1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm văn hóa vùng tây bắc việt nam

28 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Khi nói đến xứ sở Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng, hiểm trở, người ta sẽ nghĩ đến ngay một kho trầm tích văn hóa dân gian được hình thành, lưu giữ và phát triển từ ngàn thế hệ.. Những m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐÀ NẴNG

KHOA: TIẾNG ANH

BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 4

B NỘI DUNG… 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 4

1.1 Khái niệm chung 4

1.1.1 Khái niệm văn hóa 4

1.1.2 Khái niệm văn hóa vùng… 6

1.2 Tổng quan về vùng Tây Bắc… 7

1.2.1 Lịch sử hình thành 8

1.2.2 Vị trí địa 9 lý 1.2.3 Xã hội và các dân tộc ở Tây Bắc 10

1.2.3.1 Xã hội 10

1.2.3.2 Các dân tộc ở Tây Bắc 10

1.2.4 Khái quát về vùng văn hóa Tây Bắc 11

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA TÂY BẮC 12

2.1 Ngôn ngữ và chữ viết 12

2.1.1 Ngôn ngữ 12

2.1.2 Chữ viết 12

2.2 Trang phục 12

2.3 Phong tục 13

2.4 Tập quán 24

2.5 Lễ hội 24

2.6 Ảnh hưởng của văn hóa Tây Bắc đến nền văn hóa Việt Nam Hạn chế và khắc- phục 25

2.6.1 Ảnh hưởng của văn hóa Tây Bắc đến nền văn hóa Việt Nam… 25

2.6.2 Những hạn chế văn hóa Tây Bắc 27

2.6.3 Những biện pháp khắc phục 28

C KẾT LUẬN 29

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Khi nói đến xứ sở Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng, hiểm trở, người ta sẽ nghĩ đến ngay một kho trầm tích văn hóa dân gian được hình thành, lưu giữ và phát triển từ ngàn thế hệ Những miền núi cao lâu đời, những dòng suối mát lành là nơi mà đồng bào vùng cao Tây Bắc đã hình thành cho mình một vốn văn hóa bản địa vô cùng rực rỡ, đặc sắc Mỗi một dân tộc lại có một nét riêng biệt trong văn hóa dân gian Tây Bắc

Khi nói đến văn hóa dân gian vùng Tây Bắc, chúng ta cần nhận diện nó từ nhiều phương diện, khía cạnh và giá trị: nguồn gốc; cuộc sống hàng ngày; những phong tục, tập quán… Những phương diện và giá trị này đã hình thành văn hóa dân gian của các dân tộc vùng Tây Bắc hết sức đa dạng, phong phú về các loại hình, hình thức diễn xướng và phương thức lưu truyền

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Từ những buổi sơ khai của loài người, văn hóa đã xuất hiện và gắn bó mật thiết với sự tiến hóa sinh học của nhân loại Dù con người thuở ấy không lập tức định nghĩa và tạo nên một khái niệm văn hóa độc lập, song trong quá trình con người tương tác với môi trường tự nhiên, văn hóa đã dần hình thành và song hành với loài người

Trong quá trình tiến hóa, con người dần hình thành trí thông minh và khả năng sáng tạo vượt trội hơn bất kì loài nào khác để thích nghi với môi trường tự nhiên Từ đó, tác động sinh học của con người giảm dần, bản tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa Con người không chỉ có khả năng hình thành văn hóa mà còn có thể tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trang 4

Nhìn chung, văn hóa là tiêu chí nhận diện con người với thế giới tự nhiên, là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và lưu giữ trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của của nhân loại Văn hóa bao gồm cả yếu tố vật chất như nhà cửa, quần áo, phương tiện đi lại, và yếu tố tinh thần như ngôn ngữ, cách ứng xử, tri thức, đức tin…

Ở phương Tây, thuật ngữ Văn hóa xuất hiện vào khoảng thế kỉ III TCN Văn hóa được bắt nguồn từ chữ La tinh"Cultus" với nghĩa gốc là gieo trồng Về sau, thuật ngữ này được dùng theo nghĩa “Cultus Agri” là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người"

Ở phương Đông, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ ngôn ngữ Hán Từ ghép “văn hóa” là sự hợp thành của hai từ đơn riêng biệt: “văn” là vẻ đẹp và “hóa” là biến đổi Hiểu rộng ra, văn hóa chính là việc thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn, “làm cho đẹp đẽ”

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, tượng trưng cho mỗi cách nhìn và cách cắt nghĩa khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê có hơn 160 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nghiên cứu dày công trên thế giới Điều này chứng tỏ khái niệm “văn hóa” rất phức tạp và khó để tiếp cận toàn diện

William Isaac Thomas (1863–1947), nhà xã hội học người Mỹ định nghĩa văn hóa “là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )” Điều này nhấn mạnh văn hóa gắn liền với các giá trị cốt lõi của xã hội, là nền tảng kiến tạo những giá trị cho nền văn minh nhân loại Đối với Edward Sapir (1884–1939) - một nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mĩ, văn hóa “là bản thân con người, cho dù

là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phứchợp

Trang 5

của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.” Nói khác đi, văn hóa là “thẻ căn cước” riêng của loài người trong thế giới, khiến con người trở nên khác biệt với những loài động vật khác Qua thời gian, con người còn kế thừa truyền thông, tập tục của xã hội nhờ vào tính ổn định của truyền thống

Năm 1994, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa trên hai phương diện: theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ tổng hợp các -

đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng ”; theo nghĩa hẹp thì

“Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” Với định nghĩa này, sự hình thành của văn hóa còn được thể hiện qua mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa tập thể

và môi trường sống xung quanh Theo một nghĩa khác, văn hóa còn bao gồm những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người

Chung quy lại, văn hóa là đặc điểm nhận diện con người với các loài động vật khác và là sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển

Do sự khác biệt về tư tưởng hay khu vực sinh sống, con người tồn tại với nhiều nền văn hóa khác nhau Bị ảnh hưởng bởi môi trường tự nhiên và tính cách tộc người, văn hóa dần trở nên đa dạng và ở mỗi tộc người, văn hóa sẽ có những đặc trưng riêng Một trong những yếu tố của môi trường tự nhiên tác động đến sự đa dạng của văn hóa là vùng địa lý

Vùng văn hóa hay Văn hóa quyển, được hiểu là một địa vực gắn bởi một hình thức văn hóa nhất định, được tạo ra bởi những dân cư sống cùng một khu vực và mang đậm dấu ấn lịch sử được phát triển bởi các hình thức văn hóa Từ "văn hóa quyển" được dịch từ

"kulturkreis" trong cuốn sách của nhà dân tộc học người Đức - Wilhelm Schmidt vào năm

Trang 6

1924 và trở thành một thuật ngữ quan trọng sau nửa cuối thế kỷ 20 Các đặc trưng văn hóa của từng vùng có tính lan rộng có thể truyền ra ngoài và giao lưu, tiếp biến với các vùng - văn hóa khác

W Schmidt cho rằng khái niệm “vùng văn hóa” không nhất thiết phải giới hạn trong một không gian địa lý hay là một địa lý tiếp giáp Miễn có sự giao nhau về một số yếu tố văn hóa nhất định như tôn giáo, ngôn ngữ, thể chế xã hội, các không gian tại các địa điểm khác nhau có thể thuộc về cùng một văn hóa quyển như Vùng văn hóa Đông Á, Vùng văn hóa

Ấn Độ,

Có hai yếu tố tạo bản sắc văn hóa vùng:

Yếu tố về môi trường sinh thái tự nhiên:-

Đây là yếu tố giải thích sự tương đồng trong văn hóa của các cộng đồng người sống trong cùng một lãnh thổ nơi có cùng một điều kiện tự nhiên Ví dụ, Đông Nam Á với - đặc trưng khí hậu là nhiệt độ, độ ẩm cao, có gió mùa và có nhiều sông nước sẽ hình thành vùng văn hóa trồng lúa nước - khác với văn hóa khô mạch của Trung Hoa

Yếu tố hình thức biểu hiện văn hóa của con người:

Đây là yếu tố tạo ra cung nhận thức, nếp sống cũng như phong tục tập quán riêng của mỗi khu vực Ở Việt Nam, đặc điểm địa hình nhiều đồi núi và kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa - thường xuyên chịu bão lũ ở miền Trung đã hình thành nét tính cách dẻo dai, khả năng chịu đựng và thích nghi cao với môi trường sống Ngoài ra, đây cũng là đất nước với nhiều loại hình văn hóa nước như rối nước, hát chèo bởi ảnh hưởng của môi trường nhiều sông nước

Nhìn chung, do chịu ảnh hưởng bởi vị trí địa lý mà mỗi vùng văn hóa sẽ mang một sắc thái tâm lý cộng đồng riêng biệt, thể hiện các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên

và xã hội

Trang 7

1.2.1 Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng

đá phiến và đá vôi Vào cuối đại cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên

(Dãy Hoàng Liên Sơn)

Địa máng sông Đà vào thời điểm đại cổ sinh vẫn chìm dưới biển Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay

Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma

( đá macma)

Trang 8

Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét và cuối cùng Hình thành nên vùng Tây Bắc cho đến hiện nay

(Vùng Tây Bắc)

Vị trí địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dòng sông Mã

Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số -đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu Nà Sản Cũng có các lòng chảo như Điện Biên Nghĩa Lộ, Mường, , Thanh

Trang 9

1.2.3 Xã hội và các dân tộc Tây Bắc

Tây Bắc là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em như người Thái, Tày, H’mông, Dao, Mường, Khơ mú, Laha, Xinh mun, Kháng, Mảng, mỗi dân tộc mang những nét phong tục tập quán riêng đã tạo cho vùng văn hoá Tây Bắc một nền văn hoá đa dạng, nhiều - màu sắc độc đáo thông qua văn hoá Thái là chủ thể

Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường, dân tộc Thái gọi là Đằm Phương thức canh tác của các dân tộc này cũng khác nhau

Tây Bắc là địa bàn sinh sống của 30 dân tộc anh em, thuộc ba hệ ngữ khác nhau

Ngữ hệ Nam Á

Ngữ hệ Nam Á có ba nhóm dân tộc, cụ thể là:

Nhóm Việt- Mường: gồm dân tộc Kinh, Mường, Thổ

Nhóm Mông- Dao: gồm dân tộc Dao, Mông

Nhóm Môn- Khơ Me: gồm dân tộc Kháng, Khơ Mú, Mảng, Xinh Mun

-Nhóm tiếng Hán gồm các dân tộc: Hoa, Sán Dìu, Sán Chỉ ( Sán Chay)

Nhóm Tạng- Miến bao gồm các dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si

La

Trang 10

Như vậy, ở Tây Bắc hiện có 30 dân tộc: Kinh, Mường, Thổ, Mông, Dao, Kháng, Khơ Mú, Mảng, Xinh Mun, Bố Y Giáy, Lào, Lự, Nùng, Tày, Thái, Sán Chay, Cơ Lao, La Chí, La ,

Ha, Pu Péo, Hoa, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La

Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu

Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái và một phần tỉnh Hòa Bình Hiện có hơn hai mươi tộc người cùng cư trú xen cài với nhau, nhưng trong đó tộc Thái (với những yếu tố tiếp biến từ văn hóa Đông Nam Á) nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc Từ điều kiện cảnh quan, môi trường sống đã tạo nên những nét đặc trưng, cả về vật chất lẫn tinh thần, cho văn hóa vùng này Các tộc người trong vùng đều có tín ngưỡng ''vạn vật hữu linh'' và tín ngưỡng nông nghiệp Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc tuy chưa có văn hóa chuyên nghiệp (bác học), nhưng mỗi tộc người đều có một kho văn hóa nghệ thuật riêng với ngôn từ giàu có và đủ thể loại, nghệ thuật múa dân tộc cũng là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc (''xoè'' Thái đã trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc), âm nhạc và ca hát ở đây cũng rất đặc biệt: Hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng đồng, hoặc bằng bạc, không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát chứ không phải để đọc, nghệ thuật trang trí trang phục đã ở một trình độ cao Giao lưu văn hóagiữa các tộc người trong vùng diễn ra rất tự nhiên

Trang 11

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA TÂY BẮC

Hiện nay, khu vực Tây Bắc có sự hiện diện của bốn trên tổng số năm họ ngôn

ngữ hiện có mặt tại Việt Nam Bốn họ ngôn ngữ có mặt ở khu vực Tây Bắc

gồm: Thứ nhất là họ ngôn ngữ Tai Ka dai bao gồm các dân tộc: Thái, Tày, Nùng, Cao Lan, Thổ, Lự, Lào, Giáy, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, Thứ hai là họ ngôn ngữ Mông - Dao (Mông -Miền) bao gồm các dân tộc: Mông, Dao, Thứ ba là họ ngôn ngữ Môn -Khơ

-Me bao gồm các dân tộc là: Việt (Kinh), Mường, Mảng, Cống, La Ha, Thứ tư là họ ngôn ngữ Hán Tạng (Tạng - -Miến) bao gồm các dân tộc: Hoa, Si La,

Một số dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển không chỉ có tiếng nói mà còn có cả chữ viết điển hình như các dân tộc: Thái, Mông, Dao, Hoa Có thể phân chia chữ viết của các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc thành ba nhóm mẫu tự sau đây:

Mẫu tự Ấn Độ Trung Hoa La tinh

Dân tộc Thái Dao, Hoa Mông

Trong không gian văn hóa Tây Bắc, trang phục truyền thống là một biểu trưng văn hóa phản ánh sinh động phong tục, tập quán, vẻ đẹp và bản sắc của mỗi dân tộc anh em trên vùng đất địa cầu Tổ quốc Mỗi dân tộc ở Tây Bắc đều có trang phục riêng, qua đó có thể nhận biết tộc người, nơi cư trú, tập quán, đời sống văn hóa của họ Độc đáo, đa màu sắc là những gì chúng ta được chiêm ngưỡng và trải nghiệm với những bộ trang phục của đồng bào Tây Bắc Nổi bật như dân tộc Thái, H’mông,…

Trang phục phụ nữ Thái gồm: áo cánh ngắn nhiều màu, nẹp đính hàng khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu,…, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống, thắt eo

Trang 12

bằng dải lụa màu xanh lá cây, đeo xà tích bạc ở bên hông.Nữ Thái đen đội khăn Piêu nổi tiếng với các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ

Nam giới thường mặc quần cắt theo kiểu chân què có cạp để thắt lưng, áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái trắng có thêm một túi ngực trái, cài khuy tết bằng dây vải, cuốn khăn đầu rìu Màu quần áo chủ yếu là màu đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng

Trang phục phụ nữ H’mông: Người H’Mông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục nữ các nhóm cũng có sự khác biệt Tuy nhiên nhìn chung có thể thấy phụ nữ Hmông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy Ống tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn ngang từ nách đến cửa tay, đường viền

cổ và nẹp hai thân trước được trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm) Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm Hmông (Hoa, Xanh, Trắng, Đen ) Đó là các loại váy trắng, váy đen, váy in hoa, vẽ sáp ong kết hợp thêu Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở đoạn giữa

Nam giới Nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng Áo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Loại bốn thân xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông Loại bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn ngang trên ống tay Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không mang

2.3 Phong tục:

Trang 13

Tây Bắc là nơi chung sống của 15 dân tộc khác nhau nên rất đa dạng về phong tục, cùng điểm qua một số tiêu biểu trong phong tục của vùng Tây Bắc:

Ngày tết truyền thống của một số dân tộc vùng Tây Bắc:

Tết truyền thống của đồng bào dân tộc Mông:

Ngày Tết ở đây được tổ chức sớm hơn Tết Nguyên Đán của người Việt 1 tháng, người Mông trắng gọi là chia sung lầu – Tết tháng 12

Việc trang trí bàn thờ ngày Tết phái có giấy bản và lông gà Người Mông cắt giấy bản, dán các dụng cụ lao động với ý nghĩa thông báo năm mới đến rồi, con người và mọi vật

đã làm việc vất vả, cần được nghỉ ngơi, vui chơi, ăn Tết,…Vào dịp Tết người Mông thường làm món thịt chuột sấy khô để đãi khách

Trước tết, các gia đình đều vào chặt cây trúc để quét dọn bàn thờ tổ tiên và quét nhà với ý nghĩa quét đi những cái bẩn, cái xấu của năm cũ, để cầu mong mọi sự tốt lành Ngày Tết mọi người cũng phải tắm gội sạch sẽ để xua tan cái bẩn, bệnh tật, sự xui xẻo của năm cũ

Tết truyền thống của đồng bào dân tộc Thái:

Dân tộc Thái có cách đón Tết rất riêng và độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc mình

Ngày Tết của đồng bào Thái trắng Tây Bắc không thể thiếu các loại bánh truyền thống như: Bánh chưng được gói từ gạo nếp, nhân đỗ, thịt lợn Nhưng bánh chưng không phải như bánh tét miền Nam hay bánh vuông miền Bắc mà là những chiếc bánh chưng gù Bánh bỏng, được làm từ xôi nếp, phơi khô rán Còn bánh “khảu tắt”, một loại bánh đặc trưng được chế biến từ gạo nếp ngâm, ăn ngon được nhiều người ưa chuộng chỉ có ở người Thái Ngày 30 Tết, gay từ sáng sớm nhà nào cũng mổ một con lợn Bốn chân và đầu đuôi để cúng tổ tiên, phần nạc làm thịt sấy, ba chỉ ướp muối, còn phần vừa mỡ vừa nạc làm lạp sườn, làm nem thính,…Tất cả các món ăn truyền thống không chỉ ăn ngay trong mấy ngày Tết, mà còn treo gác bếp để ra giêng Khi lá vả, lá sung lên non, lấy ăn ghém mới là món ngon, đúng mùa Nhà nào có nhiều thịt, để được lâu được coi là Tết to

Trang 14

Các món ăn truyền thống được các mẹ, các chị khéo tay chế biến với mắc khén (Tiêu rừng), ớt bột, thảo quả, hương thơm quyến rũ

Với đồng bào Thái trắng, mâm cỗ cúng tổ tiên rất được coi trọng Ngoài mâm cỗ thủ và bốn chân lợn, bánh trái ngày Tết, dân tộc Thái còn có “bók piếng”, tức là một loài hoa bông nhỏ màu trắng không héo để thờ cúng trên bàn thờ quanh năm và hai cây mía (cả lá) dựng hai bên bàn thờ Theo quan niệm của người Thái, hai cây mía tượng trưng cho chiếc thang để tổ tiên về ăn Tết cùng với con cháu.Việc thờ cúng tổ tiên ngày tết của dân tộc Thái vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa thể hiện sự sung túc, no đủ, đồng thời thể hiện lòng thành con cháu nhớ về cội nguồn, tổ tiên Khi thu mâm cỗ hóa vàng thì mời anh em bản Mường về chung vui bữa cơm đầu xuân, năm mới

Phong tục cưới hỏi của một số dân tộc vùng Tây Bắc

Cưới vợ sau 3 năm ở rể

Với dân tộc Thái, khi chàng trai muốn cưới cô gái, anh ta thường rủ bạn bè mang những chiếc khèn đến diễn tấu dưới cửa sổ nhà sàn của cô gái Qua thời gian tìm hiểu, chàng trai nào chọn được người yêu rồi sẽ nói với cha mẹ để lo chuyện hôn nhân Theo tục lệ cũ, người con trai phải dến ở nhà con gái 3 tháng trước khi làm lễ cưới chính thức Anh ta chỉ được phép ở gian đầu nhà sàn dành cho khách nam giới và chỉ được phép mang theo một con dao để làm việc Sau 3 tháng, nếu được bố mẹ vợ ưng ý, chàng trai sẽ về nhà báo cho

bố mẹ mình biết

Lần này anh ta sẽ mang tư trang của mình đến nhà gái ở đó suốt 3 năm Sau 3 năm đó, nếu đồng ý lấy chàng trai, cô gái sẽ búi tóc bằng trâm cài đầu và cái độn tóc giả do gia đình nhà trai mang đến Cô gái nào không muốn cưới chàng trai sau 3 năm đó sẽ phản kháng bằng cách tự cắt tóc mình Sau lễ cưới, chú rể sẽ tiếp tục ở nhà gái từ 1đến 10 năm

và chỉ được phép đưa vợ về nhà mình sau một nghi lễ đưa dâu long trọng

Ngày đăng: 25/10/2022, 12:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w