1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM

37 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 265,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG ‘’NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ UEH’’ NĂM 2020 NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG

‘’NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ UEH’’ NĂM 2020

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH

HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

TẠI TP.HCM

Thuộc nhóm chuyên ngành: Kinh tế học - kinh tế phát triển - kinh tế chính trị

TP Hồ Chí Minh, tháng 03/2020

Trang 2

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM

MAIN FACTORS SUCH AS START-UP PROGRAM, ENTREPRENEURSHIP ABILITY AND OPPORTUNITY AWARENESS AFFECTING THE BUSINESS START-UP INTENTION OF STUDENTS IN

HO CHI MINH CITY Trương Thế Hải, Nguyễn Vũ Trang Phượng, Đỗ Thành Đạt, Nguyễn Thị

Uyển Nhi, Đoàn Xuân Thy

Trường Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc các trường đại học trên địa bàn TP.HCM Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 361 sinh viên đang học tập trên địa bàn thành phố, tuy nhiên đã được lọc ra còn 300 khảo sát để đảm bảo tính khách quan cho bài nghiên cứu Bài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu định lượng bằng việc thực hiện các phương pháp nghiên cứu tiền đề, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu, sau đó khảo sát đối tượng nghiên cứu và định lượng hóa các câu trả lời Phương pháp phân tích kiểm định mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 23.0 cũng được sử dụng trong nghiên cứu này, tiếp theo đưa ra kết quả và thảo luận các hướng cải thiện chương trình giáo dục và các chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có ba yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên thành phố, bao gồm chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, cảm nhận năng lực khởi nghiệp bản thân và nhận thức cơ hội Trong đó, yếu tố cảm nhận năng lực bản thân có tác động mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Từ khóa: ý định khởi nghiệp, sinh viên, đại học, địa bàn TP.HCM

Literature review on Ho Chi Minh students’ business start-up intention based on main factors

ABSTRACT

The objective of this study is to identify factors affecting the business start-up intentions of students in Ho Chi Minh City The research data was collected from 361 students studying in this city However, only 300 surveys were carefully chosen to retain a sense of objectivity for this work The study was conducted by quantitative research method, which is conducted by the research method of prerequisite studies, from which to create a research model, then to survey the students and quantify the reponses SPSS 23.0 software was also used in this study to analyze and examine the relationship between these study variables, then we offered the results and discussed the directions to improve the educational program and the strategic policies on the purpose of promoting entrepreneurship intentions for students These findings show that there are three factors that influence student entrepreneurial intentions in the city, including start-up support programs, perceived entrepreneurial ability, and opportunity awareness In

Trang 3

particular, the element of feeling self-ability has a strong impact on the student's intention to start a business.

Keywords: Business start-up intention, students, university, Ho Chi Minh City

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

ABSTRACT 1

MỤC LỤC 3

DANH MỤC HÌNH………4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU……… 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT………6

I- GIỚI THIỆU: 7

II- CƠ SỞ LÝ THUYẾT: 8

1 Các khái niệm nghiên cứu: 8

1.1 Khái niệm về ý định khởi nghiệp: 8

1.2 Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp: 9

1.3 Khái niệm về nhận thức cơ hội: 10

1.4 Các khái niệm về cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân: 11

2 Mối quan hệ giữa các yếu tố: 12

2.1 Mối quan hệ giữa nhận thức cơ hội và ý định khởi nghiệp: 12

2.2 Mối quan hệ giữa cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân và ý định khởi nghiệp: 13

2.3 Mối quan hệ giữa chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, nhận thức cơ hội, cảm nhận năng lực khởi nghiệp: 15

2.4 Mối quan hệ giữa Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp:17 III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ 18

1 Phương pháp và mô hình nghiên cứu: 18

1.1 Phương pháp: 18

1.2 Mô hình nghiên cứu: 18

2 Kết quả nghiên cứu: 19

2.1 Phân tích mô tả: 19

2.2 Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Anpha và phân tích mối quan hệ giữa các biến: 20

2.3 Phân tích hồi qui đa biến: 23

IV- KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN: 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 15

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Kết quả nghiên cứu mẫu 17

Bảng 2: Kiểm tra độ tin cậy 19

Bảng 3: Các thông số mô hình hồi qui 21

Bảng 4: Các số thống kê từng biến trong mô hình 22

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Beta : Hệ số tác động chuẩn hóa

CT : Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp

DN : Doanh nghiệp

ĐH : Đại học

ĐHQG : Đại học quốc gia

ĐHQG HN: Đại học quốc gia Hà Nội

EFA : Exploratory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khám phá

GEM : Global Entrepreneurship Monitor - Chỉ số khởi nghiệp toàn cầu

H1 : Nhận thức cơ hội có mối tương quan dương đến ý định khởi nghiệp củabản thân

H2 : Cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân có mối tương quan dươngđến ý định khởi nghiệp của bản thân

H3 : Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp có mối liên hệ đến nhận thức cơ hội

H4 : Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp có mối liên hệ đến cảm nhận năng lựckhởi nghiệp

H5 : Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp có mối tương quan dương đến ý địnhkhởi nghiệp

KMO : Kaiser – Meyer – Olkin – Chỉ số để xem xét sự thích hợp của phân tíchnhân tố

KN : Ý định khởi nghiệp

NL : Cảm nhận về năng lực khởi nghiệp của bản thân

NT : Nhận thức về cơ hội khởi nghiệp

sig : Significance level – Mức ý nghĩa

SPSS : Statistical Package for Social Sciences – Phần mềm xử lí thống kê dùngtrong ngành khoa học xã hội

TEA : Total Early – stage Entrepreneurial Activity – Mức Hoạt động kinh doanhgiai đoạn đầu

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UEL : Đại học Kinh tế – Luật Thành phố Hồ Chí Minh

VIF : Variance Inflation Factor – Hệ số phóng đại phương sai

YDKN : Ý định khởi nghiệp

Trang 8

I- GIỚI THIỆU:

Theo Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 5/2019, làn sóng khởi nghiệp tính đến hiệnnay vẫn là một trong những nguồn huy động vốn cho nền kinh tế Theo số liệu doTổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa công bố năm 2019, có tới gần

54 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 5 tháng đầu năm 2019, đâycũng là con số cho thấy mức đạt được cao nhất trong 5 năm vừa qua Bên cạnh

đó số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 5 tháng các năm 2015-2019 lần lượtlà: 36 055 DN; 44 740 DN; 50 534 DN; 52 332 DN; 53 998 DN Và cũng theoBáo cáo Chỉ số khởi nghiệp TP.HCM (2017), mức Hoạt động kinh doanh giaiđoạn khởi sự (Total Early-stage Entrepreneurial Activity – TEA) của TP.HCM là

là 23.5%, trong đó tỷ lệ các hoạt động kinh doanh đang khởi sự chiếm 2.8% và tỷ

lệ hoạt động kinh doanh đã mới khởi sự thành công là 20.7% Tuy nhiên, chỉ sốkhởi nghiệp toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor – GEM) với đối tượngnghiên cứu là các hoạt động kinh doanh nói chung, chứ không chỉ đề cập đến đốitượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có đăng ký đầy đủ đã cho thấy tình hìnhkhởi sự kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh đã khả quan hơn, xứng đáng làđầu tàu kinh tế của cả nước, nhưng vẫn còn một số yếu tố bất cập ảnh hưởng tớiquá trình khởi sự và phát triển kinh doanh, như giáo dục về kinh doanh ở bậc phổthông và sau phổ thông, tài chính cho kinh doanh và chương trình hỗ trợ củaChính phủ vẫn còn ở mức kém hơn mức trung bình của những nước thuộc khuvực châu Á và châu Đại Dương Tuy hiện nay các chương trình hỗ trợ khởinghiệp chưa nhiều nhưng rất đa dạng các mô hình chương trình khởi nghiệp tạicác trường đại học như chương trình dự án khởi nghiệp (Pitch Day) của ĐHQG

Hà Nội, cuộc thi khởi nghiệp Business Challenges 2019 của đại học Kinh Tế ĐHQG HN, cuộc thi Dynamic của Đại học Kinh Tế Tp HCM, UEL Startup &Language Space của trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM với chương trìnhkhởi nghiệp Hệ sinh thái Đồng thời, hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có đềxuất nhiều chương trình dạy khởi nghiệp cho các trường đại học và phổ thôngtrung học nhằm cung cấp cho học sinh và sinh viên những kỹ năng, và các thôngtin cần thiết khi khởi nghiệp

-Qua đó có thể thấy rằng, nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên đang là

một hướng nghiên cứu cần thiết nhằm nắm bắt nhu cầu và đưa ra những định

Trang 9

hướng hỗ trợ, chiến lược phát triển hỗ trợ khởi nghiệp phù hợp và đúng địnhhướng Nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về mốiquan hệ giữa chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, nhận thức cơ hội và cảm nhậnnăng lực khởi nghiệp bản thân đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, đặc biệt lànghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh, mộttrong những thành phố kinh tế hàng đầu Việt Nam và đang có số lượng về doanhnghiệp khởi nghiệp sáng tạo hàng năm của Việt Nam.

Vì vậy, bài nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa chương trình hỗ trợ khởinghiệp (Chương trình đào tạo khởi nghiệp, các hoạt động khởi nghiệp, hỗ trợ khikhởi nghiệp) có tác động như thế nào đến cảm nhận năng lực khởi nghiệp bảnthân, cảm nhận cơ hội và ý định khởi nghiệp của các bạn sinh viên trẻ tại thànhphố Hồ Chí Minh Thông qua nghiên cứu này sẽ giúp cho các cơ sở đào tạo cómột chương trình đào tạo chính xác và xác thực hơn đến từng nhóm đối tượngsinh viên giúp đem đến hiệu quả cao hơn trong chất lượng giảng dạy và các cơquan chức năng có liên quan có thể đưa ra những chương trình hỗ trợ dành chocác bạn khởi nghiệp trẻ

Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên hai phương pháp nghiên cứu địnhlượng được thực hiện bằng phương pháp (1) nghiên cứu các nghiên cứu tiền đề

từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu, sau đó (2) khảo sát đối tượng nghiên cứu vàđịnh lượng hóa các câu trả lời và thực hiện phân tích kiểm định mối quan hệ giữacác biến nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 23.0, sau đó đưa ra kết quả và thảoluận các hướng cải thiện chương trình giáo dục và các chính sách chiến lượcnhằm thúc đẩy khởi nghiệp cho sinh viên

1 Các khái niệm nghiên cứu:

1.1 Khái niệm về ý định khởi nghiệp:

Theo Tạp chí Startup Commons (2019), khởi nghiệp kinh doanh là một sự mạohiểm được tiên phong bởi chính những người thành lập nên doanh nghiệp đó,dựa trên một quan điểm hoặc một suy nghĩ rằng điều đó sẽ mang lại cơ hội pháttriển cho doanh nghiệp và sự tác động mạnh mẽ đến xã hội của chính doanhnghiệp đó

Trang 10

Theo Bird (1988), ý định khởi nghiệp được định nghĩa là trạng thái tâm lý củacác cá nhân tác động đến việc hình thành và thiết lập các hình thức hoạt độngkinh doanh Krueger (1993) cho rằng ý định khởi nghiệp là cam kết khởi nghiệpbằng việc lập doanh nghiệp mới Davidsson (1995) định nghĩa ý định khởinghiệp là một trong những yếu tố dự báo xu hướng khởi nghiệp và nó chủ yếuđược quyết định bởi niềm tin cá nhân của những người khởi nghiệp Đối vớiCrant (1996), ý định khởi nghiệp được định nghĩa bởi các đánh giá của cá nhân

về khả năng sở hữu doanh nghiệp của riêng mình Learned (1992) khẳng địnhrằng, ý định khởi nghiệp là sự tương tác của tâm lý và thể chất (tuổi tác, giới tính,v.v ) đặc điểm cũng như kinh nghiệm chuyên môn và kinh doanh TheoSouitaris và cộng sự (2007), ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liênquan đến ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp Hay như Gupta

và Bhawe (2007) định nghĩa, ý định khởi nghiệp là một quá trình định hướngviệc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp Ýđịnh khởi nghiệp là sẵn sàng thực hiện các hoạt động của doanh nhân (Gurbuz vàAykol, 2008) Kuckertz và Wagner (2010) lại cho rằng ý định khởi nghiệp củamỗi người xuất phát từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và

sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình Theo Schwarz

và cộng sự (2009), ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng củasinh viên và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và những ngườiđào tạo

Tóm lại, ý định khởi nghiệp được định nghĩa là sự tự cam kết và thấu hiểu củamột cá nhân, khi cá nhân dự định thành lập một doanh nghiệp hay xây dựngthành công một ý tưởng mới ngành nghề kinh doanh nhất định và chủ động thựchiện nó trong tương lai

1.2 Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp:

Trước hết, phát triển một chương trình hỗ trợ khởi nghiệp nhấn mạnh vào việcnhận diện và định rõ sự đa dạng của kiến thức khởi nghiệp cũng như liên kết cáckiến thức này thành một logic chặt chẽ Nội dung của chương trình được pháttriển phải đáp ứng được nhu cầu tiếp thu kiến thức của người có ý định khởi sự.Quan điểm này được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu (Harper, 1984; Buzzard,1984; Boberg và Kiecker, 1988; Gibb, 1988; Loucks, 1988; Kantor, 1988) Các

Trang 11

nghiên cứu đều chỉ ra việc xem xét kỹ lưỡng ngữ cảnh tiếp thu kiến thức của mỗicác nhân và tập trung vào phát triển các kỹ năng, nguyện vọng để trở thành mộtnhà khởi sự kinh doanh Stephen và cộng sự (2005) đồng quan điểm rằng nhữngchính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với khởi nghiệp bao gồm lập pháp hoặc hỗtrợ Chính phủ là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự định khởi nghiệp Mặc

dù chương trình giáo dục kinh doanh khởi nghiệp đã và đang diễn ra dưới tốc độphát triển một cách nhanh chóng, tuy nhiên vẫn còn có nhiều vấn đề liên quancần phải được giải quyết, ví dụ cụ thể như là cần có thêm nhiều hơn nữa về sựước lượng của các chương trình và các buổi đào tạo kinh doanh (Bechard vàcộng sự, 1998) Những nghiên cứu tiên phong nhất liên quan đến vai trò của hệthống giáo dục trong việc phát triển kinh doanh đã lần đầu tiên được đề xuất bởiShapero và Sokol (1982) Và phải cho đến những năm 1990 thì những nghiêncứu về tầm ảnh hưởng của chương trình giáo dục tác động lên ý định khởi nghiệpmới thực sự đạt đến đỉnh cao Vì vậy, chương trình khởi nghiệp được công nhận

là một yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

1.3 Khái niệm về nhận thức cơ hội:

Theo Shapero và Sokol (1982), ý định khởi lập kinh doanh sẽ bắt đầu khi một

cá nhân tìm kiếm được một cơ hội mà họ cảm nhận có khả năng thực hiện vàmong muốn nắm lấy cơ hội đó Antonites và Vuuren (2005), đã đưa ra nhận địnhrằng tìm kiếm cơ hội được mô tả như sự nhận dạng khoảng trống hay hoàn cảnhthuận lợi trong một thị trường hay môi trường kinh doanh đầy biến động Shane

và Venkataraman (2000), cho rằng, một trong những câu hỏi nghiên cứu mangtính thiết yếu khi khởi nghiệp đó là “tại sao, khi nào và làm thế nào để một vàingười, không phải là những người khác, có thể khám phá và khai thác các cơhội” Phát biểu trên cho thấy những người khởi nghiệp sở hữu các khả năng khácnhau trong việc nhận dạng các cơ hội kinh doanh Để ý định khởi sự doanhnghiệp biến thành hành động mở doanh nghiệp thì cần có yếu tố xúc tác, đóchính là những thay đổi trong cuộc sống con người Sự thay đổi này được biểuhiện dưới dạng tích cực như tìm kiếm được sự hỗ trợ về vấn đề tài chính, tìmđược đối tác tốt, … hoặc dưới dạng tiêu cực như không hài lòng với công việchiện tại, mất việc, thất nghiệp,… Vậy nhận thức cơ hội khởi nghiệp được địnhnghĩa gồm ba quá trình riêng biệt: (1) cảm nhận và lĩnh hội nhu cầu thị trường và

Trang 12

nguồn tài nguyên nhân lực, (2) nhận biết hay khám phá sự “vừa vặn” giữa từngnhu cầu thị trường và nguồn tài nguyên danh nghĩa, và (3) tạo ra một “khônggian” mới giữa nhu cầu riêng biệt và nguồn tài nguyên trong quan điểm mô hìnhkinh doanh Trải qua vài thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố ảnhhưởng đến nhận thức cơ hội như sự sáng tạo (Hills và cộng sự, 1998), sự thúcđẩy (Kuratko và cộng sự, 1997), sự cảnh giác (Gaglio và Katz, 2001), rủi ro(Mullins và Forlani, 2005) và phụ cấp tài chính (Shepherd và DeTienne, 2005).

1.4 Các khái niệm về cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân:

Gardner (1999) cho rằng năng lực của bản thân phải được thể hiện thông quahoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được Với Weinert (2001)năng lực bản thân là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thểnhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xãhội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm vàhiệu quả trong những tình huống linh hoạt Sinh viên khởi nghiệp có năng lực vềkinh nghiệm và kiến thức sẽ giúp họ dễ dàng đạt được mục tiêu mà họ đề ra hoặcquản lí được nhân viên và lãnh đạo Kinh nghiệm chính là những tồn tại kháchquan tác động vào giác quan của con người, tạo ra cảm giác, tri giác, biểu tượng,con người cảm thấy có tác động đó và cảm nhận nó một cách rõ nét, để lại ấntượng sâu đậm, rút ra bài học, vận dụng vào thực tiễn đời sống, hình thành nêncác thái độ giá trị Nabi và Holden (2008) đồng ý rằng với kinh nghiệm cá nhân

và học hỏi về lập nghiệp, họ dần dần chuyển ý định khởi nghiệp thành hoạt độngkhởi nghiệp Gist và Mitchell (2007) cho rằng kinh nghiệm khởi nghiệp chính làkinh nghiệm làm chủ và kinh nghiệm sơ bộ về lĩnh vực mà mình muốn kinhdoanh Theo Devonish và cộng sự (2010) những sinh viên có kinh nghiệm vềkinh doanh được tích lũy trong quá trình học tập sẽ có lợi thế về khởi nghiệp caohơn những người chưa có kinh nghiệm Thêm vào đó, trong quá khứ, kiến thứcđược cho là liên quan đến kinh nghiệm, kĩ năng, tầm nhìn, trí thông minh, thôngtin hay trực giác tùy vào ngữ cảnh của tình huống Kiến thức là niềm tin đúngđắn, mà sau này Nonaka và Takeuchi (1995) đã nâng cao hơn, theo nghiên cứu,kiến thức được định nghĩa như một quá trình năng động của con người để biệnminh niềm tin cá nhân đối với sự thật Với Bell (1973), định nghĩa kiến thức làmột tập hợp các tuyên bố về sự kiện hoặc ý tưởng có tổ chức, trình bày một lý do

Trang 13

phán đoán hoặc một kết quả thí nghiệm, mà được truyền cho người khác thôngqua một số phương tiện giao tiếp dưới hình thức có hệ thống, hay nói chung làđược biết đến một cách khách quan, một tài sản trí tuệ, gắn liền với một tên vàmột nhóm các tên và được chứng nhận bởi bản quyền hoặc một số hình thứccông nhận xã hội khác Còn đối với Davenport và Prusak (1998), kiến thức làmột hỗn hợp về kinh nghiệm khuôn mẫu, giá trị thông tin ngữ cảnh và hiểu biết

về lĩnh vực đó Ngoài ra, Boioisosot (1995) định nghĩa kiến thức là khả năng màxây dựng về thông tin được trích xuất từ dữ liệu hoặc tập hợp các kỳ vọng màngười quan sát nắm giữ liên quan đến một sự kiện Theo ý kiến của Drucker(1993), kiến thức là thông tin mà thay đổi vật hay ai đó bằng việc trở thành nềntảng cho hành động của vật hay người đó hoặc bằng việc giúp cho cá nhân hay tổchức trở nên khác biệt và hành động hiệu quả hơn, hiểu nôm na là kiến thứcchuyên biệt Bandura (1977) cũng đã chứng minh rằng khi trình độ kiến thứccàng rộng thì khả năng làm chủ càng cao Còn Polanyi (1962) là người đầu tiênđịnh nghĩa về kiến thức bằng cách chia kiến thức thành chủ quan hay kháchquan, rõ ràng hay ngầm ẩn Từ đó cho thấy khi mỗi sinh viên khởi nghiệp cầntrang bị cho mình đầy đủ kiến thức ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm giảm rủi

ro khi bắt đầu khởi sự và tăng khả năng thành công của sự nghiệp kinh doanh

2 Mối quan hệ giữa các yếu tố:

2.1 Mối quan hệ giữa nhận thức cơ hội và ý định khởi nghiệp:

Đã có rất nhiều nhân tố chủ chốt đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tớinhận thức được cơ hội và từ đó dẫn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nhữngnhân tố chính đó đã xuất hiện cách đây 3 thập kỉ trước Các nhà kinh tế chấpthuận việc thay đổi trong công nghệ, các công việc xã hội, môi trường chính trị

và nhân khẩu học điều kiện tạo ra tập hợp thông tin mới, sẽ giúp ích trong quátrình khám phá hoặc sáng tạo ra những cơ hội khởi nghiệp mới (Schumpeter,1934; Shane và Venkataraman, 2000) Tỷ lệ thất nghiệp, chênh lệch thu nhập vàcác yếu tố khác được xem xét khi đánh giá điều kiện kinh tế quốc gia Tùy thuộcvào tăng trưởng quốc gia, ảnh hưởng của điều kiện môi trường sẽ thay đổi quátrình nhận biết cơ hội (Ireland và cộng sự, 2003) Casson và Wadeson (2007) đãchỉ ra rằng những thay đổi trong nền kinh tế môi trường làm cho nhận thức cơhội trở nên khả thi hơn, và sự ổn định kinh tế là rất quan trọng để tạo ra một bầu

Trang 14

không khí tích cực cho hoạt động khởi nghiệp (Bosma và Harding, 2007) Và cáchọc giả đã chỉ ra rằng nếu một người mức độ chú ý cao, cơ hội có thể được xácđịnh ngay cả khi không chủ động tìm kiếm chúng hoặc đơn giản là chỉ bằng việctập trung quan sát.

2.2 Mối quan hệ giữa cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân

và ý định khởi nghiệp:

Dựa trên các lý thuyết nghiên cứu về tính cách, thuyết động cơ của Maslow(1970); kết hợp thuyết hành vi hoạch định của Ajzen (1991), để giải thích mốiliên hệ giữa cảm nhận năng lực khởi nghiệp của bản thân và ý định khởi nghiệp.Các lí thuyết này cho thấy rằng, tính cách khác nhau của mỗi cá nhân sẽ ảnhhưởng đến ý định và hành vi của họ, do đó tính cách khác nhau thì ý định khởinghiệp của họ cũng khác nhau (Olmos và Castillo, 2015) Rogers (1951) chorằng thuyết động lực khởi nghiệp giải thích những gì khuyến khích con ngườitheo đuổi lựa chọn nghề nghiệp của họ Ông tranh luận rằng việc tự đánh giá bảnthân sẽ bắt nguồn cho việc xây dựng động cơ khởi nghiệp Theo Timmons vàSpinelli (1999), ở bất kì giai đoạn nào cũng sẽ có những thanh niên trẻ muốn trởthành nhà khởi nghiệp bởi vì rất nhiều lí do, có thể là vì sự nổi bật của doanhnhân thành đạt hay vì đã nghe nói về những nhân vật khởi nghiệp thành công.Carsrud và Brännback (2011), và Shane (2003) cho rằng yếu tố ảnh hưởng đếnhoạt động khởi nghiệp không ai khác chính là động cơ khuyến khích Miller(2012) thấy việc hiểu được động cơ con người như động cơ khởi nghiệp giảithích ai sẽ theo đuổi cơ hội khởi nghiệp Những ai thiếu động cơ khởi nghiệpnhất định không thể tham gia vào hoạt động khởi nghiệp được Điều này đồngnghĩa là sinh viên muốn khởi nghiệp thì phải tìm ra động cơ thúc giục mạnh mẽđến mình, động cơ này tác động trực tiếp lên ham muốn trở thành nhà khởinghiệp thành công của sinh viên Có mối quan hệ giữa tính cách và ý định khởinghiệp Theo Meclelland (1961) thấy rằng sự khác biệt giữa người có ý định khởinghiệp và phần còn lại của xã hội đó là tính cách chấp nhận rủi ro và nhu cầuthành đạt Kirzner (1973) đưa ra ý kiến rằng, người khởi nghiệp là những người

có tính cách nhạy bén nhận ra cơ hội lợi nhuận trong khi người khác không thấy

và tận dụng chúng Luthje và Franke (2003); Linan và cộng sự (2011); Ambad vàDamit (2016) đều tìm thấy, đặc điểm tính cách có ảnh hưởng lớn đến ý định

Trang 15

tham gia phát triển khởi nghiệp Ghasemi và cộng sự (2011) nghiên cứu về sựđồng biến giữa tính cách sáng tạo và mong muốn khởi nghiệp Như vậy, các bạntrẻ có tính cách dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận rủi ro sẽ nắm chắc trong tay

cơ hội khởi nghiệp thành công Linh và cộng sự (2016) cho rằng nhận thức ướcmuốn trong khởi nghiệp và nhận thức đúng đắn trong khởi nghiệp có ảnh hưởngđến ý định khởi nghiệp Haynie và cộng sự (2010) định nghĩa "tư duy khởinghiệp là khả năng trở nên năng động, linh hoạt và tự điều chỉnh trong nhận thứccủa một người để thích ứng với môi trường không chắc chắn và năng động".Thông qua tư duy, suy nghĩ nhà khởi nghiệp sẽ định hình được mục tiêu khởinghiệp của mình, từ đó đề ra các chiến lược, chiến thuật phù hợp Mô hình Wu

và Wu (2008) chỉ ra rằng thái độ về khởi nghiệp và nhận thức kiểm soát hành vi

có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nhiều nghiên cứukhác cũng công nhận rằng thái độ đối với tự làm chủ cũng đóng góp là một trongnhững tiền đề chính đối với ý định khởi sự doanh nghiệp (Franke và Lüthje,2004; Lüthje và Franke, 2003; Krueger và cộng sự, 2000; Thompson, 2009) Hầuhết các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đã nhấn mạnh tiền đề này, bởi vì thái

độ đối với tự làm chủ giải thích về sự đa dạng của nền tảng doanh nghiệp và hoạtđộng khởi sự liên quan đến hành vi (Franke và Lüthje, 2004; Heinonen vàPoikkijoki, 2006; Lüthje và Franke, 2003; Robinson và cộng sự, 1991) Shane vàVenkataraman (2000) chỉ ra rằng sự sẵn lòng khai thác các cơ hội chính là mấuchốt quan trọng về sự khác biệt giữa mỗi người Nghiên cứu của Wenjun Wang(2011) đã chỉ ra rằng, kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý địnhkhởi nghiệp của sinh viên ở Trung Quốc và Mỹ Trong một nghiên cứu của đànông Nhật Bản tự làm chủ, Cheng (1997) tìm thấy kinh nghiệm tự làm trước đâyảnh hưởng đáng kể đến khởi nghiệp Shane (2000) cho rằng kinh nghiệm khởinghiệp giúp nhà khởi nghiệp khắc phục được khó khăn trong quá trình khởinghiệp đồng thời củng cố niềm tin về ý định khởi nghiệp của mình Theo Roxas

và cộng sự (2008), kiến thức về khởi nghiệp tiếp thu được từ một khóa học vềkhởi nghiệp chuẩn sẽ nâng cao ý định khởi nghiệp của cá nhân Lee (2005) phátbiểu rằng tạo lập doanh nghiệp mà không có kiến thức liên quan thì rất nguyhiểm mặc dù cá nhân đó có ý định khởi nghiệp mạnh mẽ đến mức nào Với Li(2009) kiến thức liên quan trực tiếp đến ý định khởi nghiệp, là yếu tố quyết định

Trang 16

thành bại của khởi nghiệp Với Qian và Acs (2013) ý định khởi nghiệp là sự liênkết giữa thế hệ tri thức và kiến thức được truyền tải thông qua khởi nghiệp Liñán(2008) nghiên cứu rằng giáo dục khởi nghiệp cung cấp kiến thức khởi nghiệp và

từ đó nâng cao ý định khởi nghiệp của bạn trẻ Qian và Acs (2003) cho rằng ýđịnh khởi nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phổ biến kiến thức bởi vì nócho phép nhà khởi nghiệp tiềm năng hiểu được kiến thức mới, từ đó họ sẽ đưa raquyết định có nên tạo lập công ty hay không

2.3 Mối quan hệ giữa chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, nhận thức cơ hội, cảm nhận năng lực khởi nghiệp:

Triệu và cộng sự (2005), cho rằng thực tiễn hiện tại trong giáo dục khởi nghiệpđang theo hướng nâng cao sự tự tin của sinh viên có tác động tích cực đến các cơchế liên quan đến năng lực bản thân Ví dụ, việc sử dụng các bài tập mô phỏng

và cạnh tranh tình huống kinh doanh tốt nhất có thể thúc đẩy kinh nghiệm làmchủ Mời các doanh nhân địa phương giảng bài hoặc sử dụng các trường hợpdoanh nhân có uy tín có thể cung cấp cơ hội cho mô hình vai trò hoặc gián tiếpkinh nghiệm Bằng cách đánh giá sinh viên Dự án khóa học hoặc tư vấn cho sinhviên liên quan đến mục tiêu nghề nghiệp của họ có thể phục vụ như một loạithuyết phục xã hội Các hoạt động đào tạo này đã được tổ chức dưới dạng các dự

án, và được thực hiện tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn Nghiên cứu hiệntại cho thấy việc sử dụng một loạt các kinh nghiệm trong học tập để đưa sinhviên đến các tình huống thực tế của Izquierdo và Marc (2008) cho rằng khuyếnkhích học sinh tích cực trong học tập và có cơ hội kinh nghiệm thực hành trongcác tình huống thực tế sẽ cho học sinh biết cách xây dựng năng lực của bản thân.Bằng cách làm như vậy, chúng ta có thể mong đợi rằng các sinh viên tự nỗ lực cóthể gia tăng dần, điều này là có thể khi học sinh có được kinh nghiệm bằng cáchphát triển các kỹ năng phức hợp (Bandura, 1982; Gist, 1987) Tuy nhiên, trongkhi sở hữu các kỹ năng cho thực hiện một nhiệm vụ nhất định là điều cần thiết,mọi người cũng cần có một niềm tin vào khả năng của các sinh viên để thànhcông trong việc hoàn thành một số mục tiêu nhất định (Bandura, 1989) Đổi lại,việc nâng cao năng lực của bản thân, có thể dẫn đến tăng ý định hướng tới mộtmục tiêu Khi Boyd và Vozikis (1994) tranh luận, một người ý định tạo ra mộtdoanh nghiệp mới sẽ mạnh nhất khi người đó có bằng cấp cao về năng lực bản

Trang 17

thân từ kinh nghiệm làm chủ, mô hình vai trò doanh nhân, xã hội thuyết phục vàmức độ cao của việc thiết lập mục tiêu Trong nghiên cứu của Yusof và cộng sự(2007), một hệ thống hỗ trợ, giáo dục và phát triển năng lực quản lý thích hợp cóthể sẽ giúp thành công vì nó cung cấp các kỹ năng và năng lực để sáng lậpdoanh nghiệp và tự làm việc như một sự lựa chọn nghề nghiệp Mohd và cộng sự(2014) đã chỉ ra tầm quan trọng của chuẩn mực xã hội đối với lựa chọn nghềnghiệp của sinh viên Do đó, sinh viên có thể tự kinh doanh sau khi tốt nghiệp vàtrực tiếp nhận hỗ trợ từ xã hội để trở thành doanh nhân Môi trường kinh doanh làmột biến số mang tính thích nghi tác động tới dự định khởi nghiệp của cá nhânqua tương tác với thái độ của cá nhân (Shapero và Soko, 1982) Tuy nhiên, cácnhân tố ngoại cảnh này vừa khích lệ vừa ngăn cản dự định khởi nghiệp của cánhân (Luthje và Franke, 2003) Đã có rất nhiều nhân tố chủ chốt đóng vai tròquan trọng trong việc hướng sinh viên tới nhận thức được cơ hội và từ đó dẫnđến ý định khởi nghiệp của sinh viên, những nhân tố chính đó đã xuất hiện cáchđây 3 thập kỉ trước Các nhà kinh tế chấp thuận việc thay đổi trong công nghệ,các công việc xã hội, môi trường chính trị và nhân khẩu học điều kiện để tạo ratập hợp thông tin mới, trên cơ sở sẽ giúp ích cho quá trình khám phá hoặc sángtạo ra những cơ hội khởi nghiệp mới (Schumpeter,1934; Shane vàVenkataraman, 2000) Tỷ lệ thất nghiệp, chênh lệch thu nhập và các yếu tố khácđược xem xét khi đánh giá điều kiện kinh tế quốc gia Tùy thuộc vào tăng trưởngquốc gia, ảnh hưởng của điều kiện môi trường sẽ thay đổi quá trình nhận biết cơhội (Ireland và cộng sự, 2003) Casson và Wadeson (2007) đã chỉ ra rằng nhữngthay đổi trong nền kinh tế môi trường làm cho nhận thức cơ hội trở nên khả thihơn, và sự ổn định kinh tế là rất quan trọng để tạo ra một bầu không khí tích cựccho hoạt động khởi nghiệp (Bosma và Harding, 2007) Và các học giả đã chỉ rarằng nếu một người có mức độ chú ý cao, cơ hội có thể được xác định ngay cảkhi không chủ động tìm kiếm chúng Bên cạnh đó, doanh nhân cần thông tin vànguồn lực trong quá trình nhận biết cơ hội, có thể đạt được bằng cách sử dụngvốn xã hội (Ardichvili và cộng sự năm 2003)

Cảm nhận về điều kiện khó khăn trong môi trường khởi nghiệp (perceivedentrepreneurship environment barriers): là cảm nhận của một cá nhân về nhữngrào cản có thể gặp phải trong quá trình khởi nghiệp Khi sinh viên cảm nhận rằng

Trang 18

họ sẽ khó vay vốn, khó đưa ra ý tưởng mới, chính sách hiện không thuận lợi choviệc ra đời các công ty khởi nghiệp, dự định khởi nghiệp sẽ thấp (Luthje andFranke, 2003) Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang gặp khókhăn, đã bộc lộ những dấu hiệu phát triển thiếu bền vững, khu vực kinh tế nhànước đã lộ rõ sự yếu kém nghiêm trọng, đóng góp của doanh nghiệp FDI vào quátrình tăng trưởng và phát triển kinh tế nước nhà còn nhiều vấn đề phải xử lý Do

đó, nhà nước cần nhanh chóng và kiên quyết cải cách thể chế theo hướng giảmmạnh thủ tục hành chính, triệt bỏ tệ nạn sách nhiễu doanh nghiệp từ các cơ quancông quyền, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình khởi nghiệp, quá trìnhsản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp được thông suốt và hiệu quả

2.4 Mối quan hệ giữa Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp:

Askun và Yildirim (2011), đã chứng minh rằng các khóa học khởi nghiệp đãảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nghiên cứu của đã ủng hộviệc tạo lập doanh nghiệp thông qua chương trình giáo dục khởi nghiệp TheoRoxas và cộng sự (2008), kiến thức về khởi nghiệp tiếp thu được từ một khóahọc về khởi nghiệp chuẩn sẽ nâng cao ý định khởi nghiệp của cá nhân Ngoài ra,các kỹ năng khởi nghiệp đặc biệt được giảng dạy trong các trường học và thôngqua các chương trình giáo dục dành cho người trưởng thành đặc biệt của các giáoviên quen thuộc với hoạt động khởi nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến khả năngcủa một người tham gia vào việc khởi nghiệp Liñán (2008) nghiên cứu rằng giáodục khởi nghiệp cung cấp kiến thức khởi nghiệp và từ đó nâng cao ý định khởinghiệp của bạn trẻ Bên cạnh đó, với nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982)theo mô hình SEE (Shapero’s entrepreneurial event), chỉ ra rằng nền tảng giađình đóng một vai trò quan trọng trong sự nhận thức khởi sự kinh doanh Cáckhóa học đào tạo khởi nghiệp được công nhận là một trong những yếu tố quyếtđịnh đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Theo Peterman và Kennedy (2003)giáo dục về khởi nghiệp ảnh hưởng đến sự lựa chọn về nghề nghiệp của sinhviên Theo Turker và Sonmez Selçuk (2009), đã chỉ ra rằng giáo dục khởi nghiệp

là một trong những phương pháp hữu hiệu để trang bị cho người học kiến thứccần thiết về khởi nghiệp Theo Roxas và cộng sự (2008), những kiến thức về khởinghiệp được tiếp thu từ các khóa học về khởi nghiệp sẽ nâng cao ý định khởi

Ngày đăng: 01/04/2022, 09:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Phương pháp và mô hình nghiên cứu: 1.1 Phương pháp: - NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM
1. Phương pháp và mô hình nghiên cứu: 1.1 Phương pháp: (Trang 19)
Bảng 1: Kết quả nghiên cứu mẫu - NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM
Bảng 1 Kết quả nghiên cứu mẫu (Trang 20)
Bảng 3: Các thông số mô hình hồi qui - NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM
Bảng 3 Các thông số mô hình hồi qui (Trang 26)
Bảng 4: Các số thống kê từng biến trong mô hình Mod elUnstandardized CoefficientsStandardizedCoeffici ents - NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP, CẢM NHẬN NĂNG LỰC KHỞI NGHIỆP BẢN THÂN, NHẬN THỨC CƠ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM
Bảng 4 Các số thống kê từng biến trong mô hình Mod elUnstandardized CoefficientsStandardizedCoeffici ents (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w