Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ Nét đặc trưng vùng văn hóa nam bộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ : NÉT ĐẶC TRƯNG VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ
Mục lục:
PHẦN.I Khái quát chung về Nam Bộ……… ………2
I- Đặc điểm môi trường tự nhiên và xã hội……… ………….2
1 Môi trường tự nhiên……… ……….2
2 Môi trường xã hội……… ………3
II- Đặc điểm về con người Nam Bộ……… ………… 3
PHẦN.II Nét đặc trưng vùng văn hóa Nam Bộ……… ……4
I Đặc điểm vùng văn hóa Nam Bộ……… …4
II Nét đặc trưng văn hóa của các nhóm người chính………5
1 Đặc trưng văn hóa của người Kinh……….5
2 Đặc trưng văn hóa của người Hoa……….11
3 Đặc trưng văn hóa của người Khmer……….14
PHẦN.III Sử dụng những nét đặc trưng văn hóa trong phát triển du lịch…… 17
A ĐÔNG NAM BỘ……… 17
B TÂY NAM BỘ……….23
TÀI LIỆU THAM KHẢO………29
1
Trang 2KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NAM BỘ I-
Đặc điểm môi trường tự nhiên và xã hội:
1- Môi trường tự nhiên:
a Lãnh thổ:
- Trong các vùng văn hóa ở Việt Nam, vùng văn hóa Nam Bộ là vùng có những sắc tháiđặc thù khó lẫn, vừa rất riêng, mà vẫn giữ được tính thống nhất của văn hóa Việt Nam
- Nam Bộ hôm nay là địa bàn thuộc lãnh thổ của các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh
Đông Nam Bộ có diện tích khoảng 26000 km gồm phần đất đồi núi thấp ( phần rìa 2của cao nguyên đất đỏ ) và phần thềm phù sa cổ thuộc lưu vực sông Đồng Nai
Tây Nam Bộ có diện tích khoảng hơn 40000 km , chủ yếu là ĐBSCL, cùng một vài 2dãy núi thấp ở miền tây An Giang, Kiên Giang
b Vị trí địa lý:
- Nam Bộ là vùng đất nằm ở cuối cùng đất nước về phía nam, trọn vẹn trong lưu vực hạlưu của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long
- Nam Bộ là vùng đất cửa sông giáp biển vì nằm gần biển Đông
c Khí hậu và thời tiết:
- Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo
- Khí hậu hình thành trên 2 mùa là mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4)
- Nhiệt độ trung bình năm dao dộng từ 25 – 27ºC
- Nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích
ôn cao
- Biên độ nhiệt ngày và đêm giữa các tháng trong năm thấp và ôn hòa
- Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 – 82%
d Lượng mưa:
- Lượng mưa phân bố không đồng đều dao động từ 1300 – 3000 mm
Giảm dần từ khu vực giáp ranh từ TP Hồ Chí Minh xuống khu vực phía Tây và Tây Nam
Trang 3 Ở khu vực Đông Nam có lượng mưa thấp nhất
Khi xuất hiện cường độ mưa lớn ở những vùng gò cao thường xảy ra hiện tượng xói mòn đất Ở những vùng trũng thấp, mưa lớn kết hợp với triều cường và lũ quét gây ra ngập úng => Ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân trong vùng
e Sông ngòi:
- Đây là vùng đất chằng chịt kênh rạch (có tới 5700 km đường kênh rạch)
- Sông ngòi mang lượng phù sa lớn
- Tuy nhiên hiện tượng biến đổi khí hậu có thể khiến nguồn nước ở các dòng sông bị cạn kiệt, đặc biệt là sông Mê Kông
- Các dòng chảy bị giảm thiểu, sông nước ở hạ lưu chảy chậm
2- Môi trường xã hội :
- Nếu như Trung Bộ, Bắc Bộ là những vùng lịch sử phát triển liên tục thì Nam Bộ trong
sự phát triển lịch sử, lại trải qua sự đứt gãy
- Nền văn hóa Óc Eo biến mất vào cuối thế kỉ VI khiến vùng Nam Bộ rơi vào tình trạnghoang vu hiểm trở
- Làng Việt Nam Bộ có những nét khu biệt, khi đặt trong tương quan với làng Việt Bắc
Bộ: Trước hết tuổi đời làng Việt Nam Bộ còn ngắn, chừng 400 năm là cùng Khác với làng Việt Bắc Bộ vốn cộ gốc gác là các công xã nông thôn, làng Việt Nam Bộ là làng khai phá Dân cư từ nhiều nguồn, nhiều phương trời tụ họp lại, vì thế làng Việt Nam
Bộ sẽ, không có chất kết dính chặt chẽ, quan hệ dòng họ sẽ khác với chính nó ở đồng bằng Bắc Bộ Mặt khác, sự cư trú cúa cư dân Nam Bộ không thành một đơn vị biệt lập với rặng tre quanh làng như ở đồng bằng Bắc Bộ, mà cư trú theo tuyền, theo kiểu tòa tia dọc hai bên bờ kinh rạch, trục lộ giao thông
- Năm 1862 Nam Bộ lại là nơi đầu tiên chịu ảnh hưởng thống trị của người Pháp, với tưcách là vùng thuộc địa của thực dân Pháp, cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Việt - Pháp diễn ra ở Nam Bộ trong hoàn cảnh đặc biệt Nền văn hóa Pháp, vốn có nhiều nétkhác biệt so với nền văn hóa Việt, cũng như của các tộc người khác ở đây Nam Bộ trởthành thuộc địa của người Pháp cho đến năm 1945 Từ năm 1945 đến năm 1975, Nam
Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hết Pháp rồi lại Mỹ Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Nam Bộ trở thành nơi đi trước về sau, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
II- Đặc điểm con người
Đồng bằng Nam Bộ là vùng cư trú của nhiều thành phần dân tộc có nguồn gốc địa phương khác nhau được tụ họp về đây Đây là vùng đất có nhiều tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng tồn tại trong nhân dân, là vùng hội tụ dân cư do những cuộc di dân lớn
3
Trang 4diễn ra hàng thế kỷ tạo nên, vốn có nhiều hệ thống tập quán, phong tục khác nhau kết tinhthành truyền thống văn hoá chung có đặc tính riêng trong văn hoá Việt Nam Nhiều thế
kỷ qua, do những biến cố lớn về mặt kinh tế và xã hội, sự quy tụ dân cư vùng này đã diễn
ra một cách thường xuyên, đó là đặc điểm biến động dân cư ở đồng bằng Nam Bộ Nhiều lớp dân cư đã từ đồng bằng Bắc Bộ, từ các tỉnh duyên hải miền Trung đến lập làng xóm, khai thác đất đai, phát triển nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng nên những cánh đồng lúa Cũng từ đồng bằng sông Cửu Long đã có những lớp cư dân khuếch tán, họ từ những làng xóm của vùng đồng lúa ra đi đến sinh sống ở những vùng đô thị, trước hết là vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn, miền đồi núi, Đông Nam Bộ… Khi đến nơi cư trú mới và định cư lâu dài ở những nơi nói trên, người nông dân đồng bằng Nam Bộ đã trở thành thị dân với những ngành nghề khác nhau, với những đặc tính tâm lý, tình cảm và sinh hoạt riêng Mối quan hệ lịch sử và truyền thống chung của Nam Bộ đã làm cho vùng Đông Nam Bộ tồn tại những đặc thù riêng của khu vực dân cư lớn ở miền nam nước ta
Trong lịch sử và hiện tại đồng bằng Nam Bộ là vùng cư trú của nhiều dân tộc Đó là nơi sinh sống của nhiều lớp cư dân người Việt, người Khmer, người Hoa và người Chăm theođạo Islam Trước thế kỷ XVII, người Khmer và văn hoá Khmer có vai trò chủ thể ở vùng này Từ thế kỷ XVIII trở về sau, người Hoa và văn hoá Hoa có ảnh hưởng lớn đến một sốđịa phương, nhất là những vùng ven biển Cư dân người Việt và văn hoá người Việt đã thực sự trở thành nền tảng căn bản của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long từ đầu thế
kỷ XVIII cho đến tận ngày nay Sự giao tiếp giữa các tộc người và sự tiếp cận giữa những
hệ thống văn hoá khác nhau ở đây đã tạo nên những giao hoán về văn hoá và tiếng nói Hiện tượng song ngữ và đa ngữ, song văn hoá và đa văn hoá trong cùng một tộc người địa phương vẫn còn đang tồn tại trong hiện thực sinh động ngày nay Từ đó tạo nên những nét đặc sắc trong văn hóa người dân Nam Bộ
Ta có thể thấy được những đặc điểm nổi bật của người dân Nam Bộ:
- Người Nam bộ sống rất thật, sống hết mình, sẵn sàng đùm bọc chia sẻ
- Người Nam Bộ có phong cách rõ ràng, dứt khoát
- Nổi bật trong tính cách của người Nam bộ mà người ta thường nhắc đến là, tínhhiên ngang hay dân gian gọi là tính ngang tàng
- Người Nam Bộ vô cùng hào phóng hiếu khách
NÉT ĐẶC TRƯNG VÙNG VĂN
HÓA NAM BỘ
I. Đặc điểm vùng văn hóa Nam Bộ.
Trang 5Nhắc đến Nam Bộ người ta thường nghĩ tới ẩm thực Nam Bộ, chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn, chợ nổi hay đờn ca tài tử Nhưng chính xác, để nói về văn hóa Nam Bộ là nói đến văn hóa các tộc người nơi đây Ngoại trừ các tộc người sống ở ven đồng bằng miền Đông, các tộc người Hoa, Khmer, Chăm, Hoa đều không phải dân bản địa nơi đây Vì thế,văn hóa của họ là vùng văn hóa mới Cho nên, nền văn hóa này vừa có nét giống, lại vừa
có nét khác với vùng văn hóa cội nguồn, của cùng một tộc người Như người Việt, vẫn là tục thờ Thành Hoàng quen thuộc với cư dân trồng lúa nước Nhưng ở Nam Bộ, tục thờ này có những khác biệt về nghi lễ thờ cúng lẫn lễ hội, lẫn kiến trúc nơi thờ cúng Đặc điểm thứ hai của vùng văn hóa Nam Bộ là quá trình giao lưu văn hóa diễn ra với tốc độ mau lẹ Sự tiếp biến xảy ra trước hết giữa các tộc người sinh sống trong cùng một địa bàn Xin cử như người Việt sống cùng với người Khmer, người Việt tiếp thu chiếc bếp
cà ràng dùng cho việc nấu ăn trên đất ẩm, dùng nồi gốm chrăng để kho cá, nấu cơm Mặc khác, Nam Bộ là vùng văn hóa có nhiều tôn giáo tín ngưỡng đan xen tồn tại Nói cách khác đi là diện mạo tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ khá đa dạng và phức tạp Ngoài các tôn giáo lớn du nhập vào như Phật giáo, Tin Lành, Công giáo, Hồi giáo, Nam Bộ còn
là quê hương của các tín ngưỡng địa phương như thờ Tổ tiên, Thổ thần, thờ Thánh hoàng,thờ Mẫu, thờ Neaktà, Arăng, Bản thân từng tôn giáo cũng rất đa dạng Đây cũng chính
là đặc điểm thứ 3 của vùng văn hóa Nam Bộ
Một đặc điểm khác của vùng văn hóa Nam Bộ là sự thay đổi trong thái độ ứng xử với thiên nhiên của người Việt cũng như tộc người khác nơi đây Thể hiện rõ ràng trong ăn, mặc, ở, đi lại
Đặc điểm cuối cùng không thể không nhắc tới là sự phát triển của dòng văn học bác học, nhất là của người Việt nơi đây
Và để tìm hiểu rõ ràng hơn về đặc trưng của văn hóa vùng Nam Bộ, chúng ta cùng tìmhiểu qua những nhóm người chính: Kinh, Khmer, Hoa
II. Nét đặc trưng văn hóa của các nhóm người chính
1 Đặc trưng văn hóa của người Kinh
Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia cắt Việt Nam làm hai, miền Bắc do Việt Minh cai trị, miền Nam sau đó trở thành một quốc gia mới Người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn sinh sống Theo đó, trên 1 triệu người
đã di cư từ Bắc vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo)
Ẩm thực
Ứng xử với thiên nhiên của người Việt có thể coi là thái độ tiêu biểu nhất thể hiện qua việc ăn và mặc PGS,TS Ngô Đức Thịnh từng nhận xét: “Món ăn Nam Bộ là sản phẩm độc đáo của miền đất mới, là kết quả của sự giao tiếp với nhiều dân tộc, với các làng văn
5
Trang 6hóa Đông Tây” Văn hóa của người Việt có cả đặc trưng riêng và sự tiếp thu với các dân tộc khác Nó thể hiện qua những đặc điểm sau:
- Tính hoang dã và hào phóng:
Tính hoang dã thể hiện ở việc người Nam Bộ ăn rất nhiều rau Thường là những loại rau có sẵn ở ao hồ, vườn ruộng Từ các loại rau như: rau đắng, rau dền, rau răm, rau bồ ngót, rau mồng tơi, rau cải xanh, cải trời, tía tô, hành, hẹ… các loại bông như: bông điên điển, bông súng, bông sen, bông so đũa, bông hẹ, bông thiên lý, bông bí… đến các loại lácây, đọt cây như: lá xoài, lá cách, đọt bần, đọt chùm ruột, bồn bồn, đọt xoài, đọt ổi, đọt cơm nguội, đọt chiếc… Đặc biệt, người Nam Bộ thích ăn rau tập tàng (rau thập toàn, bao gồm nhiều loại rau), một cách đối phó, tận dụng môi trường tự nhiên rất thông minh, sángtạo của người dân nơi đây
Đối với thức ăn từ động vật, ngoài các loại cá, tôm bắt ở ao, đìa, người dân Nam Bộ còn ăn còng, cua, ba khía, chuột, cóc, nhái, ếch, rùa, rắn, lươn, le le, dơi… hay một số loài côn trùng như: cào cào, dế…
- Tính dung hợp
Tính dung hợp trong văn hóa ẩm thực Nam Bộ thể hiện trước hết ở sự pha trộn văn hóa
ẩm thực các vùng miền Việt Nam Sợi bún từ miền Bắc, khi vào đến miền Nam, trở nên
to hơn, đặc bột hơn, trở thành món bánh canh Chiếc bánh tráng của miền Trung vào đến miền Nam cũng được thay đổi, thêm nhiều mùi vị hơn, được chế biến theo nhiều cách khác nhau Món bánh xèo khi dừng chân ở vùng đất Nam Bộ cũng to hơn, nhân bánh đa dạng, phong phú hơn, thêm giá, đậu xanh, nước cốt dừa, nhiều tôm thịt, ăn kèm rất nhiều loại rau… Bên cạnh sự phát triển từ văn hóa ẩm thực của người Việt ở Bắc Bộ và Trung
Bộ, ẩm thực Nam Bộ còn chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa ẩm thực của cộng đồng người Khơme, Hoa, Chăm… Tính dung hợp trong văn hóa ẩm thực của người Việt ở Nam Bộ còn thể hiện ở sự ảnh hưởng từ các nền ẩm thực khác như: Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Campuchia… Đây là điểm khác biệt so với văn hóa ẩm thực của người Việt ở miền Bắc Rất nhiều món ăn thức uống có nguồn gốc từ Trung Quốc như: hủ tiếu, phá lấu, chao, hoành thánh… chỉ có mặt ở Nam Bộ, ít xuất hiện ở miền Bắc
- Tính năng động và phá cách:
Điều này thể hiện rõ qua những giá trị văn hóa ẩm thực ở vùng đất Nam Bộ Ẩm thực
có sự gia giảm táo bạo, sẵn sàng cho thêm các phụ gia mới mẻ để làm mới món ăn và làmmới khẩu vị Đây cũng là một điểm khác biệt so với ẩm thực miền Bắc, nơi luôn bảo thủ, nghiêm ngặt trong cách chế biến, sử dụng gia vị Nếu con gà ở miền Bắc không chấp nhận thứ lá nào khác ngoài lá chanh thì con gà ở miền Nam sẵn sàng đón nhận những gia
Trang 7vị khác (lá giang, sả, đinh lăng, rau răm…) Món canh chua cũng có nhiều biến thể khác nhau, tùy vào điều kiện nguyên liệu cụ thể của từng địa phương Món canh chua (cá) của Nam Bộ: canh chua cá lóc, canh chua cá linh bông súng, canh chua cá rô bông điên điển, canh chua cá bông lau, bông so đũa, canh chua cá kèo lá giang, canh chua khô cá sặc, khô
cá dứa… Món bún riêu của người miền Bắc với nguyên liệu đơn giản chỉ là cà chua, cua đồng (có thể thêm đậu hũ chiên) thì bún riêu của người Nam bộ lại có thêm rất nhiều nguyên liệu như: huyết heo, chả, giò heo, ốc
Mặt khác, thiên hưởng trong có cấu bữa ăn của người Việt là nghiêng về chọn các món
có tác dụng giải nhiệt Dừa và các món ăn được chế biến từ dừa chiếm vị thế quan trạng trong các món ăn, chính bất nguồn từ khía cạnh nãy Các loại nước giải khát như nước dừa, nước quả được ưa thích Trà dùng để giải khát, chứ không để thưởng thức như ở BắcBộ
Trang phục
Đã từ rất lâu, áo bà ba được xem như trang phục đại diện cho hình ảnh người nông dân Nam Bộ, đặc biệt là người dân đồng bằng sông Cửu Long Đến nay, vẫn chưa tìm được một tài liệu nào ghi chép chính xác về lịch sử ra đời của chiếc áo bà ba Có hai giải thiết cho rằng áo bà ba xuất hiện từ thời Hậu Lê, được cách tân từ trang phục của người Chăm hoặc do Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang (Malaysia) vào nửa đầu thế kỷ XIX Cũng như áo dài, trước đây, áo bà ba được may rộng để tạo cảm giácthoải mái cho người mặc nhưng đến nay đã được cách tân ôm sát người để tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ
Còn chiếc khăn rằn cũng là hình ảnh hết sức quen thuộc của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long Không rõ nó ra đời từ bao giờ, nhưng nó đã đồng hành cùng những con người thời khai hoang mở cõi phía Nam của Tổ quốc
Theo các nhà nghiên cứu thì chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer và trong quátrình cộng cư của các dân tộc trên vùng đất đồng bằng sông Cửu Long, nó đã được chuyển thành thứ trang phục đặc trưng của nhiều dân tộc khác Chiếc khăn rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng Hai màu này đan chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có lẽ các lằn ngang dọc ấy là gốc gác của tên gọi khăn rằn.Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2m, rộng chừng 40-50cm, không cầu kỳ, sặc sỡ màrất đỗi bình dị, giản đơn Phụ nữ vắt gọn khăn trên đầu, còn đàn ông cột ngang trán, chừa hai đuôi khăn nhô lên đầu, nút khăn nằm ở phía trước Khăn cũng được quàng trên cổ, một đầu thả trước ngực, một đầu thả sau lưng Đôi khi hai đầu được buông xuôi xuống phía trước, đi với bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc trưng rất duyên của cư dân Nam bộ
7
Trang 8Riêng trong các ngày lễ thì trang phục của người dân Nam bộ tề chỉnh, ngay ngắn, lịch
sự hơn Bộ trang phục được xem là lễ phục phổ biến ngày xưa là bộ khăn đóng áo dài may bằng loại vải đắt tiền (thường thì áo dài bằng xuyến hay lương đen, còn quần thì màu trắng bằng lụa hay vải) Bộ trang phục này thường được mặc khi dự lễ cúng đình hay đám cưới, các dịp hiếu hỷ
Trang phục lễ tang thường có màu trắng làm màu chủ đạo, vì đó là màu tang tóc Vải đểmay đồ tang là loại vải thô, thưa mà dân gian thường gọi là vải tám Vải này rất rẻ tiền, không bền, không đẹp, cốt để biểu thị tình cảm của người đang sống đối với người đã khuất với ý nghĩa cha mẹ hoặc ông bà mất rồi, con cái quá đau buồn không thiết đến việc
ăn mặc nữa Áo tang phải được may trở sống ra ngoài Con là nam thì đầu đội mũ rơm,
nữ thì đội mấn, những người họ hàng thân thích thì chỉ quấn vòng khăn tang ngang đầu
Ngôn ngữ
Quá trình tiếp thu được thể hiện rõ nhất là hiện tượng song ngữ, đa ngữ trong vùng.Vốn từ của các tộc người được vay mượn, như người Việt vay mượn vốn từ của ngườiHoa, Khơme và ngược lại Thậm chí, những câu nói, câu hát bình dân có sự pha tạp giữacác ngôn ngữ khác nhau Câu hát “ Trời mưa dít am hoang tùa, a hê phê chuối, xuốt gùathăm em” ( Trời mưa trời tối gió to, anh chèo ghe đến đặng mà thăm em), chính là sự phatrộn tiềng Việt và tiếng Hoa Triều Châu trong giai đoạn từ 1858 đến 1945, quá trình tiếpbiến văn hóa này lại còn diễn ra ở Nam Bộ với một tốc độ mau lẹ hơn giai đoạn trước Sựgiao lưu giữa văn hóa Việt và văn hóa Pháp dù có là cưỡng bức, nó vẫn xảy ra, thì chữQuốc ngữ được ươm mầm và phát triển Đáng chú ý là người Việt đã rất nhanh chóngtiếp thu hứng yếu tố văn hóa này Chữ Quốc ngữ rất nhanh chóng trở thành công cụchuyền tải văn hóa ở Nam Bộ, thay cho chữ Nôm Tầng lớp trí thức mới xuất hiện ở Nam
Bộ và chính họ góp phần thúc đầy quá trình thay đổi chữ viết của văn hóa Nam Bộ, ViệtNam những năm này Đó là việc dùng chữ Quốc ngữ để làm báo như Sương Nguyệt Anh
(báo Nữ giới chung), Lê Hoàng Mưu (báo Lục tính tân văn), Nguyễn Dư Hoài, LươngKhác Ninh (báo Nông cố min demi), dùng chữ Quốc ngữ để sưu tầm, phiên cứu nhưTrương Vịnh Ký, để sáng tác như Trương Duy Toản, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoàng Mưu,Nguyễn Văn Vinh v.v Và không thể không nhắc đến là sự phát triển của dòng văn hóabác học, nhất là của người Việt ở đây đặc biệt là khu vực Bình Dương và Sài Gòn là trungtâm nghiên cứu khoa học và văn hóa lớn Dòng văn hóa bác học ở Nam Bộ từ khi ngườiViệt vào đây lập nghiệp đến nay, quả là một nhân tố quan trọng trong tiến trình văn hóacủa vùng và góp phần rất đáng kể vào diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam
Tôn giáo, tín ngưỡng
Trang 9Đông Nam Bộ là vùng văn hóa có nhiều tôn giáo tín ngưỡng cùng đan xen tồn tại, khá
đa dạng và phức tạp
Phổ biến nhất là thờ Thành hoàng Nam Bộ, theo chân người lưu dân vào Nam Bộ Chính ở đây, tín ngưỡng này thể hiện giản đơn nhưng rõ rệt chức năng quan trọng của nó trong đời sống cư dân Việt Người Việt khai hoang đến đâu, lập ấp đến đâu, và một trong những việc đầu tiên là lập đình thờ Thành hoàng Nhà văn Sơn Nam, người mang tâm hồn Nam Bộ sâu sắc, đã phát biểu: “Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó với cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ, bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng lưu dân tập thể” Trong các lễ tế Thành hoàng Nam Bộ, nhiều nơi có nghi lễ mời vua về phối hưởng Nhà nghiên cứu DiệpĐình Hoa, cho rằng hành vi mời vua về phối hưởng trong lễ tế Thành hoàng ở Nam Bộ dưới thời trực trị của Pháp phản ánh “ý thức về một vùng đất vốn đã có chủ, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa sâu đậm về tính triết lý của chủ nghĩa yêu nước ăn sâu trong tiềm thức”
Bà Đen được thờ nhiều nơi, nhưng nơi thờ chính của Bà ở núi Bà Đen Tây Ninh Lễ vía Bà là một lễ hội lớn, quan trọng nhất trong năm, tiến hành trong 3 ngày, từ mùng 4-6 tháng 5 âm lịch Núi Bà Đen, còn gọi núi Một, núi Điện Bà, là ngọn núi nổi lên giữa đồngbằng Đông Nam Bộ và cũng là núi cao nhất Nam Bộ (gần 1.000 mét), thuộc tỉnh Tây Ninh Gia Định Thành Thông Chí (Quyển 2 Sơn xuyên chí, mục Trấn Biên Hòa, hệ núi Thần Quy) nhắc đến núi Bà Đinh, đây chính là tên cũ của núi Bà Đen Tín ngưỡng Bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu), theo nhiều tác giả, phản ánh sự dung hợp Việt, Chăm, Khmer, Hoa Chẳng hạn, Huỳnh Thiệu Phong cho rằng “Cụ thể hơn, trong văn hóa Chăm, vị nữ thần xứ sở của họ chính là Po Inư Nagar còn được biết đến với tục danh là
bà Đen (Muk Juk) Chính hình tượng này đã kết hợp với vị nữ thần Neang Khmau của người Khmer đã tạo nên hình tượng Linh Sơn Thánh Mẫu ngày nay ”
Kế tiếp là các tôn giáo thờ cúng nhân thần: phổ biến nhất là thờ cúng gia tiên – tổ tiên(tang ma, đám giỗ, cúng việc lề), Quan Thánh Đế Quân (gia đình), Bà Thiên Hậu, Ông Bổn (chùa, miễu), tổ nghề nghiệp Ngoài ra, một số nơi còn thờ cúng Tổ tiên nhân loại (Cửu huyền trăm họ), các danh nhân – anh hùng dân tộc: Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt, Trần Thượng Xuyên, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Đốc binh Kiều, Phan Công Hớn, Thầy Thím, liệt sĩ cách mạng (đền, miễu, dinh), v.v Ngoài ra, từ sau năm 1954, người Việt Bắc Bộ còn đưa vào một vài nơi ở Nam
Bộ (như thành phố Hồ Chí Minh) các tôn giáo thờ cúng nhân thần: Quốc tổ Hùng Vương,Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần, v.v
Đồng cốt, phù thủy, luyện bùa ngải, ma thuật ở Nam Bộ phát triển nhiều hơn ở Bắc Đây cũng là một nét nổi trội của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ Đặc biệt các tín ngưỡng
9
Trang 10này có tiếp thu lẫn nhau giữa người Việt với Khmer, Chăm Vùng Thất Sơn tỉnh An Giang, vùng núi Tà-Lơn bên Campuchia dường như là thánh địa cho những người ẩn tu,
có thể luyện bùa ngải, thư yểm cùng các bài thuốc chữa bệnh Các thầy pháp có khả năng
ếm trù ai đó từ xa bằng cách làm hình nộm nhỏ bằng bột gạo hay sáp, ghi tên tuổi người muốn hại, rồi làm lễ, đọc thần chú, quát mắng hình nộp, đâm kim vào hình nộm; cũng có khi làm hình nộm lớn bằng rơm, cắm tên vào ngực, vào đầu, đánh bằng roi, trôn xuống đất Người ta tin rằng, người bị ếm trù sẽ đau đớn ở bộ phận thân thể tương ứng Các pháp sư có thể luyện gồng là một loại bùa khiến đạn bắn không trúng, được những người tham gia cuộc tấn công phá ngục Sài Gòn năm 1916 nhằm cứu thủ lĩnh Phan Xích Long đeo gồng nhưng vẫn bị bắn chết, bị thương và bị bắt
Thực ra những tín ngưỡng này vốn ở Bắc cũng không ít, nhưng do ảnh hưởng Nho giáo nên nó có phần chìm đi Người Việt vào Nam Bộ, gặp tín ngưỡng này ở người Khmer, niềm tin vốn có vào những tín ngưỡng này có điều kiện bung ra phát triển mạnh hơn Nó trở thành lớp nền trên đó nhiều tôn giáo mới nảy sinh (Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ
Ân Hiếu Nghĩa, đạo Trần Long Hải, Cao Đài, Hòa Hảo, )
Lễ hội
Lễ hội núi Bà Đen- Linh Sơn Thánh mẫu (Tây Ninh)
Hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu bắt đầu từ 20 Tết trở đi và chính hội vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, chính lễ Vía Bà là đêm 18 và ngày 19 tháng giêng Đặc trưng của hội là duxuân, lễ bái cầu mong một năm thịnh vượng Ngoài ra còn một lễ Vía Bà vào ngày mồng
6 tháng 5 âm lịch 0 giờ đêm ngày 5 tháng 5 âm lịch, diễn ra lễ Tắm Bà tại Điện thờ có màn che bên ngoài
Lễ hội đình thần Thắng Tam (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Hàng năm đình thần Thắng Tam tổ chức lễ hội trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch Đây là lễ hội cầu an, là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá
Lễ hội Nghinh Cô (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, hàng chục ngàn người ở khắp cácmiền quê tề tựu về Dinh Cô (thị trấn Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu) tham dự lễ hội Đây
là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân ven biển Nam Bộ
Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)
Đây là tín ngưỡng có nguồn gốc từ người Chăm được người Việt tiếp thu Lễ hội hàng năm diễn ra từ ngày 14 đến 17/8 âm lịch tại xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Hàng năm, tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong
Trang 11“Nam Hải Tướng quân” (Cần Giờ) đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ
để tưởng nhớ công ơn cá "Ông"
Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
Lễ hội Bà Chúa Xứ còn gọi là Vía Bà được diễn ra ở miếu bà tọa lạc tại chân Núi Sam, thành phố Châu Đốc, An Giang Hằng năm lễ được tổ chức vào ngày 23/4 - 27/4 âm lịch nhưng ngày Vía Bà chính là ngày 25/4 vì đây là ngày phát hiện ra tượng bà Hằng năm cứvào mùa lễ thì có hàng trục khách thập phương từ xa đến đây để cúng bái với ý nguyện cầu cho một năm ấm no, mọi tai ương đều qua hết
Lễ Hội Kỳ Yên
Lễ Hội Kỳ Yên còn được gọi là cúng đình, mặc dù các lễ hội không thống nhất với nhau về giờ giắt, ngày tháng, thứ tự và chi tiết nhưng thường được tổ chức vào ngày rằm tháng riêng đến rằm tháng 3 âm lịch và diễn ra xuyên suốt 3 ngày 2 đêm ở các đình làng của mỗi địa phương Với người dân xưa nay, đình làng là nơi thờ các vị thần Thành hoàng được Thượng đế giao cho trách nhiệm cai quản toàn làng xã để che chở phù hộ chodân sống bình yên, làm ăn phát đạt
Nghệ thuật: Đờn ca tài tử
Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi
là tứ tuyệt) Về sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau
Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục Nhạc cụ trong "Đờn ca tài tử" gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, đàn tam, sáo thường là sáo bảy lỗ (phụ họa) Hiện nay có một loại đàn mới do các nghệ nhân Việt Namcải biến là Guitar phím lõm Loại nhạc cụ này được khoét lõm các ngăn sao cho khi đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất (âm cao)
2 Đặc trưng văn hóa của người Hoa
- Người Trung Quốc di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, từ đầuthời kỳ Bắc thuộc
- Vào thế kỷ XVII tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Nam Minh dẫn đến làn sóng người Hoa vào Việt Nam bằng con đường biển
- Đến thế kỷ XIX, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, ChợLớn
11
Trang 12- Khoảng thời gian từ 1939-1945, có một số lượng người Hoa từ Quảng Đông chạy sang Việt Nam lánh nạn khi đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Trung Hoa.
- Năm 1949, lại thêm một số người Hoa chạy sang Việt Nam khi Quốc dân Đảng thua ởlục địa
- Các món từ thịt: Có thể nói thịt là món ăn chủ đạo trong bữa cơm của người Hoa, cũng như trong các ngày giỗ chạy, lễ tết Người Hoa thích ăn loại thịt gia súc, gia cầm, như: bò, heo, gà, vịt… chứ không thích ăn thịt chim, cò… cũng như ít ăn các loại thịt, như: chó, mèo, trâu… Nhưng chủ yếu nhất vẫn là heo, gà, vịt… và họ chếbiến ra rất nhiều món, như: kho xào, nướng, quay… Trong đó, tiêu biểu nhất là heo quay và vịt quay
- Các món từ cá: Người Hoa ít ăn cá hơn ăn thịt Các món ăn từ cá có thể do ảnh hưởng từ người Việt Họ ăn cá lóc kho tiêu, cá lóc chiên chấm với nước mắm gừng, hoặc ướp muối chiên Cá lóc làm khô và mắm cá lóc đặc biệt được người Hoa ưa thích
- Các món canh: Người Hoa ít ăn canh, trong các bữa cơm hàng ngày của họ chỉ là chiên, xào, kho chứ ít có canh Nhưng đôi khi tuỳ theo thời tiết, theo cơ thể mà họ nấu các món canh để bổ dưỡng cho sức khoẻ Đầu tiên phải kể đến món canh thuốc bắc Đây là món canh đặc trưng của người Hoa Nhưng quá trình cộng cư lâu đời với người Việt, người Khơ-me thì ngày nay người Hoa cũng ăn canh som
lo, canh chua bông súng nấu với tép, canh bầu… Có một điều đặc biệt là trong quá trình nấu canh thì các loại rau, củ trong nồi canh thường được người Hoa để cho nhừ chứ không nấu theo kiểu vừa chín tới
- Về thức uống: Người Hoa thích dùng trà hơn rượu và bia, thỉnh thoảng có dùng nước ngọt, cà phê Trà thì có trà sâm, trà thanh nhiệt, trà hoa cúc
Trang phục:
Về trang phục của nữ :
Trang 13- Chiếc áo thân dài quá mông không có túi, cài khuy tết bằng vải bên nách phải, áo
có thể dài tay hay ngắn tay, song hò vạt phải vòng qua bên phải cài nút thắt, cổ áo cao, xẻ vạt hai bên hông
- Quần của phụ nữ người Hoa ống hẹp, cao trên mắt cá chân : quần thường có nối cạp quần và có dây rút
- Màu sắc trang phục (các thiếu nữ thích màu hồng hoặc đỏ) cùng với các màu đậm
- Phụ nữ lao động người Hoa thường đeo một chiếc địu bằng vải để địu con, chiếc địu vải có tua quàng về phía trước
- Phụ nữ người Hoa rất ưa thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá ngọc…), bông tai, dây chuyền…
Về trang phục của nam:
- Cách ăn mặc của nam giới thường dùng quần áo như nam giới các dân tộc Nùng, Giáy, Mông, Dao…
- Nam giới người Hoa thuộc tầng lớp trung lưu thường mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi
- Quần dài màu đen; đi giày gỗ hoặc hài gấm; đội nón quả bí màu đen
- Nam giới người Hoa thuộc tầng lớp bình dân thường mặc loại áo ngắn gọi là “xá xẩu” là áo có hai vạt như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa;
- Quần gọi là “quần tiều”, dài quá đầu gối một chút, ống rộng, thắt lưng bằng dải rút
bỏ lòng thòng
Tôn giáo, tín ngưỡng:
- Tín ngưỡng của người Hoa tại Nam Bộ rất phong phú, đa dạng
- Người Hoa đã tích cực thờ phụng nhiều thần linh trú ngụ thuộc nhiều cảnh giới khác nhau
- Người Hoa thực hành tín ngưỡng nhưng là một dạng tín ngưỡng có pha tạp cả những yếu tố của tam giáo đồng nguyên (Khổng, Phật, Lão)
Lễ hội:
- Cúng cầu an (cầu quốc thái dân an) là một trong những lễ cúng quan trọng của người Hoa tại các ngôi đình làng, cũng được đưa vào tổ chức trong những ngôi đình do người Minh Hương (một bộ phận người Hoa ở vùng Nam Bộ) xây dựng
- Tại các hội quán như Nghĩa Nhuận, Minh Hương Gia Thạnh… đều tiến hành nghi
lễ trong trang phục truyền thống của người Việt là chiếc áo thụng màu xanh dương Nghi thức và văn tế cũng được đọc bằng tiếng Việt
13
Trang 14- Ngày nay, người Hoa chỉ còn duy trì tổ chức lễ diễu hành và đấu thầu đèn lồng tạimột số địa phương, kêu gọi sự đóng góp kinh phí của bà con người Hoa, gây quỹ cho các hoạt động từ thiện-xã hội
Nghệ thuật dân gian:
- Hát Tiều là thể loại ca kịch độc đáo của người Hoa vẫn được bảo tồn, phát triển và thường được biểu diễn vào dịp lễ hội, Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu…
- Văn hóa nghệ thuật người Hoa vừa có sự hội nhập vừa luôn được bảo tồn, phát triển với các loại hình dân ca (hát Quảng, hát Tiều), dân vũ (múa lân - sư - rồng) vàcác loại nhạc cụ truyền thống Trung Hoa rất đặc sắc
3 Đặc trưng văn hóa của người Khmer
Dân tộc Khmer là một trong số những dân tộc đông nhất ở Việt Nam, tập trung đông nhất là trên đất giồng cát, ven sông ở Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang, Trà Vinh, Kiên Giang Dân tộc Khmer có lịch sử lâu đời, với đời sống văn hóa tinh thần phong phú và đặc sắc
Tôn giáo
- Trước khi Phật giáo du nhập, người Khmer có đạo Bà - la - môn Tuy ngày nay đạo Bà-la-môn không còn tồn tại ở xã hội Khmer nhưng những giá trị của nó còn thể hiện ở việc một số vị thần đã được đồng hóa trong tín ngưỡng Neak tà và Arăk
- Hiện nay chủ yếu người Khmer theo đạo Phật ( Phật giáoNam Tông hay Phật giáo Theravada)
Phật giáo Nam tông chỉ tôn thờ Phật Thích ca, không tôn thờ các vị bồ tát Người Khmer dù tu ở chùa hay ở nhà thì họ đều tự coi mình là con của Phật Trong quan niệm của người Khmer thì tu không phải để trở thành Phật mà tu là để làm người
có nhân cách, có đạo đức
Phật giáo Theravada (Phật giáo Nguyên thủy) và tộc người Khmer đã trở thành mộtkhối bền chặt, không thể tách rời Đó là niềm tin, là thế giới quan, là nhân sinh quan của cộng đồng Khmer Những tinh hoa của Phật giáo Theravada được người Khmer xem là những giá trị cần phải vươn tới
- Con trai Khmer, bất kể là ai và có địa vị xã hội như thế nào, nếu muốn được coi là
đủ tư cách, phẩm chất trong xã hội, họ phải trải qua một thời gian tu và học tại chùa Con gái Khmer đếnt tuổi lấy chồng thường chọn những người con trai đã qua tu luyện trong chùa Vì theo họ, đó là những người đã hoàn thành nghĩa vụ và học đượccách làm người, được mọi người trọng vọng