Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người việt – ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người việt – ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người việt – ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI
TIỂU LUẬN
Môn học: Văn hoá Việt Nam và hội nhập quốc tế
ĐỀ TÀI Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt –
Ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này
trong quá trình hội nhập quốc tế
Giảng viên: TS Trần Thị Hồng Thuý, TS Đào Ngọc Tuấn
Nguyễn Bùi Vân Khánh TTQT48C1 1384-
Nguyễn Minh Phương TTQT48C1 1533-
Hà Nội, 11/2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU (Nguyễn Hữ Đức) u 3
NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận (Nguyễn Hữu Đức) 4
1 Khái niệm giao tiếp
2 Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp
3 Các loại văn hoá giao tiếp
II Đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt (Nguyễn Hoà An)
2 Nội dung: Đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt 6
III Tầm ảnh hưởng của những đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt đối với nhận thức và thực tiễn (Nguyễn Minh Dương) 10
IV Ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế
1 Ưu điểm Nguyễn ( Minh Phương) 12
2 Hạn chế (Nguyễn Bùi Vân Khánh) 14
V Đánh giá cá nhân (Nguyễn Hữu Đức) 16
VI Dự đoán xu hướng tương lai (Nguyễn Bích Diệp) 17
LỜI KẾT (Nguyễn Bích Diệp) 20
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Văn hóa giao tiếp là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng
ta, vì nó chính là những mắt xích quan trọng giúp gắn kết các mối quan hệ giữa người với người Văn hóa giao tiếp ứng xử cũng giống như một tấm gương phản chiếu phong cách sống của mỗi con người Chính vì lẽ đó, giao tiếp được coi là một trong những hình thái biểu hiện của văn hóa cá nhân và cộng đồng một cách rõ nét nhất Đặc biệt là trong thời đại công nghệ bùng nổ như hiện nay, khi khoảng cách về địa lý đã không còn là một rào cản lớn ngăn chặn con người xích lại gần nhau, thì tầm quan trọng của giao tiếp đã được đẩy lên một tầng cao mới Nó trở thành một cầu nối vững chắc để các quốc gia và các nền văn hóa có thể dễ dàng hội nhập cùng nhau trên trường quốc tế Cũng chính từ
ý nghĩa to lớn của vấn đề này, việc nghiên cứu văn hóa qua ngôn ngữ đã trở thành một chuyên ngành riêng biệt và độc đáo, có những đóng góp to lớn trong
sự phát triển của ngành văn hóa học Việt Nam Mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận này nhằm cung cấp các kiến thức nền về văn hóa giao tiếp, chỉ ra được
ưu và nhược điểm trong các hình thái giao tiếp của Việt Nam trên trường quốc
tế dựa trên các phương pháp như phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm lịch sử Qua đó, xác định tiềm năng và
định hướng phát triển của văn hóa giao tiếp Việt Nam trong tương lai
Trang 4NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp một trong những phạm trù của tâm lý học, là quá trình thiết lập và là phát triển tiếp xúc giữa các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp gồm các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hành động, thống nhất tri giác hoặc tìm hiểu đối tượng, dựa trên việc sử dụng các dấu hiệu, biểu tượng và các quy tắc giao tiếp mà cả hai bên cùng hiểu
2 Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp
• Chủ thể giao tiếp
• Mục đích giao tiếp
• Nội dung giao tiếp
• Hoàn cảnh giao tiếp
• Kênh giao tiếp
• Quan hệ giao tiếp
3 Các loại văn hoá giao tiếp:
Xét trên hoạt động giao tiếp trong xã hội, ta có thể chia thành ba loại:
3.1 Giao tiếp truyền thống: Giao tiếp được thực hiện trên cơ sở các mối quan
hệ giữa người với người đã được hình thành xuyên suốt quá trình phát triển của
xã hội Loại giao tiếp này được dựa trên những mối quan hệ gắn bó khăng khít như quan hệ huyết thống hay quan hệ giữa hàng xóm láng giềng Đặc điểm của loại giao tiếp này là nó bị chi phối bởi văn hóa tập quán, hệ thống các quan niệm của ý thức xã hội
3.2 Giao tiếp chức năng: Giao tiếp được xuất phát từ sự chuyên môn hóa
trong xã hội, ngôn ngữ… đó là những quy ước, những chuẩn mực, thông lệ
Trang 5chung trong xã hội cho phép mọi người không quen biết nhau, suy nghĩ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau nhưng khi thực hiện những vai trò xã hội, đều sử dụng kiểu giao tiếp đó (quan hệ giao tiếp giữa cô giáo và học sinh, giữa sếp và nhân viên, người bán và người mua)
3.3 Giao tiếp tự do: Là những quy tắc và mục đích giao tiếp không quy định
trước như khuôn mẫu mà nó mang nhiều đường nét cá nhân của người giao tiếp, được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, một mục đích tự thân Nó xuất hiện trong quá trình tiếp xúc tùy theo sự phát triển của các mối quan hệ Giao tiếp tự do rất cần thiết trong quá trình xã hội hóa, vì nó góp phần không nhỏ trong việc phát triển và thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích tinh thần, vật chất của các bên giao tiếp một cách nhanh chóng và hiệu quả Loại hình giao tiếp này khi được áp dụng trong cuộc sống thực tế sẽ trở nên vô cùng phong phú và
hữu ích
II Đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt
1 Giới thiệu chung
Trong quá trình phát triển lịch sử của nhân loại, sự giao tiếp giữa người với người là một yếu tố cần thiết để trao đổi thông tin, xây dựng ý kiến và hội nhập Văn hóa giao tiếp được kế thừa từ thế hệ trước sang thế hệ sau, nó được hoàn thiện dần dần, thay đổi theo thời gian để cuối cùng trở thành những nguyên tắc, chuẩn mực, qui định và truyền thống nhất định của mỗi địa phương Mỗi dân tộc có những tiêu chuẩn đánh giá giá trị đạo đức, thẩm mỹ riêng phù hợp với môi trường sống (điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế và văn hóa) Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc được thể hiện thành tập quán, thói quen, phong tục của xã hội,dân tộc đó Tương tự, Việt Nam – một quốc gia có lịch sử, truyền thống lâu đời có những hình thái biểu đạt văn hóa giao tiếp của cá nhân cũng như cộng đồng rất rõ nét và có 6 đặc trưng cơ bản
Trang 62 Nội dung: Đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt
2.1 Thái độ giao tiếp: Vừa cởi mở vừa rụt rè
Người Việt Nam thường có lối sống phụ thuộc vào nhau, đề cao tính cộng đồng và rất coi trọng các mối quan hệ Phong thái này là một truyền thống lâu đời, bắt nguồn từ văn hóa làng xã Từ xưa cho đến nay, những ngôi nhà ở Việt Nam hay được quy hoạch theo từng khu đất nhỏ Chính vì vậy, người Việt thường có môi trường sống và giao tiếp theo không gian văn hóa khép kín (làng xã) Con người Việt Nam có tinh thần yêu nhà, yêu làng, yêu nước (bởi lối sống định cư, quần tụ) Điều này khiến mỗi cá nhân sẽ có xu hướng cảm thấy thân quen, thoải mái hơn trong cộng đồng mà họ đã quen thuộc ở những khía cạnh như cách nói chuyện, quy tắc ứng xử Cũng từ đó, khi vượt ra khỏi cộng đồng thân thuộc mang tính thứ bậc ấy, tiếp xúc với người lạ thì họ thường sẽ trở nên
bỡ ngỡ, lúng túng (do không định vị chính xác được vị thế của bản thân và những quy tắc ứng xử ở môi trường mới) Lúc này, họ dễ có thể mất tự chủ, tự khép mình hơn và không dám bộc lộ những suy nghĩ, tư tưởng cá nhân do e
ngại bị đánh giá, suy xét
Tuy nhiên, hai biểu hiện tưởng như trái ngược nhau ấy không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng được bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính
là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam
2.2 Quan hệ giao tiếp: Luôn lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử
Dân tộc ta từ xưa đến nay vốn có truyền thống trọng đạo lý Người ta sống với nhau “vì mồ vì mả” chứ không vì “cả bát cơm đầy”, rồi “bán anh em xa, mua láng giềng gần” Và yêu nhau “chín bỏ làm mười”… Vì vậy trong đối nhân
xử thế, người ta thường dặn nhau: “Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” Điều này đã thấm nhuần vào tư tưởng sống, văn hóa giao tiếp của người Việt:
Xử sự nặng về tình cảm hơn là lý trí
Mọi vấn đề trong cuộc sống bao giờ cũng có hai mặt lý và tình Lý giúp ta sáng suốt lựa chọn suy nghĩ, hành động đúng Tình giúp ta giữ được mối giao hoà êm đẹp Đứng trước những mâu thuẫn giữa hai người, giữa hai họ tộc hay
Trang 7giữa hai tập thể… sẽ có nhiều hướng giải quyết Tuy nhiên, do ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo, văn hóa sông nước, và chủ nghĩa tập thể của văn hóa làng
xã mà người Việt Nam vẫn luôn coi trọng “cái tình” hơn cả Người Việt thường
có thể bỏ qua những yếu tố vật chất, lý luận mà tha thứ, bao dung nhờ bản tính
“trọng tình cảm”, luôn đặt tình cảm lên đầu để suy xét mọi vấn đề Điều này dễ
thấy trong những cuộc tranh luận trong gia đình, với bạn bè, người thân thiết
2.3 Đối tượng giao tiếp: Thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá
Khi mới tiếp xúc, gặp gỡ một đối tượng, người Việt thường quan tâm đến các vấn đề như tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình Do truyền thống đề cao tính cộng đồng làng xã, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh Mặt khác, do phân biệt chi li các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đầy đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn cách xưng hô cho thỏa đáng được
Việc chú ý đến phong thái, cách nói chuyện cũng là một cách hay để tìm hiểu tính cách Bởi vậy ông cha ta mới có câu “chọn mặt gửi vàng” Hơn nữa, cũng do tính thích quan sát này, người Việt thường rất tin vào kinh nghiệm xem tướng số Văn hóa dân gian này được thể hiện rõ nét qua những câu ca dao tục ngữ: “Đàn bà con mắt lá dăm - Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”, “Người khôn con mắt đen sì, Người dại con mắt nửa chì nửa thau”, “Con lợn mắt trắng thì nuôi - Những người mắt trắng đánh hoài đuổi đi”, “Những người ti hí mắt lươn - Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người”,
2.4 Chủ thể giao tiếp: Trọng danh dự
Dưới góc độ chủ thể giao tiếp, người Việt còn có đặc điểm là trọng danh
dự Danh dự được hiểu là sự coi trọng, tôn trọng của xã hội đối với một cá nhân,
tổ chức nào đó và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Danh dự cũng chính là yếu tố quan trọng để khẳng định vai trò và uy tín của một cá nhân, tổ chức trong
xã hội Người có danh dự thường sẽ được đánh giá cao bởi người có danh dự
là người có phẩm chất đạo đức tốt, nhận thức được những việc làm của mình
Trang 8đâu là việc nên làm và không nên làm Bởi vậy, người Việt Nam thường rất quan tâm người khác nghĩ hay đánh giá gì về mình
Danh dự thường được người Việt gắn liền với năng lực giao tiếp: lời nói
ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, được lưu truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng Vì thế, người Việt thường suy xét, thận trọng với lời nói của mình
Đôi khi, việc trọng danh dự thái quá sẽ dẫn tới một khái niệm tiêu cực: bệnh
sĩ diện Đặc điểm này được cho là bắt nguồn từ cơ chế thứ bậc của làng xã, và cũng từ quan niệm Nho giáo về mẫu người quân tử Cũng vì thế, người Việt thường rất sợ dư luận và sống theo dự luận, ngại đưa ra tiếng nói, ý kiến riêng
vì không muốn mắc lỗi, tránh nói sai Thói sĩ diện như một thứ gông cuồng, chói buộc con người ta phải sống và hành động khác với bản chất thật của mình Nhà văn Lê Lựu đã phản ảnh lối sống sợ dư luận của người Việt qua tiểu thuyết
“Thời xa vắng”: “Người ta chỉ dám lựa theo dư luận mà sống chứ ai dám dẫm lên dư luận mà đi theo ý mình” “Ở đời này người ta chỉ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom, chết đạn để che chở, nuôi nấng cho con mình tai qua nạn khỏi, con mình được sung sướng, được vinh hoa chứ không ai chịu tai tiếng, chịu sỉ nhục để con mình được tự do theo ý nó”
2.5 Cách thức trong giao tiếp: Ưa sự tế nhị, hay giữ ý
Lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ (tư duy biện chứng) là một trong những điều căn cốt hình thành nên lối giao tiếp ưa tế nhị,
ý tứ của người Việt Nam ta Đây cũng được cho là một nét văn hóa tốt, người Việt trước khi nói chuyện thường rất đắn đo, cân nhắc kĩ để không khiến đối phương bị khó xử, phật lòng Ngoài ra, người Việt Nam ta còn tránh nhắc đến các chủ đề tế nhị, mang tính chất riêng tư, đặc biệt là khi nói chuyện với những người không thân thiết
Mặt khác, đặc điểm này cũng khiến chúng ta thường không biểu lộ trực tiếp cảm xúc, nguyện vọng hay nhu cầu trước mặt người khác Ngoài ra, còn dẫn đến thói quen giao tiếp "vòng vo tam quốc", cân nhắc thái quá, không bao giờ
mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây Theo truyền
Trang 9thống Việt Nam: “miếng trầu là đầu chuyện” Trước khi bàn đến một vấn đề, phải tuân theo những quy tắc cơ bản, chào hỏi, hỏi thăm tình hình hiện tại Cách thức này còn có hệ quả là tính thiếu quyết đoán, chần chừ khi đưa ra quyết định, bộc lộ suy nghĩ Ví dụ như trong việc kinh doanh, người Việt Nam thường không lựa chọn những hình thức kinh doanh táo bạo, mạo hiểm mà thường thiên về những phương án an toàn, chắc ăn hơn
2.6 Nghi thức lời nói (ngôn ngữ)
Ngôn ngữ không chỉ là “phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của loài người” như V.Lênin từng khẳng định, mà ngôn ngữ có vai trò như là yếu tố kết dính tạo nên các mối quan hệ, liên hệ chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành của toàn bộ nền văn hoá Nó cũng là cầu nối trực tiếp của các hiện tượng giao tiếp văn hoá, tiếp biến văn hoá và góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển văn hoá Nghi thức lời nói (ngôn ngữ) cũng đã góp phần làm nên bản sắc riêng trong văn hóa giao tiếp của người Việt
Tiếng Việt một ngôn ngữ rất phong phú trong hệ thống xưng hô Khác với truyền thống phương Tây, họ thường chỉ sử dụng những đại từ nhân xưng để nói chuyện thì người Việt ta luôn xưng hô dựa trên tuổi tác, giới tính, quan hệ
họ hàng, địa vị xã hội Điều đó thể hiện rõ sự linh hoạt và mềm dẻo trong văn hóa giao tiếp của người Việt
Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của người việt còn rất linh hoạt, mang tính ước
lệ cao Một từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa và ngữ nghĩa biến đổi tùy theo văn cảnh Ví như khi tác giả Nguyễn Du tả nhân vật Thúy Vân trong “truyện Kiều”
có nói: “Khuôn trăng đầy đặn/Nét ngài nở nang”, ý là để diễn tả vẻ đẹp phúc hậu, quý phái của người thiếu nữ Ngoài ra, người Việt Nam ta còn hay sử dụng những câu đối ứng để thể hiện tính so sánh, tương phản, nhấn mạnh cao Ví dụ:
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Ngôn từ tiếng Việt luôn rất giàu tính nhịp điệu và tiết tấu bởi những âm sắc khác nhau của từ Đây được gọi là chất thi ca trong ngôn ngữ Hơn nữa, bởi do ảnh hưởng của một nền văn hóa trọng tình, tiếng Việt luôn giàu chất biểu cảm, dễ biểu đạt trạng thái cảm xúc của người nói trong giao tiếp
Trang 10III Tầm ảnh hưởng của những đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt đối với nhận thức và thực tiễn
Những đặc tính này chủ yếu bắt nguồn từ tâm lí sống cộng đồng, làng
xã, quây quần với nhau Mọi người thường xuyên dành thời gian để thăm viếng nhau, không chỉ ở trong ngày lễ mà còn là những ngày nghỉ bình thường nếu
có thời gian và điều kiện Từ đó đã tạo nên một mối gắn kết, tình làng nghĩa xóm sâu nặng Điều đó được thể hiện rõ qua một số câu ca dao như “Hàng xóm, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” hay “Bà con xa không qua láng giềng gần”.Chính những đặc tính đó đã tạo nên tầm ảnh hưởng lớn đối với nhận thức trong con người Việt Nam Ta có thể dễ dàng thấy rằng con người Việt Nam vô cùng xem trọng tình cảm trong cộng đồng, luôn hết mình vì mọi người và từ đó đã tạo nên một cộng đồng vô cùng gắn kết và mạnh mẽ
Việt Nam là một quốc gia có nền lịch sử chống giặc ngoại xâm, từ lâu tới nay con người chúng ta đã luôn sinh sống với nhau vô cùng thân thiết và đoàn kết Chính vì vậy, người Việt dùng tình cảm làm nền tảng, làm thước đo cho những chuẩn mực đạo đức và thái độ giao tiếp, ứng xử.Tuy nhiên cũng vì lối ứng xử trọng tình trọng nghĩa này của người Việt mà đã dẫn tới nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực Mặt tích cực là con người Việt Nam sẵn sàng giúp
đỡ, tương tác, chia sẻ, hỗ trợ nhau Tuy nhiên điều này cũng dễ dẫn tới một số mặt tiêu cực như con người Việt Nam thường có xu hướng trọng tình, trọng nghĩa dẫn tới sự nể nang khi giải quyết công việc, kể cả là những việc chung, mang tính xã hội cao.Những đặc điểm ấy đã góp phần tạo nên một xã hội Việt Nam giàu tình cảm giữa những người dân, nhưng cũng phần nào làm ảnh hưởng tới một số phương diện mang tính xã hội
Trong các mối quan hệ, dù quen biết sâu hay mới làm quen, gặp mặt Người Việt có thói quen quan tâm tìm hiểu những thông tin cá nhân của nhau Khi giao tiếp, trao đổi, họ thường hỏi về tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, gia đình, tình cảm v.v… Thói quen này có phần bắt nguồn từ hai yếu tố trên, khi mà con người Việt Nam có tập tính sống theo làng xã và sống vô cùng tình cảm, đoàn kết Như vậy, việc tìm hiểu, quan sát và đánh giá đối tượng giao tiếp trước hết là để phục vụ mục đích thu thập thông tin để có cách xưng hô và ứng xử phù hợp Tuy nhiên việc làm này đa phần là phục vụ mục đích giao tiếp,