ

ngâm, không hứa hẹn gặp gỡ ở một cõi trời nào khác, mà mong được chung

sống, tận hưởng hạnh phúc ngay giữa cuộc đời trần thế này:

Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy, Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau

Nếu như thơ văn Nôm thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII căn bản hướng đến xác lập các phạm trù thẩm mỹ qui phạm như văn thơ chữ Hán (ngay cả khi có sự phê phán cũng chủ yếu nhằm phê phán để khẳng định chứ không nhằm phủ nhận, phủ định) thì văn học Nôm thế kỷ XVIII-XIX lại hướng đến

ly tâm chính thống, giải phóng con người cá nhân, khẳng định trào lưu nhân văn, thực hiện “giải Hán hóa”, chống công thức, khuôn phép, lễ nghĩa Nho giáo Điều này thể hiện rõ ở hệ thống chủ đề tình yêu, mô típ “tài tử giai nhân” và việc đề cao quyền sống con người Nói riêng trong chủ đề tình yêu,

vẻ đẹp hình thể người phụ nữ được coi trọng và được miêu tả trực diện như

Trang 23

nàng Thúy Kiều trong Truyện Kiều:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Rày rày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Quan niệm về cái đẹp thuộc về phẩm chất con người cũng có những thay đổi đáng kể so với đạo đức Nho giáo truyền thống Thúy Kiều bán mình lấy tiền chuộc cha, sau 15 năm lưu lạc, hai lần phải vào lầu xanh, hai lần trú ngụ nơi cửa chùa, rút cuộc vẫn được người yêu là Kim Trọng đánh giá cao:

Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều không chỉ có hai màu sáng tối

tương phản mà đã trở nên đa dạng, sinh động hơn, có cả nhân vật chính diện, phản diện và nhiều nhân vật trung gian khác nữa Thậm chí ngay nhân vật chính diện Thúy Kiều, trong tình thế nhất định, cũng có những mặt hạn chế như cả tin, tham tiền, ăn cắp chuông vàng khánh bạc nhà Hoạn Thư… Tất cả những điều này làm nên nhiều những nét tươi mới, khác biệt so với thơ văn chữ Hán hay thơ văn Nôm các giai đoạn văn học trước đây

1.1.3 Đặc điểm thể loại văn học

Văn học Nôm giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX có nhiều đổi thay vượt bậc về phương diện nghệ thuật, đặc biệt ở hệ thống thể loại văn học

có nhiều điểm khác biệt so với các giai đoạn trước Bộ phận thơ Nôm luật Đường với tên tuổi Phạm Đình Hổ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… đã đạt tới trình độ nghệ thuật điêu luyện, đồng thời xuất hiện ba dòng thể loại thơ Nôm “đặc sản” (ngâm khúc, truyện thơ và hát nói) đã góp phần quyết định làm nên linh hồn trào lưu nhân văn cũng như lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX Đó là đóng góp lớn lao của văn học Nôm đối với lịch sử văn học giai đoạn này nói riêng cho văn học trung đại Việt Nam nói chung

Thơ chữ Nôm Đường luật ở giai đoạn này xuất hiện nhiều tập thơ hay

Trang 24

như Càn nguyên ngự chế thi tập có 231 bài thơ của Trịnh Doanh (?-1767);

ngoài ra phải kể đến nhiều tác giả khác có sáng tác thơ Nôm, như Nguyễn Cư Trinh (1716-1763), Mạc Thiên Tích (1706-1780), Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII), Bà huyện Thanh Quan (thế kỷ XIX)… Sau này xuất hiện nhiều nhà thơ sáng tác thơ Nôm và thơ Nôm theo thể ca trù, như: Nguyễn Công Trứ (1778-1858), Cao Bá Quát (?-1854), Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867)… Tuy nhiên, thơ Nôm Đường luật giai đoạn này vẫn chiếm địa vị quan trọng hơn cả so với các thể thơ khác Ngôn ngữ, nghê thuật đạt đến trình độ cao, nội dung tác phẩm hướng đến diễn đạt tự nhiên tâm tình, cảm xúc của con người thời đại Thơ Nôm Đường luật ngày càng gắn bó hơn

Về thể phú Nôm, tiếp nối thành tựu từ thời Trần, phú Nôm giai đoạn

này phát triển ngày càng nhiều về số lượng, như Ngã ba Hạc phú và Giai

cảnh hứng tình của Nguyễn Bá Lân (1701-1785), Tụng Tây Hồ của Nguyễn

Huy Lượng (?-1808), Chiến tụng Tây Hồ của Phạm Thái (1777-1813)

Nhiều kịch bản tuồng viết chữ Nôm theo lối văn biền ngẫu (có xen chữ Hán)

đã ra đời trong giai đoạn này, như Sơn Hậu (khuyết danh), Tam nữ đồ

vương (khuyết danh), Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1763) Nhìn

chung, xét về phong cách thể hiện và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân tộc, tuồng có sự thay đổi từ ngôn ngữ điển cố sang ngôn ngữ tả thực, từ phong cách khoa trương sang phong cách bình dị

Văn học Việt Nam giai đoạn này, với sự đóng góp của văn học chữ Nôm đã xuất hiện những thể loại văn học mới, như: ca trù, diễn ca, truyện thơ lục bát, song thất lục bát và truyện thơ luật Đường, đây là những thể loại sử dụng ngôn ngữ thi ca dân tộc

Thể truyện Nôm lục bát phải kể đến là những tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát được lưu hành sâu rộng trong nhân dân và được nhiều người học thuộc

Trang 25

lòng, như: Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820), Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Sơ kính tân trang của Phạm Thái (1777- 1813)… Ngoài ra còn hàng loạt các tác phẩm thơ Nôm lục bát khuyết danh, như: Nhị độ mai, Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý

Công Hoàng Trừu, Phan Trần

Đặc biệt, giai đoạn này xuất hiện các tác phẩm Nôm thể lục bát diễn ca

lịch sử, điển hình là Đại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát (1827-1875)

Tiếp thể diễn ca lịch sử là các tác phẩm diễn ca truyện cổ tích, đặc điểm của

loại truyện này là nhiều tác phẩm khuyết danh, như: Ỷ Lan phu nhân của Trương Thị Ngọc Trong (thế kỷ XVIII), Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ

lục thần tích quốc ngữ diễn ca, Chúa Thao cổ truyện, Ông Ninh cổ truyện, Tấm Cám, Thạch Sanh, Trương Chi v.v Rồi loại ký sự lục bát cũng ra đời,

như: Mai Đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ (1783-1841), Bất phong lưu

truyện của Lý Văn Phức (1875-1849), v.v

Thể ca khúc viết theo lối song thất lục bát ở giai đoạn này cũng phát

triển và thành thể ngâm, như các tác phẩm: Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705-1748) và của Phan Huy ích (1750-1822), Cung oán ngâm

khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân (thế kỷ

XVIII), Chức cẩm hồi văn của Hoàng Quang (?-1801), Văn triệu linh của Phạm Thái (1777-1813), Văn chiêu hồn của Nguyễn Du (1765-1820), Tự tình

khúc của Cao Bá Nhạ (thế kỷ XIX), Tỳ bà hành của Phan Huy Thực

(1778-1844), Bần nữ thán (khuyết danh)

Thể truyện thơ Nôm luật Đường, như: Vương Tường, Tô công phụng

sứ, Lâm tuyền kỳ ngộ, Tam quốc thi… đều là những truyện khuyết danh cũng

lần lượt xuất hiện

Có thể nói, nền văn học chữ Nôm và đặc biệt là thơ Nôm đã đạt được những thành tựu rực rỡ, sánh ngang tầm với thơ chữ Hán vốn đã có thành lũy

Trang 26

lâu đời Sự xuất hiện của chữ Nôm và thơ Nôm là một hiện tượng mang tính cách mạng của nền văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện tinh thần tự lập, tự cường về mặt văn hóa của dân tộc Việt trong tương quan với nền văn hóa Hán Đối với một dân tộc, trên con đường tiến lên của lịch sử nói chung và của nền văn hóa nói riêng thì sự xuất hiện của văn tự cũng được coi như là một dấu mốc có tầm quan trọng đáng kể và có tác dụng khá quyết định Đặc biệt, nếu đó là một nền văn tự truyện dùng để ghi tiếng nói của dân tộc thì lại càng có ý nghĩa Do thơ chữ Hán vốn có tính chặt chẽ, đạo mạo nghiêm ngặt, nên đối tượng hướng đến đa số là nhà nho, những người hay chữ và giai cấp thống trị Vì thế thơ chữ Hán phần lớn thích hợp cho việc bộc lộ, thể hiện tâm

tư nhưng lại hạn chế trong việc phản ánh hiện thự khách quan Vì vậy, sự phổ biến rộng rãi của thơ Hán bị hạn định Mặt khác, ngôn ngữ trong thơ Nôm lại gần gũi với lời ăn tiếng nói của người Việt Do đó, hiện thực khách quan dễ dàng đi vào thơ Nôm và đã chiếm được một vị thế quan trọng trong lòng đối tượng tiếp nhận, cũng như trong nền văn học trung đại Thơ Nôm đã làm nên tên tuổi của nhiều nhà thơ bật nhất trong thi đàn văn học Việt Nam mà đến nay những tên tuổi ấy vẫn là “vô tiền hoán hậu” như Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến… Cho đến nay, đã qua nhiều thế kỷ, vị trí của họ trong lòng hậu thế

là không thể phai mờ Và như vậy, thơ Nôm đã tô điểm thêm cho nền Văn học nước nhà một sự rực rỡ, đa dạng mà không gì có thể thay thế được

1.2 Con người và sự nghiệp thơ văn Phạm Thái

1.2.1 Con người

Phạm Thái là một trong những tài tử nổi tiếng của đất Bắc với hành trạng cuộc đời hết sức đặc biệt Chính sự đặc biệt ấy, ông đã trở thành nguyên mẫu cho tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn độc đáo của Khái Hưng “Tiêu Sơn tráng sĩ” Cuộc đời ông có thể gói gọn trong 4 chữ tài – tình – ngông – cuồng

Trang 27

Phạm Thái chỉ dừng lại với cuộc chơi dương thế 36 năm nhưng những gì ông

để lại thực sự khó phai mờ trong tim những con người biết sống, biết yêu, biết dấn thân hôm nay

Sinh ra và lớn lên ở làng An Thị, xã An Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) Ông là con Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng, đã khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại Phạm Thái mồ côi mẹ từ bé, lúc mới 4 tuổi Lớn lên, ông tinh thông cả văn lẫn võ Ông còn có những tên khác như Chiêu Lỳ, Phạm Phượng hay Phạm Phượng Sinh hoặc Đan Phượng, tên hiệu là Trọng Bạch Đường hoặc Trọng Bạch Khi đi tu ông có tên pháp hiệu là Phổ Chiêu thiền sư, nên được gọi là Ông Sư Chiêu Mỗi cái tên đều gắn liền với những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời ông Ngoài ra, ông còn có quán hiệu là An Thường là tên ghép từ thôn An Thị và xã An Thường

Cha Phạm Thái là một võ tướng Ông nuôi chí phục hưng cho nhà Lê nhưng đều thất bại Chí hướng này của Phạm công đã ảnh hưởng lớn đến Phạm Thái Nối chí theo cha, Phạm Thái cũng tang bồng hồ thỉ với ước nguyện tìm được minh chủ phò Lê Phạm Thái ôm khát vọng này mà bỏ lỡ con đường công danh, hôn nhân, gia đình… Bởi lẽ, Phạm Thái không giống với nhiều người khác, quan điểm của ông khá nhất quán “trung thần bất sự nhị quân” Nếu lực lượng nào đi ngược với lý tưởng của ông đều là đối nghịch Đó là lý do vì sao Phạm Thái với 36 năm cuộc đời đều đi tìm con đường phục dựng nhà Lê, bỏ qua sự tiến bộ, sức mạnh vượt bậc của phong trào nông dân Tây Sơn

Phạm Thái cũng như nhiều Nho sĩ giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu XIX đều sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh hết sức loạn lạc Sự thay ngôi đổi chủ diễn

ra dồn dập như một giấc mộng Ba lần Nguyễn Huệ ra Bắc, dẹp tan quân Thanh, phù Lê diệt Trịnh, thống nhất đất nước Tuy nhiên, nhà Tây Sơn tồn tại không

Trang 28

lâu đã bị thay thế bởi nhà Nguyễn Gia Long Phạm Thái bất mãn thời cuộc, lẩn tránh chính quyền mới, bước chân ngao du đưa ông đi khắp nơi Ông đã từng đến vãng cảnh chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh), làm bạn lâu năm với Phổ Tĩnh thiền

sư, tại đây ông khoác áo thiền sư và lấy pháp hiệu là Phổ Chiêu thiền sư Có khi ông lại lưu lạc đến tận Đồ Sơn (Hải Phòng), Yên Tử, Vạn Ninh (Quảng Ninh) Cũng có khi người ta lại thấy ông lạc bước đến tận miền sơn cước Hy Cương, Phú Thọ Vì say mê nước non Ninh Bình mà ông đã dừng chân làm tăng sư ở chùa Kim Sơn (Ninh Bình) Phạm Thái tìm quên trong thơ, rượu, trong thú vui non nước để sống cuộc đời lãng tử của mình

Năm 25 tuổi, Phạm Thái thấy cuộc thế đổi thay, nhà Tây Sơn đã mất Ông không còn chịu sự truy đuổi gắt gao của triều đại này nữa nên ông đến xã Thanh Nê, xứ Sơn Nam làm môn nhân cho Thượng thư Tiến sĩ Trương Đăng Quỹ, tức cha của Trương Đăng Thụ và Trương Quỳnh Như Ông đến đây mục đích trước tiên để viếng bạn của mình là Trương Đăng Thụ Vì mến mộ văn tài của Phạm Thái mà Trương Đăng Quỹ đã giữ ông ở lại cùng làm bạn văn chương Tại đây, Phạm Thái cùng Trương đại nhân lập ra thi xã để cùng Nho

sĩ trong vùng xướng họa văn chương Chính ở đây, Phạm Thái được gặp Trương Quỳnh Như dưới vóc hình nam nhân, cả hai đều rất tâm đầu ý hợp trong lời thơ, tiếng văn Sau này, Phạm Thái phát hiện ra nàng là nữ nhân, thầm thư từ qua lại và hai người cùng thề nguyền ước hẹn duyên sắc cầm Mối duyên của kẻ tài tử giai nhân được sự tác thành của Trương đại nhân nhưng mẹ của Trương Quỳnh Như lại không chấp nhận một người con rể nghèo khó, thân phận long đong đất khách quên người như Phạm Thái Bà muốn gả con gái cho một người giàu có, gia thế lớn mạnh trong vùng dù chẳng giàu có về văn chương chữ nghĩa tên là Trịnh Nhị Quỳnh Như chịu nhiều áp lực từ phía người mẹ nên mang bệnh ưu uất rồi qua đời Phạm Thái

từ đó cũng rời bỏ nhà họ Trương, lang thang đó đây, lấy rượu thơ nàm thú vui

Trang 29

qua ngày Cái tên Chú Lỳ ra đời từ đó Từ đó về sau, Phạm Thái không lấy ai, mãi mãi ôm ấp mối tình với cô gái họ Trương đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng

Trong thời gian này, Phạm Thái bán sạch điền sản tại quê nhà để có kinh phí ngao du đồng thời dừng chân nơi đâu lại làm nghề dạy chữ kiếm ăn Việc này được Nguyễn Tử Mẫn ghi chép trong Chiêu Tôn sư tân trang truyện thuyết: “Cha tôi thuở nhỏ thất học, sinh bá huynh tôi, mong giúp con trưởng thành, thấy thơ ông công chữ rất khéo vời về làm thầy cho con Mỗi khi ông giảng sách, tôi đứng cách một bức vách mà lén nghe, để làm tập thơ quốc âm Còn làm văn thì cũng tạm được chút ít Khi trưởng huynh tôi khải mông cho, rồi lại được cha và anh ngâm đọc những điều ông viết, lòng thực ái mộ Đã gắng mà làm theo thì cũng theo được đôi chút Ông thực sự là tổ sư của tôi vậy.” [12;16] Đây là một trong số rất nhiều nơi Phạm Thái đã dừng chân dạy học Cùng với việc dạy học, Phạm Thái vẫn tiếp tục sáng tác văn chương như soạn văn thơ, câu đối, hoành phi, văn bia, văn tế… để kiếm sống qua ngày

Năm 1813, Phạm Thái mất tại Thanh Hóa khi mới 37 tuổi Nguyên nhân cái chết của ông chưa thấy sách vở nào ghi chép tường tận Người ta chỉ biết rằng, ông đã ra đi tại một nơi đất khách quê người trên bước đường tha hương của mình, ôm ấp mối tình với một người con gái duy nhất, một lý tưởng duy nhất xuống dưới mồ sâu

vị tác phẩm vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay

Những tác phẩm đã thất truyền có Quân yếu, Văn bia mộ Thanh Xuyên

hầu (Hán văn), Phạm gia phả ký, Trọng Bạch Đường thư, Phổ Chiêu thiền sư

Trang 30

thi văn tập, Thanh Nê thập vịnh thi

56 đơn vị tác phẩm còn lại có những đơn vị tác phẩm tồn tại độc lập,

cũng có những đơn vị tác phẩm nằm trong tập truyện thơ Nôm Sơ kính tân

trang được tách ra khảo cứu đơn lẻ Đó là những bài thơ, khúc từ được xướng

họa bởi cặp đôi tài tử giai nhân Phạm Kim – Trương Quỳnh Thư, Phạm Kim – Nhụy Châu

Có thể phân loại 56 đơn vị tác phẩm này theo thể loại như sau:

Thơ Nôm đường luật có 28 bài Chiếm số lượng nhiều nhất trong di sản văn chương của ông So với nhiều tác gia đương thời, số lượng này khá khiêm tốn, tuy nhiên, về chất lượng những tác phẩm thơ Nôm Đường luật của Phạm Thái vẫn có giá trị đáng kể Ông có một phong cách thơ riêng không hề lẫn với bất kỳ ai khác Những tác phẩm thơ Nôm Đường luật tiêu biểu của ông có

thể kể đến như Họa thơ mừng tiệc sinh nhật của quan Thanh Xuyên hầu, Diễn

thơ Trương Tứ Lang, Đề tòa nhà Nghĩa Lư 1, Ngôn chí 1, 2, Núi con voi, Đối nguyệt cảm ứng, Trời đông nghe trống đánh…

Câu đối: Phạm Thái còn lại 9 đôi câu đối Có thể những câu đối này được ông làm trong thời gian cuối đời nay đây mai đó ở chùa Kim Sơn, dạy học ở các tư gia… Các cặp câu đối đều đạt đến độ hài hòa về ý tứ, âm điệu, nghệ thuật dùng từ, đặt câu, sử dụng hình ảnh…

Văn Nôm gồm có các bài như Văn tế Trương Quỳnh Như, Chiến tụng

Tây Hồ Phú, 3 chùm văn phổ khuyến chúng sinh được làm khi ông ở chùa

Tiêu Sơn… Những bài biền văn này thể hiện được kỹ thuật điêu luyện của Phạm Thái, các liên đối được bố cục nhịp nhàng, ngôn ngữ gần gũi dễ hiểu, các từ cảm thán, hình ảnh được sử dụng khá sáng tạo

Phú Nôm có một bài Chiến tụng Tây Hồ phú Tác phẩm này là lời đối

đáp của một thần tử nhà Lê chiến lại thần tử nhà Tây Sơn Tác phẩm là lời phản biện với nhà Tây Sơn về quan điểm chính trị vể biểu tượng của chế độ

Trang 31

Phạm Thái có ý thức rất rõ trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu

từ, điển cố, chi tiết lịch sử… với dụng ý đối lập hoàn toàn với Tụng Tây Hồ

phú của Nguyễn Huy Lượng

Từ Nôm có 6 bài Thành công lớn của Phạm Thái ở truyện thơ Nôm và thơ Nôm đường luật đã có nhiều người khẳng định nhưng với thể loại từ cũng

là một sáng tạo độc đáo của ông nhưng chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu Phạm Văn Ánh trong công trình “Thể loại từ Việt Nam thời trung đại: văn bản, tác giả, tác phẩm”, nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội, công

bố 4 bài từ của Phạm Thái là Tây Giang nguyệt 1,2; Nhất tiễn mai 1,2 đều được ghi chép trong truyện Nôm Sơ kính tân trang Theo thống kê, phân loại của Trần Trọng Dương, Phạm Thái có tất cả 6 tác phẩm từ: Tây Giang nguyệt 1,2; Nhất tiễn mai 1,2; Tiễn mai 1,2, bổ sung thêm 2 bài từ được ghi chép trong Châu sơ kim kính lục Đây là 6 bài từ được sáng tác theo 2 điệu phổ biến từ lâu đời của Trung Hoa là Tây Giang nguyệt và Nhất tiễn mai

Phạm Thái để lại cho đời không nhiều tác phẩm nhưng những tác phẩm được ông sáng tác đều thuộc hạng tuyệt bút Chỉ 56 tác phẩm còn lại nhưng trải đều ở nhiều thể loại văn học, có thể loại vay mượn, có thể loại nội sinh… Thể loại nào cũng trở nên nhuần nhụy, tinh tế, đầy sức sống, sức sáng tạo dưới ngòi bút của họ Phạm Có lẽ nội lực của một con người dốc sức dấn thân với đời đã truyền tải vào thơ văn một cách nhiệt thành nên từ câu chữ đến cấu

tứ, nhịp điệu, giọng điệu… đều tạo được giá trị riêng có

Tiểu kết Chương 1

Trên hành trình cuộc đời vỏn vẹn 36 năm của mình, Phạm Thái đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt Ông đặc biệt trong cách nghĩ, cách hành động và cả cách yêu thương Thơ văn Nôm của ông cũng là một trong số những điều đặc biệt ấy Phạm Thái đã cống hiến cho đời những tác phẩm mới mẻ trên các địa

Trang 32

hạt thơ Nôm Đường luật, văn phả khuyến, văn tế, từ khúc, truyện thơ… Ở thể loại nào Phạm Thái cũng để lại nhiều thành tựu Bỏ qua những khác biệt về chính trị, trên con đường sự nghiệp của ông có rất nhiều điều để hậu thế tự hào và học hỏi

Trang 33

Chương 2 CÁC KHUYNH HƯỚNG CẢM HỨNG VÀ CON NGƯỜI CÁ

NHÂN TRONG THƠ VĂN NÔM PHẠM THÁI

2.1 Các khuynh hướng cảm hứng

2.1.1 Cảm hứng thế sự

Văn học dù ở thời đại nào, dù muốn dù không cũng phản ánh những vấn

đề thuộc về đời sống Đặc biệt, đối với những tác gia lớn, tác phẩm của họ luôn

là tấm gương phản chiếu của thời đại Mỗi người một góc nhìn riêng họ đã góp cho cuộc đời những mảnh ghép khác nhau về cuộc đời Trong thơ văn Phạm Thái, ông đã quan sát và phản ánh những vấn đề khác nhau của đời sống con người cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Có những điều ông thốt lên lời khen nhưng cũng có những vấn đề Phạm Thái phê phán một cách mạnh mẽ

Sự rối ren của thời cuộc được Phạm Thái thể hiện rõ nét qua tác phẩm

“Bài văn khao thần ôn dịch”, được làm theo thể biền văn Phạm Thái dựng

lại bức tranh thời cuộc binh đao máu lửa với đủ hạng người, đủ hành trạng, việc làm khác nhau bởi lý tưởng cuộc đời xuôi khiến Có người tốt, kẻ xấu, có

kẻ hiền người ngu, có kẻ tham người trí, có kẻ dũng mưu có phường trộm giặc…Tất cả đều được ông mời về chung một mâm cỗ cúng để thưởng công, hạch tội:

“Kẻ ra tay vực nước chốn nhung trường, thề chí ấy với nước non mà chẳng quản; Người vâng mạng phòng biên nơi thú khổn, phú thân này cho cây cỏ cũng không nề”

Đối với những người có lý tưởng cao đẹp, hành động trượng nghĩa, ăn

ở một lòng được Phạm Thái ngợi ca hết lời:

Đỉnh phú xuân muôn kiếp tạc danh;

Trang 34

Còn những kẻ ăn ở hai lòng, hám lợi đua danh đều bị họ Phạm lên án

và hình phạt cho những kẻ này cũng thật thích đáng:

Kẻ lợi ruồi danh ếch, chốn sông khơi gió thét mưa gầm, đem phách lạc mặc mây sầu trăng ủ”

Gươm Lão Quân, Lục Trí cán vung mây, loài gian ác hai lòng khôn thứ

Bức tranh xã hội những năm tháng loạn lạc rối ren được dựng lên cụ thể, sinh động với những cảnh tượng như bày ra trước mắt Ở đó có những con người quyết tâm dựng nghiệp lớn bảo vệ giang sơn, sẵn sàng xông pha nơi tên bay đạn lạc để cần vương báo chúa:

Kẻ căm gan cho trọn đạo quân thần, gươm trung nghĩa liếc sương nghiêm lóng lánh…

Buồm cần vương cuốn ngược gió nam, cung thủy tổ doành phù âm chạy bắc…

Phụng huyện nọ ai buông búa oán, ngựa tê phong thét động đỉnh Tiêu Sơn; Bảo châu kia kẻ múa gươm thù, cung xạ đẩu bắn lọt ngàn Thiên Lãnh

Ta thấy bóng dáng của Phạm Thái đâu đó qua hình ảnh đẹp của những con người sống cho nghiệp lớn trong mấy câu văn trên Thế đứng của họ, tư tưởng của họ sánh cùng nhật nguyệt, đất trời chứ không thể sánh với thế nhân tầm thường Vì vậy, Phạm Thái sử dụng hình tượng mang tầm vóc vũ trụ để gắn với họ: “gươm trung nghĩa liếc sương nghiêm lóng lánh”, “buồm cần vương cuốn ngược gió nam”, “ngựa tê phong thét động đỉnh Tiêu Sơn”,

“cung xạ đẩu bắn lọt ngàn Thiên Lãnh”… Hành động, sự vật gắn với dũng sĩ đều được đặt trong thế đối xứng với đất trời, sông núi, thiên nhiên kỳ vĩ Đó

là con người lý tưởng trong quan điểm của Phạm Thái và họ cũng là những người đại diện cho thời đại này

Mối tình của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như đẹp và cũng đầy bi kịch bởi sự dày vò của cuộc đời, của thời cuộc Nếu không có cảnh loạn ly,

Trang 35

Phạm Thái cũng thuộc hàng trâm anh thế phiệt, cũng danh gia vọng tộc thì đâu bị ngăn cản tình duyên bởi người mẹ vô tình của Trương Quỳnh Như Nếu không phải phận làm trai trong thời đại rối ren, tranh quyền đoạt lợi giữa các tập đoàn phong kiến, Phạm Thái đã an nhàn thân phận của một đại quan nối gót cha mình Có lẽ chàng đã có mối tình viên mãn với người con gái trong mộng Nếu không phải là con của một cựu thần nhà Lê, không phải nối chí cha mình phục dựng vương triều thì Phạm Thái đã sống trong chăn ấm nệm êm đâu bị kỳ thị bởi người đời, đâu bị mẹ Quỳnh Như xem là mất gốc, mất cội rễ

Ở mảng thơ văn thế sự, Phạm Thái có nhiều phát hiện và lôi ra ánh sáng nhiều kẻ xấu xa lẩn nấp giữa cuộc đời Thơ văn Nôm Phạm Thái đã mang đến những mảng hiện thực độc đáo của xã hội Việt Nam, con người Việt Nam trong những năm tháng thế sự đảo điên cuối thế kỷ XVIII – đầu thế

kỷ XIX Có cùng cái nhìn với những tác giả trào phúng như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phạm Thái cũng có những dòng thơ phê phán hiện thực chùa chiền lúc bấy giờ Ông là người chứng nghiệm đời sống chùa chiền một cách chân thực nhất, vì vậy, ông thấy rõ những con người đang đội lốt thầy tu thực chất như thế nào Ghé chân tại chùa Phật Tích, một ngôi cổ tự nổi tiếng đất Bắc kỳ, ông đã nhận chân ra những kẻ tu hành ở đây không phải bậc chân tu:

Chùa Phật Tích mới gọi là,

Kẻ mềm mại điệu người tha thướt chiều

Tiểu tăng lắm vẻ mỹ miều,

Bẻ bai chiều lịch, dập dìu dáng thanh

(Sơ kính tân trang)

Hình dung của người tu hành qua con mắt của Phạm Thái vẫn còn nguyên vẻ trần tục Họ còn vương vấn đường trần nên vẫn hành xử như

Trang 36

những người trần thế Đã thoát nghiệp trần, dấn thân vào cõi đạo phải sống cho đúng với phận sự tu hành của mình Thế nhưng những con người ở đây vẫn chau chuốt hình hài dáng vóc cho thật thanh lịch để còn lả lơi, tha thướt với người Thực trạng này phản ánh rằng, chốn tu hành không còn linh thiêng như nó vốn phải như thế mà chỉ là nơi trú ngụ của nhiều loại người, vì nhiều mục đích khác nhau Không chỉ ở Phật Tích mà ở Sài Sơn cũng chung tình trạng như thế:

Sài Sơn tựa áng phồn hoa,

Sư huynh chải chuốt, vãi già bẻ bai

Hậu đường thấy bậc đương trai, Long lanh mắt liếc, lả lơi miệng cười

(Sơ kính tân trang)

Nước ta vốn tôn sùng Phật giáo, nhiều người tìm thấy ở đạo Phật sự giải thoát khỏi khổ ải trần tục Vì vậy, chùa chiền được khuyến khích xây dựng, những người tu hành không bị nhà nước kiểm soát Lợi dụng điều đó, rất nhiều người không phải vì mục đích tu hành mà đến đây để trú ngụ thậm chí còn làm những điều sằng bậy Sư huynh, vãi già… cư ngụ nơi chùa chiền nhưng hành vi cợt nhả, thiếu đứng đắn ở hậu đường Đây là điều tối kỵ ở chốn linh thiêng nhưng lại diễn ra như thói thường Ngoài ra, Phạm Thái còn nhìn thấy ở nhiều con người tu hành những thói hư tật xấu của người đời vẫn còn nguyên Đó là thói nát rượu và ong bướm lả lơi Bọn họ cũng có đầy đủ vật dụng của một bậc tu hành:

Mũ ni, gậy trúc, giày rơm, Nâu sồng, áo vải, pháp chàm thốn thưa

Thế nhưng ăn mặc như vậy, họ vẫn không che giấu được tâm hồn trần tục, lửa dục âm ỉ cháy bên trong Nam nhân thì chau chuốt vẻ ngoài tân thời,

nữ nhân thì tâm hồn lơ lửng, chú tiểu cũng với vẻ lơ xơ, luộm thuộm:

Trang 37

Chiều thanh lịch, vẻ trai lơ, Vãi lờ đờ dạng, tiểu lơ xơ tuồng

Tu hành nhờ đức Thế Tôn,

Đã say sưa đạo, lại buồn bồng duyên

(Sơ kính tân trang)

Vậy mới thấy, chốn thiền môn giờ đây đã bị phá hỏng bởi sự buông tuồng, thối nát của người đời Say sưa với đạo nhưng họ cũng không quên vui thú tình duyên Suy cho cùng, Phạm Thái cũng chẳng khác với số đông là mấy, ông cũng mượn chốn tu hành để ẩn thân lánh đời đó thôi Nhưng ông khác họ ở chỗ là còn thấy bất bình trước cảnh ngộ không mấy tốt đẹp này Ông đặt ra câu hỏi đầy trăn trở về thế tục:

Ôi! Nao ôi! Khổ tu hành, Biết Tây phương có tượng hình này không?

Thậm chí ông phơi bày ra cho người đời những gì tận cùng thối nát của chốn cửa thiền:

Chùa nát bét, Bụt đen sì, Tiểu phều bụng gạo, sư phì da rau

Mấy người sãi vãi xấu màu,

Má đen chó đá, mắt sâu sấu sành

Những loài nết quỷ, dạ tinh, Miệng tuy Bồ Tát mà tình Dạ Xoa

Phật về Tây Trúc dầu mà,

Để cho những giống yêu ma quấy chùa?

Thế mà cũng tiếng nam mô, Gớm tuồng thô tục, nhơ trò trần ai!

(Sơ kính tân trang)

Đây là những điều Phạm Thái đã rút ra được từ tháng năm làm sư tăng

Trang 38

cửa Phật và bôn ba tứ phương Ông chứng kiến sự thối nát đến tận cùng của bọn băng hoại nhân cách đội lốt tăng ni Phạm Thái cũng phải cất lời khinh bỉ đối với bọn này Ông cho rằng Phật có lẽ không còn tồn tại ở đất này nữa, nơi chùa chiền chỉ còn giống yêu ma lộng hành, báng bổ Những gì Phạm Thái chứng kiến ở một nơi được người đời tôn sùng như cửa thiền đã cho thấy sự mục ruỗng đến thối nát của thế đạo, nhân sinh Khi nền tảng đạo lý của xã hội không còn vững chắc để điều chỉnh hành vi con người, khi giai cấp lãnh đạo

đã tư mình chà đạp lên những giáo điều thiêng liêng của thế đạo thì những điều giả trá, vô luân được dịp lên ngôi là tất yếu

Đọc tác phẩm Sơ kính tân trang, cũng ở nơi thiền môn, ta thấy được

hiện thực về đời sống của một bộ phận cung nữ hết thời Khi vua băng hà, các cung nữ không có con được xuất cung đều có chế độ bổng lộc của triều đình Tiền của có được có người sống an nhàn với cảnh thú quê nhà, có người dồn tiền của công đức để xây chùa, dựng tháp, đúc tượng, đúc chuông… Con đường tu hành là con đường phổ biến mà hầu hết các cung nữ chọn lựa khi đã

hết thời “Đem thân bồ liễu đổi cành đàn na” (Sơ kính tân trang) Tuy đã thoát

ra ngoài cõi tục nhưng họ vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ yểu điệu, thướt tha, chăm chút của thời xuân sắc: “Kẻ mềm mại điệu người tha thướt chiều” Hiện thực này trong xã hội phong kiến cuối thế kỷ XVIIII đầu thế kỷ XIX diễn ra phổ biến cho thấy sự phát triển vượt bậc của Phật giáo trong đời sống tinh thần quần chúng nhân dân Đồng thời cũng thấy được mặt trái của xã hội phong kiến trong đời sống gia đình, đó là sự bất công đến cùng cực đối với phụ nữ Người phụ nữ phải đánh đổi cả tuổi thanh xuân của mình để phụng

sự cho một người chồng nhiều khi họ còn không biết mặt, đến lúc đã hết thời thì bị vứt ra ngoài đường như một vật phế thải

Từ lâu, xã hội phong kiến coi trọng việc học hành thi cử Nho sĩ là tầng lớp được trọng vọng hơn hết thảy tứ dân Thế nhưng, không phải được trọng

Trang 39

vọng thì tất cả bọn họ đều sống đúng, sống tốt với chức năng, phận vị của mình Trong thực tế đã có rất nhiều Nho sĩ luôn vỗ ngực xưng tên nhưng thực chất chỉ là những kẻ bất tài vô dụng Chính bọn chúng đã làm nhơ nhuốc danh xưng nhà nho:

Người xưng chữ Thánh thơ Tiên, Thơ rông chó chạy, chữ lem cua bò

Vách vôi đen lẻm như tro, Chổi cùn biết mấy, rơm vò biết bao?

Cũng đòi xưng lấy anh hào Chước gì nói phét, lệnh nào cấm đi?

(Sơ kính tân trang)

Mặc dù chỉ điểm qua hình dung của bọn nho sĩ trong vài câu thơ nhưng Phạm Thái đã là toát lên chân thực bộ mặt của bọn chúng Thời nào cũng có những hạng như vậy nhưng khi thói tệ đời suy thì bọn chúng lại càng mọc lên như nấm Chúng ngang nhiên huênh hoang với đời mà không chút xấu hổ, nói phét mà không mảy may hổ thẹn với Thánh hiền Bộ phận này càng được thể hiện rõ hơn trong thơ Nôm trào phúng của Hồ Xuân Hương cùng thời với Phạm Thái và càng được phơi bày nhiều phương diện hơn trong thư văn trào phúng cuối thế kỷ XIX

Bên cạnh việc lột tả chân dung của một bộ phận những kẻ đại diện cho luân thường đạo lý trong xã hội như tăng ni Phật tử, nho sĩ, Phạm Thái còn lên tiếng phê phán những thói hư tật xấu của người đời, cụ thể ông phê phán thói ham mê cờ bạc, nát rượu của những trang nam tử:

Ác lặn xăm xăm tới

Gà kêu lẻn lẻn về Quan ngắn hết, quan dài hết

Ghê!

Trang 40

Một năm mười hai tháng Một tháng ba mươi ngày

Hũ lớn cạn hũ bé cạn Hay!

(Cha con phá nhà, vợ than khóc) Trông lên nhà đổ đoạn

Trông xuống vách tan rồi Cha thế ấy con thế ấy Thôi!

(Giễu người hay đi đánh bạc)

Trong hoàn cảnh đất nước rối ren, cần lắm những kẻ làm trai phải lập thân hành đạo thì những trang nam tử này lại vùi thân vào những tệ nạn xã hội

để quên đi thời thế Gia đình là tế bào xã hội nhưng những tế bào này chẳng

hề lành mạnh thì làm sao xã hội phát triển lành mạnh Người đàn ông là trụ cột gia đình nhưng chẳng làm đúng trách nhiệm của mình làm cho vơ con phải than khóc, bất an Cha chẳng nêu gương tốt làm sao những đứa con có thể thấy đường đúng để đi Phạm Thái đã vẽ nên một bức tranh gia đình hết sức não nùng Ở đó chỉ có những gam màu tối Với cách diễn đạt tưởng như khách quan vô tình nhưng đã nói lên hết thảy nỗi ngao ngán của những kẻ trong cuộc Tất cả kết thúc bằng một từ “Thôi” để thấy rằng chẳng có thể nói thêm lời nào khi nhà đã dột từ nóc

Tình trạng thoái hóa, biến chất ở đông đảo đấng nam nhi, rường cột của nước nhà cũng được Phạm Thái đúc kết cô đọng trong câu đối cảm xuân:

“Tuổi cùng thì là tuổi, tuổi phú quý vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dai cho sướng kiếp, những thì: ngày nay cờ - ngày mai bạc – ngày kia chè rượu, tuổi ngày trước dại vậy, ngày rầy còn dại

mãi, lắm tuổi chỉ cho tốn ải nước cơm trời” (Câu đối cảm xuân)

Ngày đăng: 03/04/2022, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Văn Ân (Biên soạn, 1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
[2] Lại Ngọc Cang (hiệu đính, chú thích, 1960), Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập
Nhà XB: Nxb Văn hóa
[3] Nguyễn Huệ Chi, (1983), Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam: Thời kỳ cổ đại – cận đại, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam: Thời kỳ cổ đại – cận đại
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
[4] Nguyễn Huệ Chi, (1966), "Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán", Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1966
[5] Nguyễn Huệ Chi, (2003), "Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá Quát", Tạp chí nghiên cứu văn học, (8), tr.18-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá Quát
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2003
[6] Nguyễn Huệ Chi (2003), “Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX”, Tạp chí Văn học, (5), tr. 14 – 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2003
[7] Nguyễn Đình Chú (2002), “Hiện tượng văn- sử - triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại”, Tạp chí văn học, (5), Tr. 31 – 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng văn- sử - triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 2002
[8] Lê Quang Chiểu (1903), Quốc âm thi hiệp tuyển, Nxb Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc âm thi hiệp tuyển
Tác giả: Lê Quang Chiểu
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1903
[9] Nguyễn Đình Chú, (2004), Mấy vấn đề cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
[10] Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[11] Xuân Diệu, (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
[12] Sở cuồng Lê Dư (Phiên chú), Trần Trọng Dương (khảo cứu, hiệu chú), Phạm Thái toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thái toàn tập
Nhà XB: Nxb Văn học
[13] Nguyễn Thị Khánh Dư (1995), Phân tích tác phẩm văm học từ góc độ thi pháp học, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văm học từ góc độ thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Dư
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1995
[14] Biện Minh Điền (2004), Vấn đề tác giả và phong cách cá nhân nhà văn trong văn học Việt Nam trung đại, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và phong cách cá nhân nhà văn trong văn học Việt Nam trung đại
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2004
[15] Biện Minh Điền (2005), “Vấn đề phân loại thể loại văn học trung đại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (4), tr.21 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân loại thể loại văn học trung đại Việt Nam”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2005
[16] Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Bộ Giáo dục, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Bộ Giáo dục
Năm: 1968
[17] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[18] Kiều Thu Hoạch (2007), Truyện Nôm: Lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm: Lịch sử phát triển và thi pháp thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[19] Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[20] Nguyễn Phạm Hùng (2007), “Phổ Chiêu thiền sư Phạm Thái và những sáng tác văn học đặc sắc của ông”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, (4), tr. 6-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ Chiêu thiền sư Phạm Thái và những sáng tác văn học đặc sắc của ông”, "Tạp chí Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w