Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBTTN và VQGTrên thế giới, các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng, để quản lý
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Bùi Minh Tân
NGHIÊ N CỨU TÁC ĐỘNG VÀ S Ự PHỤ THUỘC CỦA NGƯỜI
DÂ N ĐẾN TÀ I NGUYÊ N RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊ N NHIÊ N
VÀ DI TÍCH VĨNH CỬU TẠI XÃ PHÚ LÝ , HUYỆN
VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂ M NGHIỆP
Học viên: Bùi Minh Tân Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS.Vũ Nhâm
Hà Nội, 2009
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều thập kỷ qua, thế giới đã nhận thấy rằng, các KBTTN và VQG
có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại lợi ích chotoàn xã hội Các KBT là nơi lưu trữ các vật liệu thiên nhiên cho s ự phát triển củacác ngàn h y tế, nông nghiệp và lâm nghiệp; đồng thời gìn giữ các chức năng tựnhiên của hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa khí hậu, giúp con người được sốngtrong bầu khí quyển trong lành Mặc dù các KBT có tầm quan trọng như vậy,nhưng quản lý các KBT đó đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địaphương, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [22]
Là một nước nhiệt đới với 3/4 diện tích đất đai là đồi núi, trong đó có rừng,Việt Nam rất giàu có v ề đa dạng sinh học Nguồn tài nguyên này không nh ững cóvai trò quan tr ọng đối với toàn xã h ội, có ý ngh ĩa quốc gia, mà cò n là nguồn sinh
kế chủ yếu của con người từ bao đời, đặc biệt đối với các cộng đồng sống trong vàgần rừng Từ năm 1962 đến 2002, Việt Nam đã thành l ập một hệ thống các khuRĐD, gồm có 105 KBTTN và VQG Hầu hết các KBTTN và VQG này n ằm ởvùng núi và là nơi có các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống Vì vậy, để ngănchặn những tác động bất lợi tới TNR và tham gia vào b ảo tồn đa dạng sinh học,các KBTTN và VQG đều phải xây dựng một diện tích bao quanh để bảo vệ, gọi là
bù lại được sự thiếu hụt lớn lao này Chính vì vậy, đã gây ra mâ u thuẫn giữaKBTTN, VQG và cá c cộng đồng địa phương Khi chưa tìm được tiếng nói chung
Trang 3đối với việc bảo tồn TNR thì việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vàorừng như là một tất yếu [13].
KBTTN và DT Vĩnh Cửu được thành lập muộn hơn so với các KBT kháctrong cả nước Ngày 01/01/2005, UBND tỉnh Đồng Nai quyết định thành lậpKBTTN và DT Vĩnh Cửu trên cơ sở của Khu dự trữ thiên nhiên V ĩnh Cửu vớitổng diện tích 68.173,6 ha Do vị trí nằm ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Namdải Trường Sơn qua Đông Nam Bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long Dovậy, hệ động thực vật rừng phong phú ở đây có quan hệ chặt chẽ với hệ động thựcvật của dãy Trường Sơn Nam và miền Đông Nam Bộ Việc thành lập KBT vớichức năng bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn quần thể cây họ Sao Dầu đặctrưng của miền Đông Nam Bộ, bảo đảm tác dụng phòng h ộ cho thủy điện Trị An,phòng h ộ từ xa cho tỉnh công nghiệp Đồng Nai Ngoài ra, KBTTN và DT VĩnhCửu nối liền với VQG Cát Tiên làm thành vùng sinh thái r ộng hơn 130.000 ha và
là môi trường sinh sống cho các loài động vật rừng [25]
Do lịch sử hình thành, KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm trên địa bàn 3 xã Mã
Đà, Hiếu Liêm, Phú Lý , với số hộ sống trong vùng lõi là 908, s ố hộ sống ở vùngđệm là 4.507 hộ Tình hìnhphân bố dân cư như vậy gây khó khăn rất lớn cho côngtác QLBVR [25] Mặc dù nhà nước đã triển khai nhiều chương trình dự án để tạocông ăn việc làm, nâng cao đời sống người dân trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, bảo vệ rừng, nhưng ngần đó chỉ giải quyết tạm thời trong một thời giannhất định Dự án ĐCĐC đồng bào dân t ộc xã Phú Lý đã hoàn thành (2002) nhưngkhông phù h ợp với phong tục tập quán, người dân lại vào rừng lấn chiếm đất làmnhà, canh tác trái phép Nhìn chung các chương trình, dự án chưa giải quyết đượcvấn đế cơ bản đời sống của người dân Vì vậy, việc tác động trái phép vào rừngvẫn tiếp tục xảy ra và dẫn đến làm suy giảm TNR
Các ngành, các c ấp của tỉnh Đồng Nai quan tâm đầu tư cho công tácQLBVR đã cơ bản ngăn chặn nạn phá rừng, nhưng việc xâm hại rừng lén lút v ẫnxảy ra Câu hỏi đặt ra là những nguyên nhâ n nào dẫn đến tình trạng đó? Và có th ể
có gi ải pháp nào làm gi ảm thiểu được những tác động bất lợi của người dân địaphương tới TNR của KBTTN và DT Vĩnh Cửu hay không ?
Trang 4Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi l ựa chọn đề tài nghiê n cứu: “Nghiên cứu tá
c động và s ự phụ thuộc của người dân đến tài nguyên r ừng Khu Bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu tại xã Phú Lý , huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” Giả
thuyết chính được đặt ra cho đề tài này là s ự tác động của cộng đồng có thể manglại giải pháp hữu hiệu về mặt quản lý rừng cũng như nâng cao đời sống của cộngđồng vốn phụ thuộc vào TNR; ngược lại cũng có thể đem lại một kết cục là tàinguyên bị suy giảm cả chất và lượng Theo đó, chiều hướng, hình thức và mức độtác động phụ thuộc vào các điều kiện bối cảnh và quan hệ hai chiều giữa người dân
và TNR Để có đủ cơ sở lý luận khoa học, đề tài này c ố gắng thực hiện việcnghiên cứu một cách có hệ thống ở một trường hợp cụ thể của một cộng đồng vàđặt nó trong bối cảnh quản lý chung của tỉnh, huyện và BQL KBT Chúng tôi hyvọng rằng, cách đặt vấn đề này có th ể cung cấp các thông tin thiết yếu để làm nềntảng xây dựng những giải pháp phù h ợp trong việc quản lý và phát tri ển hệ sinhthái rừng tự nhiên theo hướng bền vững và ổn định, phát huy và khai thác h ết chứcnăng có lợi do chúng mang lại
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc thành lập KBTTN và VQG
Sau nhiều thập kỷ, rừng trên thế giới bị xâm hại dẫn đến diện tích bị thuhep, chất lượng bị giảm sút Cộng đồng thế giới đã có nhi ều biện pháp bảo tồn vàcông tác b ảo tồn rừng đã trở thành vấn đề bức xúc Những qui định về pháp luậtngày càng hoàn thi ện, công tác đầu tư phương tiện, thiết bị, con người được quantâm Mặc dù c ũng rất cố gắng nhưng rừng vẫn bị tàn phá ngày càng tăng
Diện tích rừng trên thế giới vào cuối thập kỷ 20 vào khoảng 4,06 tỷ ha,chiếm khoảng 32% diện tích tự nhiên toàn th ế giới Phân bố theo vùng nhi ệt đới
và ôn đới như sau [16]:
Bảng 1.1: Phân bố rừng theo vùng nhi ệt đới và ôn đới
Diện tích Diện tích rừng (triệu ha)
Sự suy giảm độ che phủ trong vòng 10 n ăm (1980 - 1990), nếu lấy mốc độche phủ của năm 1980 là 100% thì độ che phủ đã thay đổi như sau: các nước đangphát triển là 95,3%; các nước phát triển là 101% và chung toàn cầu là 98,2% [16]
Trang 6Tuy vậy, các KBT đều được thiết lập chủ yếu vì mục đích quốc gia, mà ítnghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Dựa trên mô hìnhcủa Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việcngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR Phươngthức này gọi là biện pháp “rào và ph ạt” Tại các nước Đông Nam Á, phương thứcnày tỏ ra không thích hợp, vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địaphương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi ấy sự phụ thuộc của họvào rừng là rất lớn [18].
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát tri ển đã trởthành vấn đề nổi lên trong các cu ộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những nămgần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường vàPhát triển bền vững ở Rio De Janeiro (Brasin), vấn đề này đã chính thức được công
nh ận, các chính phủ đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của ngườidân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và cácloại tài nguyên thiên nhiên khác [ 11]
Trang 81.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBTTN và VQG
Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT
và VQG khẳng định rằng, để quản lý thành công c ần dựa trên mô hình quản lý g
ắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương ỞKakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQGmột cách hợp pháp mà còn được thừa nhận là chủ rừng của VQG và được tham giaquản lý thông qua các đại diện của họ trong BQL Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫntồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [9], [16]
Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đadạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Lý do để khuyến khích
sự tham gia này là n ỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi cácKBT đã không mang l ại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR vàkinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mớichẳng khác nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có th ể xâm lấn và khaithác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổtruyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệuquả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên
này [18]
Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26% H ơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá
Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành l ập các KBT để bào
vệ diện tích rừng còn l ại Điều này đã dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địaphương với các BQL Một thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thôngqua sự cộng tác” thực hiện tại khu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ởĐông Bắc Thái Lan đã được tiến hành Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản
lý b ền vững tài nguyên là ph ải thu hút sự tham gia của các bên liên quan , đặc biệt
là phải bao gồm cả việc phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làmtăng thu nhập của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên [21])
Trang 9Theo đó, các nguyên t ắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyênthiên nhiên và k ế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992-1996 là
“Khuyến khích người dân cộng tác với Chính phủ trong bảo tồn tài nguyên thiênnhiên thông qua vi ệc đề cao vai trò c ủa các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chínhphủ, từ trung ương đến địa phương; trong việc quyết định các dự án quản lý tàinguyên thiên nhiên c ũng như trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá thành côngcủa dự án này” Nhận rõ sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế xã hội xungquanh KBT, các nhà quy ho ạch quản lý đã bắt đầu đề xuất và thiết lập các vùngđệm để ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào các KBT [18]
Tại Nepan, Apple G.B và Gilmour D.A (1987) khi nghiên cứu kinh nghiệmtác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nepan đã hình thành mốiquan hệ giữa rừng và các h ệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả chorằng, các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bềnvững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất
cứ các dạng che phủ thực vật nào [26]
Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ r ằng:
“Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng,các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định vềchính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lýđối với bảo tồn đa dạng sinh học” [18]
Theo Peluso (1986), tại Indonesia đã công b ố một bản tóm tắt các kết quảcủa việc nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội (LNXH) tại 12 điểm dự án ở Java vàSulawesi Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: rừng sảnxuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều đã được nghiên cứu Sản phẩm là những mặthàng sinh lời được và khó qu ản lý đối với cơ quan lâm nghiệp nhưng có giá trị tolớn đối với nhân dân địa phương Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ởIndonesia cũng ghi nhận rằng: “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặcbiệt là cộng đồng sinh sống bên trong và ph ụ thuộc vào các vùng có tính đa dạngsinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiến quyếtđối với việc thục hiện kế hoạch [18], [26]
Trang 10Bink Man (1988) trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết vềlàng Ban Pong, tỉnh Risaket (Thái Lan) đã chỉ ra rằng, các tầng lớp nghèo phải phụthuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm s ản như củi đun vàhoa quả trong rừng Tuy nhiên, đây là một minh họa rất cần thiết cho việc ngườidân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển[26].
Colfer C.P (1980) trong tác phẩm: “Thay đổi và nông lâm k ết hợp bản địa”tại Đông Kalimamtan, qua mô t ả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận địnhrằng, những sản vật ấy được coi như là những mặt hàng không ph ải trả tiền, aicũng có thể thu lượm được Thế nhưng, những quyền đó không được quy định cụthể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng g ỗ làm nhà, có lúcdùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán [ 26]
Năm 1986, trong tác phẩm “LNXH và hành động của cộng đồng”, các tácgiả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu lànguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung c ấp củi, nơi chăn thả vàchuồng trại cho gia súc Chúng c ũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu vềthức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan tr ọng trong việcbảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc [26]
Theo Gadgil và V.P Vatok (1976) trong tác phẩm: ”Những lùm cây thiêngmiền Tây dãy Ghats ở Ấn độ” cho rằng: Người dân địa phương đã bảo vệ được cácđám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần củalùm cây Vi ệc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hộichuyên về săn bắn và hái lượm Mọi hoạt động lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bịcấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những disản còn l ại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượmmột số sản phẩm như: cây thuốc, lá rụng, gỗ khô, … Việc khai thác gỗ đã bị cấm,nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm [26]
Trang 111.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng
Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh tế đất nước ở những năm đầusau chiến tranh khó khăn Dân số tăng nhanh, nhu cầu về đất canh tác nông nghiệp
về lương thực, nhu cầu về gỗ và LSNG ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân
cư sinh sống giáp rừng và gần rừng của các KBT và VQG, từ đó gây sức ép lênTNR
Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát tri ển các khu RĐD được nhà nước quantâm Việc xây dựng triển khai, thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nướcđược coi trọng Nhưng rừng vẫn bị xâm hại, một trong những nguyên nhân là đờisống người dân sống trong rừng và ven rừng chưa được cải thiện Vì thế, dẫn đến
có nhi ều vi phạm và vi phạm nghiêm trọng vào rừng
Việt Nam đã thành lập các khu RĐD Bắt đầu từ tháng 7/1962, Quyết định
số 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng25.000 ha Các năm sau đó, Chính phủ còn ra các quy ết định thành lập các khurừng cấm Nam Cát Tiên (1978); VQG Cát Bà (197 8); KBTTN Mom Rây-NgọcVin (1982); VQG Côn Đảo (1984); VQG YokDon (1991); KBTTN đất ngập nướcXuân Thủy (1994); KBTTN Tràm Chim Tam Nông (1994)…Ngoài ra, các nhàkhoa học trong và ngoài nước đã phát hi ện nhiều khu rừng có giá trị cao về đadạng sinh học không những đối với Việt Nam mà còn trong c ả khu vực và thế giớinhư: KBTTN Vũ Quang (Hà Tĩnh); Pù Mát (Ngh ệ An); Phong Nha (Quảng Bình);Xuân Liên , Phù Luông (Thanh Hóa )… Từ đó cho đến nay (thời điểm 2006), ViệtNam đã có 128 khu RĐD được thành lập [21]
Công tác b ảo tồn phải được thực thi trên cơ sở các quy định pháp luật LuậtBVPTR sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004 , Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg banhành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc BQL xây dựng các quy định về phạm vi
sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT, VQG Năm
2006, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản
lý r ừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; trong đó quản lý RĐD đượcquy định rất cụ thể:
Trang 12- Rừng đặc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học…
- Trong VQG và KBTTN được chia thành các phân khu ch ức năng như sau:phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ -
hành chính
1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ người dân và TNR
Ở nước ta trong những năm gần đây, các nhà khoa học, nhà quản lý đã chútrọng đến quan điểm bảo tồn – phát triển và nghiên cứu thực hiện các giải pháp giảiquyết mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát tri ển kinh tế - xã hội củangười dân địa phương
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên và các cộng tácviên (1997) đã để cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địaphương vào rừng Các tác giả đã chỉ ra rằng, diện tích rừng già ở miền núi phíaBắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sảnkhác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như lànguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi [1]
Trần Ngọc Lân (1999) và các c ộng sự đã kết luận rằng: Các nông hộ trongvùng đệm KBT Pù Mát có s ự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khaithác lâm s ản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan tr ọng trong tổng thu nhậpcủa mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, songmới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết và có v ốn đầu tư [11]
Đỗ Anh Tuấn (2001) đã thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBT Pù Mát cho
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của bảo tồn tới kế sinh nhai của cộng đồng địa phương
và thái độ của họ về chính sách bảo tồn” Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kếcủa người dân địa phương do sự hưởng lợi của KBT và mức độ chấp nhận của cộngđồng qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và TNR Nghiên cứu đã xác địnhcác tỷ trọng thu nhập từ TNR trong tổng thu nhập chung của thôn, nhưng chưa cụ thểcho từng dân tộc và từng nhóm kinh tế hộ Tác giả cho rằng, hầu hết người dân địaphương vẫn còn s ử dụng TNR một cách hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, 34%tổng thu nhập hằng năm của một hộ gia đình trong
Trang 13vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng b ảo vệ nghiêmngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm gi ảm 30% đến 71,4%diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù
đã có m ột vài chương trình hỗ trợ được thực hiện, nhưng chúng chưa bù lại đượcnhững mất mát do thành lập KBTTN [19]
Các nghiên c ứu thực hiện đã phân tích, đánh giá sự phụ thuộc của cộngđồng địa phương vào rừng và đất rừng, nhưng chưa đưa ra được các giải pháp đểgiảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR Một số nghiêncứu trong những năm gần đây đã để cập đến vấn đề tác động của cộng đồng địaphương tới TNR, nhưng chỉ giới hạn ở tác động của cộng đồng địa phương ở vùngđệm đến các VQG hoặc KBTTN
Nguyễn Thị Phượng (2003) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địaphương vùng đệm đến TNR VQG Ba Vì – Hà Tây ” đã tổng hợp và phân tích hìnhthức tác động và các nguyên nhân tác động Tác giả chỉ ra rằng: cộng đồng ở đâychủ yếu sống bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suấtlúa r ất thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hằng ngày, họ tác động tớiTNR dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa , khai thácsản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc…trong đó hình thức sử dụngđất rừng để sản xuất hàng hóa cho t ỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thunhập của cộng đồng (36,4%) Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tácđộng tới TNR của các dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [15]
Theo Quách Đại Ninh (2003) khi đánh giá tác động của chính sách giao đấtlâm nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình Qua nghiên cứu một số hộgia đình có đất lâm nghiệp và không có đất lâm nghiệp trong địa bàn xã B ắc An,huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; tác giả kết luận rằng: chính sách giao và khoánđất lâm nghiệp đã làm thay đổi nhận thức của người dân vào rừng Sau khi nhậnđất, các hộ gia đình yên tâm s ản xuất và sử dụng đất một cách hợp lý nâng cao thunhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được một số mô hình sảnxuất mà người dân ưa thích, đồng thời phù h ợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế xãhội của vùng nghiên c ứu để các hộ gia đình tham khảo và phát tri ển sản xuất [14]
Trang 14Hoàng Quốc Xạ (2005) với nghiên cứu “Tác động của cộng đồng địaphương đến TNR vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”, đã có s ự kết hợp tốtgiữa phân tích định tính và định lượng trong việc tồ chức các hình thức tác động vànguyên nhân tác động, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác độngbất lợi đến TNR và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của địa phương [22].
Vấn đề giảm đất canh tác của các cộng đồng do hình thành VQG là m ộtthực tế đang diễn ra ở nhiều nơi Nghiên cứu của Đỗ Thị Hà (2002) cho rằng, saukhi thành lập VQG Tam Đảo, đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâmnghiệp tập trung vào một số chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong
hộ gia đình [4]
Với đề tài: “Đánh giá vai trò kinh t ế của lâm sản ngoài gỗ ở hai thôn ngườiDao tại xã Ba Vì” của Trần Ngọc Hải và cộng sự (2002); tác giả cho rằng: lâm sảnngoài gỗ, đặc biệt là nhóm tre hương và cây dược liệu đóng vai trò r ất quan trọngtrong kinh tế hộ gia đình [8]
Tóm l ại, qua các nghiên c ứu về tác động qua lại giữa con người và TNRtrong thời gian qua, đã đề cập đến nhiều mặt khác nhau của vấn đề nghiên cứu
- Trước hết, các nghiên cứu trên thế giới đã phân tích định tính về sự phụthuộc của các cộng đồng dân cư vào tài nguyên, khẳng định cần thiết phải có sự thamgia của người dân vào các ho ạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, còn ít các nghiên cứuđịnh lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân c ụthể dẫn tới những tác động đó
- Tiếp theo, một số nghiên cứu đã phân tích phương pháp lý lu ận và thựctiễn để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và TNR Tuy nhiên, các nghiên cứu tậptrung nhiều ở vùng đệm của các VQG hoặc KBT mà chưa chú ý m ở rộng ở các địaphương khác nhau, loại rừng phòng h ộ, rừng sản xuất
- Mặt khác, các nghiên cứu cũng chưa xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu,chỉ số để đánh giá mức độ tác động của các dân tộc khác nhau, loại hộ khác nhau nêncác gi ải pháp còn chung chung, không t ập trung vào giải quyết những khó khăn thực tếcủa người dân Vì vậy, những vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu trong thời giantới
Trang 16Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài góp ph ần xây dựng cơ sở lý luận bảo tồn và phát tri ển rừng cóngười dân tham gia, giải quyết mối quan hệ giữa người dân sống gần rừng vàTNR; đồng thời là cơ sở khoa học và thực tiễn cho chính quyền địa phương xã Phú
2.2 Đối tượng, giới hạn và nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những diện tích rừng thuộc khu bảo vệ nghiêmngặt hoặc vùng đệm của KBTTN và DT Vĩnh Cửu, mà người dân có thể tác động
và những hộ dân sống giáp rừng hoặc gần rừng thuộc xã Phú Lý đã và đang canthiệp vào TNR vì cuộc sống của họ
2.2.2 Giới hạn và nội dung nghiên cứu
Quan hệ giữa con người và tài nguyên thiên nhiên ở đâu và bao giờ cũng làquan hệ hai chiều Trong khuôn khổ của đề tài chỉ nghiên cứu những tác động bấtlợi của người dân địa phương sống giáp rừng và gần rừng tới diễn biến của TNR
2.2.2.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Người dân sống gần rừng, hoặc do nhận thức đã có tác động có lợi cho rừngnhư nhận khoán bảo vệ rừng, tham gia phòng cháy, tr ực tiếp chữa cháy rừng, tham
Trang 17gia các hoạt động trồng rừng, chăm sóc rừng, tuần tra bảo vệ rừng, tố giác các đốitượng phá rừng… Bên cạnh các hoạt động có lợi, do nhu cầu về cuộc sống, cũng
có các tác động bất lợi tới TNR; thậm chí ảnh hưởng của những tác động bất lợiđối với rừng còn l ớn hơn nhiều so với tác động có lợi, chính nó làm suy giảmTNR Vì vậy, đề tài nghiên c ứu tác động bất lợi nhằm tìm hiểu và phân tíchnguyên nhân tác động, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp giảm thiểu tác động củangười dân tới TNR
Những tác động bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng
nghệ
Hình 2.1: Những yếu tố chi phối tác động bất lợi của người dân tới TNR
Yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội và yếu tố công nghệ đều có chi phối tới nhữngtác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR Trong điều kiện hoàn cảnhngười dân sống gần rừng, nguyên nhân chính dẫn đến tác động vào rừng thường làkhó khăn về kinh tế và các v ấn đề xã hội, yếu tố công nghệ chưa phải là yếu tố ảnhhưởng mạnh đến TNR [17] Theo đó, hướng của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu yếu
tố kinh tế và xã hội là những yếu tố phổ biến, có ảnh hưởng quyết định tới hìnhthức tác động bất lợi của người dân tới TNR Tìm hiểu các tác động bất lợi tớiTNR xuất phát từ nguyên nhân v ề kinh tế - xã hội và đề xuất ra giải pháp về kinh
tế - xã hội để có th ể hạn chế tác động bất lợi tại KBTTN và DT Vĩnh Cửu
2.2.2.2 Nội dung nghiên cứu
(1) Các hình thức và mức độ tác động bất lợi của người dân địa phương đếnTNR
(2) Các nguồn thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ gia đình, quan hệ giữa
thu nhập với các yếu tố thành phần
Trang 18(3) Các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR.
(4) Các giải pháp làm giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Mỗi đề tài khi được nghiên cứu đều phải có cơ sở phương pháp luận của nó,điều đó giúp cho việc nghiên cứu không bị lạc hướng và có cơ sở khoa học.Nghiên cứu đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuy ết hệthống; quan điểm sinh thái nhân văn; quan điểm bảo tồn và phát triển; phươngpháp tiếp cận có sự tham gia
2.3.1.1 Vận dụng lý thuyết hệ thống
Hệ thống được hiểu là cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao g ồm nhiều
bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có t ổ chức và trật tự tồn tại và vậnđộng theo những qui luật thống nhất [10] Mỗi hệ thống luôn bao gồm những hệthống thành phần (nhỏ hơn) hay còn g ọi là hệ thống phụ Mọi sự vật hiện tượngđều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn [17]
Sự tác động của người dân đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế xãhội và tác động tới hệ thống tự nhiên Nó là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi
vì mức độ tác động của người dân gắn liền với các hoạt động kinh tế của con ngườinhư sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác độngnày cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợinhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNRcủa người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có c ủa TNR cũng tác độngmạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính quan hệ chặt chẽ giữa tácđộng của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có th ể làmgiảm thiếu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào các y ếu tố kinh tế.Đây là lý do đề tài nghiên c ứu các nguyên nhân kinh t ế dẫn tới những tác độngbất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên c ứu đề xuất giải pháp kinh
tế để giảm thiếu tác động bất lợi này
Trang 19Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là c ủa con người Sự tác động bị chi phối bởi các yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý th ức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, tập quán sử dụng TNR Sự tác động của người dân địa phương còn ph ụ thuộc vào những vấn đề như thể chế và chính sách, chính sách đối với người dân trong KBT, hệ thống quản lý, việc thực thi luật BVPTR Các tổ chức cộng đồng và những qui định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của người dân địa phương vào TNR Sự hiện diện của chúng sẽ hổ trợ nhànước trong việc tuyên truyền chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thốngnhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Vì vậy, đề tài nghiên c ứu các nguyênnhân xã h ội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu các giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiếu những tác động bất lợi này.
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ chặtchẽ Bất cứ tác động nào từ bên ngoài t ới TNR cũng dẫn đến sự thay đổi các thànhphần và chức năng của hệ thống TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo quiluật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợpvới qui luật tự nhiên và gi ảm thiểu những tác động bất lợi tới nó [21]
2.3.1.2 Quan điểm sinh thái nhân văn
Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trongmỗi hộ gia đình đều rất đa dạng và phong phú Nó ph ản ánh đặc điểm sinh thái vàmối quan hệ kinh tế xã hội Điều này chỉ ra rằng, các hoạt động trong cộng đồngchịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có m ột yếu tố nào đó giữ vai trò quan tr ọngtrong cộng đồng này vào th ời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trongthời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Để nghiên cứu sự tác động bất lợi củangười dân đến TNR, chúng tôi d ựa theo tháp sinh thái – nhân văn của Park, đềxuất năm 1936 (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007 [21])
Theo Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001), mô hình sinh thái
- nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các ho ạt động xã hội củacộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự (hình 2.2):bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức Mô hình
Trang 20này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt độngcủa cá nhân và sự bền vững [12] Dựa trên hình tháp này có th ể giải thích: Quan
hệ giữa tác động bất lợi của người dân đến TNR và phát tri ển kinh tế - xã hội địaphương là quan hệ có xu hướng nghịch; tức là khi kinh tế- xã hội địa phương càngphát triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác b ảo tồnTNR được thực hiện tốt thì tác động bất lợi tới TNR sẽ giảm
Ảnh hưởng
Phát triển
Các nhân tố thích hợp
kinh tế - xã hội địa phương và bảo tồn TNR Tác động
Hình 2B.ậc sinh
thái
-Các yếu tố vănhoá
-Các yếu tố thểchế, chính sách-Các yếu tốkinh tế
-Các yếu tố sinh thái- công nghệ
Hình 2.2: Tháp sinh thái – nhân văn (mô hình của Park, 1936)
- Bậc sinh thái là sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNRđều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội Cơ sởsinh thái được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học và chia làm 2 loại: những yếu tốkhông thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình… và những yếu tố có thểkiểm soát được cần nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học
công ngh ệ
- Bậc kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thịtrường, những nhân tố này có ý ngh ĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tớiTNR
Trang 21- Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng …ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân đến TNR.
- Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức độ cao hơnnữa là văn hóa của các cộng đồng dân cư Mọi tác động của các yếu tố khác có thể làmthay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng
Theo tháp sinh thái nhân văn bất kỳ giải pháp nào nhằm giảm thiểu nhữngtác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát tri ển TNR đều phải dựa trên cơ sở sinhthái và b ảo đảm được các yếu tố về kinh tế xã hội của người dân địa phương [21]
2.3.1.3 Quan điểm bảo tồn – phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và pháttriển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và nh ững nhu cầu phát triển của địaphương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:
- Thứ nhất là, nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thểđáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên s ẽ được giảmbớt và tài nguyên được bảo tồn: cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế
- Thứ hai là, nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nàoquan tâm đến mặt bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng còn chưađược đáp ứng thì trước hết cần phải nổ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để
họ quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: c ách tiếp cận phát triển kinh tế
- Thứ ba là, cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tàinguyên thiên nhiên n ếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc qui hoạch vàquản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này,tài nguyên có th ể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân đượcđáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên m ột cách hợp lý và bền vững:cách tiếp cận tham gia qui hoạch [3]
2.3.1.4 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia định nghĩa như một quá trình, thô ng qua đó các chủ thể cùngtác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quy ết định Điều quantrọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR
Trang 22với các nhà nghiên c ứu, các cơ quan quản lý và ngược lai, các cơ quan này có thểhiểu và đáp ứng các nguyện vọng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độcủa sự tham gia từ thấp đến cao, đó là tham gia có tính chất vận động, tham gia bịđộng, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hổ trợ
từ bên ngoài, tham gia theo ch ức năng, tham gia hổ trợ, tự huy động và tổ chức(dẫn theo Bùi Vi ệt Hải, 2007 [5])
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gi a được áp dụng,trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức
tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) vàphương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thuthập thô ng tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu th ập và phân tíchthông tin của chính người dân địa phương, nên thô ng tin có th ể sử dụng được chonhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên, các gi
ải pháp giải quyết xung đột [5], [10]
2.3.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Đề tài được thực hiện theo các bước như trình bày ở hình 2.3
2.3.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan
- Các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đềnghiên cứu Các văn bản chính sách của tỉnh Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu liên quan đếnvấn đề nghiên cứu
- Các số liệu về dân sinh kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, các báo cáo v ềcông tác qu ản lý bảo vệ rừng, số liệu theo dõi di ễn biến rừng và đất lâm nghiệp đượcthu thập, phỏng vấn tại KBTTN và DT Vĩnh Cửu; UBND huyện Vĩnh Cửu; UBND xãPhú Lý, Phòng th ống kê huyện Vĩnh Cửu; Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai; Hạt Kiểm lâmVĩnh Cửu
- Các tài li ệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu về LNXH được tham khảo trên Internet, tài li ệu có trong và ngoài nước
2.3.2.2 Chọn địa điểm nghiên cứu
Chọn địa điểm nghiên cứu là công vi ệc được thực hiện trước khi điều trathu thập số liệu Nguyên tắc chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu
Trang 23vực nghiên cứu Các tài liệu, số liệu thứ cấp thu thập được là cơ sở cho việc chọn điểm nghiên cứu.
XD vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu nghiên c ứu
Nội dung nghiên cứu
Lựa chọn điểm nghiên cứu
Thu thập thông tin, số liệu
Phân tích số liệu
Giải pháp kinh tế - xã hội
Trang 25Hình 2.3: Các bước thực hiện quá trình nghiên cứu
Theo Donovan và cộng tác viên (1997), tiêu chu ẩn chọn điểm nghiên cứulà: thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên,
Trang 26Lịch 1 có 50 hộ gia đình là để làm rõ h ơn cách thức, tập quán tác động vào
Trang 27TNR có thể có sự khác nhau giữa dân tộc Kinh và dân t ộc Châu-ro Như vậy, sẽ
có tổng cộng 160 hộ gia đình là đối tượng của điều tra và phỏng vấn
Khảo sát và phỏng vấn hộ với số lượng nhiều ở các Lý lịch 1, ấp 1, ấp 2 và
ấp 4 là vì những lý do sau:
- Có nhi ều người dân tộc bản địa, ví dụ ấp Lý Lịch 1 có 115 hộ trên tổng số
382 hộ là người dân tộc Châu-ro
- Có nhi ều hộ tham gia vào các ho ạt động sản xuất lâm nghiệp, cụ thể ấp 1
có đến 120 hộ trong tổng số 241 hộ của xã nhận hợp đồng trồng và chăm sóc rừng
- Sống giáp rừng hoặc gần rừng và phụ thuộc vào rừng như nhận khoán bảo
vệ rừng và chăm sóc rừng Ngoài ra, còn t ác động vào rừng nhiều như chặt cây, lấy gỗ,lấy măng, săn bắt thú rừng
- Có m ối liên kết trong cộng đồng (người dân tộc) khá chặt chẽ, có th ể do quan hệ huyết thống và cũng có th ể do tập quán sinh sống của người dân nơi đây
2.3.2.3 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường
Sử dụng các công cụ PRA để thu thập thông tin và số liệu Những hướng dẫn chi tiết được tham khảo từ các tài liệu [5],[6],[12] Cụ thể là:
- Phỏng vấn Chủ tịch UBND xã Phú Lý, m ột số trưởng ấp, Hạt trưởngKiểm lâm để thu thập thông tin khái quát về tình hình kinh tế xã hội, các hình thức, mức
độ tác động vào TNR, các hổ trợ từ bên ngoài…
- Phỏng vấn hộ gia đình theo bảng câu hỏi bán định hướng Các hộ phỏngvấn chọn theo phương pháp hệ thống - ngẫu nhiên trên cơ sở danh sách hộ gia đình đãthu thập được
- Tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện sau khi hoàn thànhphỏng vấn hộ Nhóm th ảo luận gồm 5 – 7 người đại diện cho các thành phần kinh tế của
ấp Mục đích thảo luận nhằm bổ sung và thống nhất các hình thức và mức độ tác động,nguyên nhân c ủa sự tác động, giải pháp khắc phục và những kiến nghị của cộng đồngtrong việc QLBVR
- Phân tích tổ chức, xác định tổ chức tồn tại có nghĩa trong cộng đồng, thểchế của cộng đồng và sự ảnh hưởng của chúng tới việc quản lý bảo vệ tới việc sử dụngTNR
Trang 282.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
Số liệu thu thập qua bảng câu hỏi bán định hướng, được xử lý và phân tíchđịnh lượng bằng phần mềm Excel 2003 và SPSS 15.0 (Statistical Package forSocial Science) Kết quả xử lý và phân tích được thể hiện theo dạng phân tích, mô
tả bằng bảng và biểu đồ Ngoài ra, các k ết quả thảo luận, các thông tin định tínhnhư chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tíchtheo phương pháp định tính
2.3.3.1 Xác định sự phụ thuộc của người dân địa phương tới TNR bằng phương pháp định tính
Công c ụ hỗ trợ cho xử lý và phân t ích dữ liệu là phần mềm SPSS 15.0 Sốliệu nhập vào bảng tính theo các hàng và các c ột, ở đó hàng là h ộ gia đình và cột
là biến chỉ tiêu Dữ liệu nhập vào là các mã ứng với các mức đã xác định ở bảngcâu hỏi Xác định tỷ lệ hay tần số cho từng vấn đề theo nguyên tắc số đông (tức tần
số gặp nhiều hơn), xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa các biến định tính bằngtrắc nghiệm thống kê Chi-square Ngoài ra:
- Xác định, phân loại và xếp hạng bằng cách cho điểm các giá trị của TNRtheo các nhóm người dân sử dụng TNR, từ đó chọn ra được loại sản phẩm theo từngnhóm để sử dụng và quản lý một cách phù h ợp
- Họp riêng các nhóm liên quan khác nhau để xác định, thảo luận nhữngthuận lợi và khó khăn, các cách thức sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên theoquan điểm hay cách nhìn của họ
2.3.3.2 Xác định thu nhập của người dân địa phương từ TNR bằng phương pháp định lượng
Nhằm xác định mối quan hệ giữa tổng thu nhập của các hộ gia đình với cácbiến số trong khai thác TNR của từng dân tộc Nếu X là đại lượng không ngẫunhiên còn Y là đại lượng ngẫu nhiên thì Y là hàm số phụ thuộc vào X Sự phụthuộc này biễu diễn bởi biểu thức sau: Y = f(X)
Chúng tôi gi ả sử biến phụ thuộc là tổng thu nhập (Y); biến độc lập (X) làthu nhập từ đất lâm nghiệp; thu nhập từ khai thác rừng; thu nhập từ chăn thả giasúc M ối quan hệ giữa biến X và biến Y thường được lượng hóa mức độ chặt chẽ
Trang 29bằng hệ số R Đánh giá sự tồn tại của các quan hệ này có th ể thông qua kết quảANOVA của mô hình hồi qui [7].
Nếu mối quan hệ đó có thể là dạng đường thẳng Y = a + bX, ta có h ệ sốtương quan Pearson (ký hi ệu là r) để xác định mức độ quan hệ Nếu mối quan hệ
đó là các d ạng khác ngoài đường thẳng, ta có h ệ số xác định (ký hi ệu là R2) đểđánh giá múc độ phụ thuộc giữa biến X và biến Y [7],[20]
Trang 30Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ H ỘI
KHU VỰC NGHIÊN C ỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên KBTTN và DT V ĩnh Cửu
3.1.1 Vị trí địa lý
Trang 31KBTTN và DT Vĩnh Cửu có vị trí địa lý như sau:
- Từ 11005’077’’ đến 11030’765’’ vĩ độ Bắc
- Từ 132047’652’’ đến 139005’747’’ kinh độ Đông
Phạm vi ranh giới: KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai, trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm Diện tích tự nhiên 68.173,6ha
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
- Phía Nam giáp xã Tr ị An và hồ Trị An
- Phía Đông giáp Vườn quốc gia Cát Tiên và hồ Trị An
- Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và Bình Dương
3.1.2 Địa hình và đất đai
Nằm trong địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc - Lâm Đồng xuốngvùng địa hình bán bình nguyên của Đông Nam bộ Khu vực phía Bắc, phía Tây vàmột phần phía Đông địa hình gồm nhiều đồi dốc và thấp dần từ Bắc xuống Nam,
về hai phía Đông, Tây Độ cao lớn nhất 368 mét, thấp nhất 20 mét Độ dốc lớnnhất 350, độ dốc bình quân 150 Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống khe suối nhỏ đổvào lòng h ồ Trị An, sông Mã Đà và sông Bé
Có 3 nhóm đất chính:
- Nhóm đất Podzolit phát triển trên phù sa c ổ, phân bố ven sông Đồng Nai,sông Mã Đà và ven hồ thủy điện Trị An, độ cao từ 80 – 100m Đất có màu xám đến xámsáng, có thành ph ần cơ giới cát mịn pha thịt nhẹ đến trung bình, thoát nước, nghèo chấtdinh dưỡng, dễ bị kết von và laterit hóa
- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát tri ển trên sa phiến thạch, là loại đất chủ yếu
và phổ biến trên khu vực, chiếm khoảng 2/3 diện tích KBT, phân bố ở độ cao từ
150 – 250m Loại đất này có độ phì trung bình, tầng đất trung bình, có t ầng kết von chặt hoặc kết von giả hay sỏi kết
- Nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá bazan, có kết cấu thịt trungbình, tầng đất trung bình, độ phì cao tập trung tại vài khu đồi trong khu vực, có độ caokhoảng 100 m
Trang 32Nhìn chung, phần lớn diện tích đất trong vùng có t ầng đất canh tác mỏng, kết von nhiều, nghèo chất dinh dưỡng, đặt biệt rất nghèo các nguyên tố vi lượng.
(Nguồn: Phân viện điều tra qui hoạch rừng, 2000)
3.1.3 Khí hậu và thủy văn
KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ Hàng năm có hai mùa rõ r ệt [26]:
- Mùa khô t ừ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm từ 10 – 15%lượng mưa cả năm; lượng bốc hơi cao chiếm 64 – 67% lượng bốc hơi cả năm và nềnnhiệt cao
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm từ 90% lượng mưa cả năm; nền nhiệt thấp
Lượng mưa trong năm trung bình từ 2.000-2.800 mm, tập trung vào tháng 7, 8,
9 Nhiệt độ trung bình là 26,40C, cao nhất 380C vào tháng 4 và th ấp nhất 220C vàotháng 1 Độ ẩm tương đối từ 80 - 82% Hướng gió chính là Đông Bắc - Tây
Nam
Về hệ thống sông, su ối: phía Bắc và Tây có su ối Mã Đà là ranh giới củaKBTTN và DT Vĩnh Cửu, đồng thời là ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và tỉnh BìnhDương, Bình Phước; nội bộ có các suối Sai, suối Linh, suối Dakinde, suối SaMách, suối Cây Sung, suối Rộp, suối Trao, suối Bà Hào
Về hệ thống hồ: hồ Bà Hào, h ồ Vườn Ươm, hồ thủy điện Trị An cung cấp điện cho các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh
3.1.4 Tài nguyên r ừng
KBTTN và DT Vĩnh Cửu có t ổng diện tích tự nhiên là: 68.173,6 ha Trong
đó, rừng tự nhiên: 52.380,7 ha với các loại rừng chính sau [26]:
Trang 33diện tích còn l ại là rừng hỗn giao tre lồ ô chiếm 10,3%, phân bố chủ yếu trong lâmphần của phân khu Vĩnh An.
Thảm thực vật rừng trong KBTTN và DT Vĩnh Cửu gồm các kiểu rừng và
ưu hợp thực vật sau:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
+ Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới
Với vị trí ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Nam dải Trường Sơn quaĐông Nam Bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long Do vậy, hệ động thực vậtrừng ở đây có quan hệ chặt chẽ với hệ động thực vật của dãy Trường Sơn Nam,miền Đông Nam Bộ và của Việt Nam
- Tài nguyên động vật
Kết quả điều tra thành phần động vật có xương sống trên cạn ở trong
KBTTN và DT Vĩnh Cửu và có 276 loài thu ộc 84 họ, 28 bộ [2]
Nhìn chung, từ năm 1997 do thực hiện quyết định đóng cửa rừng tự nhiên nên hệ thực vật rừng đã từng bước phục hồi về số lượng và chất lượng; đã tạo điều
Trang 34kiện tốt cho sự phục hồi của khu hệ động vật như đảm bảo nơi cư trú, cung cấpthức ăn, mở rộng phạm vi hoạt động
Tuy nhiên, do tình trạng khai thác gỗ, củi và săn bắn động vật rừng trongnhiều năm đã làm suy gi ảm về số lượng các loài cây g ỗ quý hiếm, nhiều loàiđộng vật rừng có nguy cơ diệt vong, nhất là các thú nh ỏ và thú có ph ạm vi hoạtđộng rộng [24]
3.2 Sơ lược tình hình kinh tế - xã h ội KBTTN và DT Vĩnh Cửu
3.2.1 Lịch sử hình thành KBTTN và DT V ĩnh Cửu
Có th ể điểm lại những nét chính lịch sử hình thành KBTTN và DT VĩnhCửu, từ lúc thành lập các lâm trường đến nay đã trải qua 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (từ 1977 đến 1992): Thành lập các Lâm trường Mã Đà, Lâm trường Vĩnh An, Lâm trường Hiếu Liêm và đi vào hoạt động
+ Giai đoạn 2 (từ 1992 đến 1997): Thành lập các Doanh nghiệp nhà nước làcác Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An
+ Giai đoạn 3 (từ 1997 đến 2003): Chuyển các Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An thành loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích
+ Giai đoạn 4 (từ 2004 đến nay): Thành lập Khu Dự trữ thiên nhiên V ĩnhCửu (2004) trên cơ sở sát nhập lâm phần của Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và mộtphần của Lâm trường Vĩnh An Từ tháng 02/2006, đổi tên thành KBTTN và DT VĩnhCửu
3.2.2 Dân s ố, dân tộc và s ự phân bố dân cư
Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế năm 2007, dân cư sinh sống trong vàgiáp ranh KBTTN và DT Vĩnh Cửu gồm 5.415 hộ - 24.180 khẩu, phân theo đơn vịhành chính quản lý như sau:
Trang 35Bảng 3.1: Dân số các xã trong và giáp ranh KBTTN và DT Vĩnh Cửu
3.3 Sơ lược đặc điểm kinh tế - xã h ội xã Phú Lý
3.3.1 Thành phần dân tộc, lao động và hiện trạng phân bố dân cư
Xã Phú Lý thành l ập năm 1976, chủ yếu là người Châu-ro sinh sống Năm
1987 xã được tái thành lập là xã vùng sâu vùng xa , kinh tế kém phát triển Trongquá trình phát triển, nhiều dân di cư tự do từ mọi miền đất nước đến định cư Dântộc Châu-ro sinh sống lâu đời tại đây có tập quán du canh du cư Đến năm 1989,nhà nước tổ chức định cư cấp nhà ở, đất nông nghiệp, giếng nước, điện, … nhưng
do xây dựng cơ sở hạ tầng chưa phù hợp và tổ chức sản xuất chưa có hiệu quả nênmột số hộ đồng bào trở về nhà ở cũ và canh tác theo tập quán truyền thống
Xã Phú Lý có 9 ấp là ấp 1, 2, 3, 4, Lý L ịch 1, Lý L ịch 2, Bầu Phụng, CâyCầy, Bình Chánh Xã có 7 dân t ộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa sốvới 92,2%, dân tộc Châu-ro chiếm 4,2%, dân tộc Khơ Me chiếm 1,4%, dân tộcMường chiếm 1,0%, dân tộc Tày 0,4%, dân t ộc Hoa 0,4% và các dân tộc khác0,4%
Số lao động trong độ tuổi có 6.667 người, chiếm 56,5% tổng số dân của xã;trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 85%, còn l ại là lao động trong cáclĩnh vực buôn bán, dịch vụ và công nhân viên c ủa KBTTN và DT Vĩnh Cửu
Trình độ văn hoá: Số người không biết chữ chiếm 26,1%; số trẻ em chưađến tuổi đi học chiếm 26,1% và số người đọc thông viết thạo chiếm 47,8% và một
số ít có trình độ phổ thông trung học, nhưng chưa qua đào tạo chuyên môn k ỹthuật, lao động chân tay là chính [26]
Trang 363.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Lý
Cơ cấu đất đai của xã Phú Lý bao g ồm 3 loại đất chính là đất lâm nghiệp,
đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp như liệt kê trong bảng 3.3 Trong đó:
Diện tích đất lâm nghiệp do KBTTN và DT Vĩnh Cửu quản lý Đất lâm
nghiệp trong những năm gần đây được quản lý rất chặt chẽ Các hoạt động sản
xuất lâm nghiệp có giao khoán bảo vệ rừng từ năm 1995 – 1998, diện tích 3059,6
ha Các hoạt động sản xuất khác có sử dụng nhân công theo thời vụ là trồng rừng,
chăm sóc rừng, phòng cháy ch ữa cháy rừng KBTTN và DT Vĩnh Cửu chưa tổ
chức được phương án tạo công việc làm ổn định lâu dài cho người dân Đây cũng
là nguyên nhân người dân xâm hại vào rừng như lượm trai cục, hái măng, lồ ô, lá
giang, mây, lá nón, tre, n ấm, cây thuốc để phục vụ nhu cầu trong gia đình
ha, đất lâm nghiệp có di ện tích 23.348,69 ha đất nuôi trồng thủy sản 52,79 ha Đất
tập trung vào các h ộ giàu, nếu chia bình quân cho tổng số hộ 2.652 và 11.629 nhân
khẩu trong toàn xã thì chưa đáp ứng an toàn lương thực cho người dân toàn xã Bên
cạnh, vấn đề thiếu đất canh tác, vốn đầu tư hạn chế, kỹ thuật thâm canh thấp dẫn đến
đời sống người dân khó khăn, thường xảy ra thiếu ăn vào mùa giáp h ạt
Trang 37Hình 3.2: Sơ đồ tài nguyên và hi ện trạng sử dụng đất của xã Phú Lý
3.3.3 Thực trạng hoạt động sản xuất của xã Phú Lý
3.3.3.1 Sản xuất nông nghiệp
Nông nghi ệp là ngành s ản xuất chính, có khoảng 90-95% người dân sốngbằng nghề nông Dân cư trên địa bàn gồm nhiều thành phần từ mọi miền đất nướcđến sinh cơ lập nghiệp, cho nên tập quán canh tác đa dạng mang màu sắc của nhiềumiền khác nhau
Trang 383.3.3.2 Sản xuất lâm nghiệp
Trước đây các Lâm trường giao khoán đất lâm nghiệp cho nhân dân trên địabàn theo Nghị định 01/CP để trồng rừng tự trồng tự hưởng và trồng theo chươngtrình 661 của Chính phủ Loài cây trồng chủ yếu là Tràm bông vàng (trên 90%) vàmột ít diện tích trồng cây Xà cừ, Xoan
- Nhận khoán bảo vệ rừng thuộc dự án 661
KBTTN&DT Vĩnh Cửu giao khoán bảo vệ rừng 3.059,6 ha rừng tự nhiênthuộc TK 31, 47, 58 – Khu vực Vĩnh An cho 15 hộ đồng bào dân t ộc Châu-ro cưngụ tại xã Phú Lý làm công tác b ảo vệ rừng theo chương trình 661
- Hoạt động khai thác lâm sản trái phép
Rất nhiều các hoạt động khai thác, xâm hại tài nguyên c ủa KBT mang tính
cơ hội, nghĩa là người dân không có chủ định trước mà chỉ thực hiện hành vi xâmphạm khi điều kiện thuận lợi Mặc dù đơn vị đã rất cố gắng để tăng cường công táctuần tra, QLBVR nhưng các hoạt động xâm phạm rừng trái phép vẫn còn di ễn ra
3.3.4 Tình hình y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng
Hiện nay, hệ thống y tế tuyến cơ sở đã được Nhà nước quan tâm đầu tư.Trạm y tế xã có 1 phò ng khám đa khoa 16 giường bệnh được xây dựng kiên cố.Tất cả các điểm dân cư sống trên địa bàn gần như không có hệ thống cung cấp
Trang 39nước sạch, chủ yếu sử dụng giếng khoan và một số giếng đào phục vụ cho sinhhoạt gia đình.
Hiện nay, xã có tr ường mẫu giáo, tiểu học; xã còn được đầu tư xây dựngtrường phổ thông trung học (phân hiệu của trường PTTH Trị An) Cơ sở giáo dụctrên địa bàn xã bao gồm: truờng Tiểu học Phú Lý, truờng Tiểu học Bàu Phụng,trường Mẫu giáo (1 trường)
Các trục đường chính trong khu vực bao gồm: đường 761, xuất phát từđường 767 tại chợ Mã Đà vào xã Phú Lý ; đường 322 xuất phát từ ngã 3 Bà Hàođến sông Mã Đà Ngoài ra, còn có trên 200 km đường be nối từ các trục đườngchính đến các chốt trạm Kiểm Lâm và cụm dân cư
Hệ thống điện trong khu vực được Nhà nước quan tâm đầu tư cơ bản,đường điện trung thế đã được đầu tư xây dựng đến trung tâm xã và d ọc trục lộchính (đường tỉnh 761)
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phưong tới TNR
KBTTN và DT Vĩnh Cửu
4.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội xã Phú Lý và các hộ dân điều tra
Bảng 4.1: Điều kiện kinh tế xã hội và tỷ lệ giàu nghèo c ủa xã Phú Lý
tỷ lệ hộ giàu rất thấp (chỉ 5,0%), số hộ có thu nhập trung bình chiếm tỷ lệ là caonhất (71,4%) và tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 1/4 số hộ (23,6%)