Vì vậy, việc dạy học sinh nói, viết tốt một đoạn văn ngay từ khi còn ở những lớp nhỏ cũng là xây dựng cho các em một nền móng vững chắc để tạo hứng thú hơn trong việc học tốt môn Tập làm
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ( do TT Hội đồng ghi)
1 Tên sáng kiến:
“Một số giải pháp giúp học sinh nâng cao kĩ năng nói (kể), viết đoạn văn của
phân môn Tập làm văn lớp 2” ở Trường tiểu học Bình Sơn 1, năm học 2018-2019.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Lĩnh vực tác nghiệp trong giáo dục
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:
Phân môn Tập làm văn là một phân môn có vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hình thành văn bản nói và viết Đây là một phân môn khó dạy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp để tiết học tự nhiên, nhẹ nhàng và
có hiệu quả
Các hoạt động liên quan đến dạy Tập làm văn gồm hai thể loại chính, đó là: nói và viết Vì vậy, việc dạy học sinh nói, viết tốt một đoạn văn ngay từ khi còn ở những lớp nhỏ cũng là xây dựng cho các em một nền móng vững chắc để tạo hứng thú hơn trong việc học tốt môn Tập làm văn các lớp sau này
3.1.1 Ưu điểm:
- Bản thân được Ban giám Hiệu phân công dạy khối 2 nhiều năm liền nên tôi cũng nắm chắc được yêu cầu của môn học, từng nội dung của hoạt động, có nhiều
cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.
-Tất cả các em đến trường có đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập Các bài tập được thiết kế dưới dạng nói (kể) rồi viết… giúp học sinh thực hiện các bài tập nhanh hơn.
3.1.2 Hạn chế:
- Giáo viên chưa áp dụng đổi mới phương pháp dạy học tích cực trong phân môn Tập làm văn, chưa đầu tư và nghiên cứu kĩ bài, sử dụng phương pháp và hình thức chưa hợp lý vì vậy hoạt động học Tập làm văn dẫn tời giờ học còn đơn điệu, nhàm chán, thụ động
- Còn nhiều học sinh chưa nắm vững nội dung, yêu cầu của đề do đó các em chưa nói được thành câu trọn vẹn.
- Một số em đọc viết chưa nhanh, chưa mạnh dạn phát biểu, chưa tự trả lời được các câu hỏi theo tranh Vì vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài.Vốn từ của học sinh chưa nhiều do học sinh ít đọc sách báo, tài liệu nên khi nói các em gặp hạn chế khi phải dùng từ ngữ miêu tả, kể có hình ảnh đặc điểm
Trang 2- Kĩ năng viết của các em vẫn còn nhiều tồn tại như: viết chưa thành câu, dùng từ còn lặp lại, sử dụng dấu câu không đúng chỗ trong câu hay đoạn văn, nhiều học sinh khi viết bài còn viết bừa, viết cẩu thả, Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý.
- Số lượng học sinh chưa có kĩ năng viết được một đoạn văn theo yêu cầu của bài chiếm tỷ lệ còn cao
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1 Mục đích của giải pháp
3.2.1.1 Mục tiêu chung
Để học sinh lớp 2 học tốt phần hoạt động Tập làm văn trong phân môn Tiếng Việt của Trường tiểu học Bình Sơn 1, với các hoạt động có nội dung chủ yếu như: chào hỏi, tự giới thiệu, trả lời câu hỏi…
3.2.1.2 Mục tiêu riêng
- Giúp 100% học sinh nhớ lâu, tích cực chủ động quan sát, tự chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tự học của học sinh
- Đến cuối năm, có từ 95% trở lên học sinh nắm vững yêu cầu của đề bài
- Hầu hết các em đọc, viết nhanh, mạnh dạn phát biểu, tự trả lời được các câu hỏi theo tranh Tăng cường vốn hiểu biết về Tiếng Việt.
- Giúp tất cả học sinh biết sắp xếp được ý, trình tự chung của thể loại văn mang tính chất mở với những chi tiết nào có ý nghĩa giới thiệu chung thì nói trước,
ý nào miêu tả chi tiết, cụ thể thì nói sau, đồng thời diễn đạt được các ý có trong khung mạng thành một bài văn nói hoặc viết
- Có khoảng 95% trở lên, học sinh có kĩ năng viết được một đoạn văn theo yêu cầu của bài
3.2.2 Nội dung giải pháp:
3.2.2.1 Các giải pháp chính thực hiện:
(i) Giải pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học
sinh trong các Hoạt động có nội dung Tập làm văn
(ii) Giải pháp 2: Giúp học sinh nắm chắc nội dung, yêu cầu của đề
(iii) Giải pháp 3: Phát huy khả năng mở rộng vốn từ cho học sinh
(iiii) Giải pháp 4: Giúp học sinh sắp xếp ý đã có trong khung mạng thành bài
nói hay viết
(iiiii) Giải pháp 5: Giúp học sinh nâng cao kĩ năng viết một đoạn văn
3.2.2.2 Các giải pháp chính thực hiện:
(i) Giải pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong các Hoạt động có nội dung Tập làm văn
Theo phương pháp dạy học truyền thống: Học sinh quan sát theo hướng dẫn giảng giải thuyết trình của giáo viên là chính Phương pháp này học sinh rất nhanh quên, còn phụ thuộc, ỉ lại vào giáo viên.
Trang 3Để giúp học sinh nhớ lâu, tích cực chủ động quan sát, giáo viên cần giúp học sinh tự quan sát kĩ tranh ảnh, thảo luận cùng bạn, giáo viên đặt ra các tình huống gợi
mở để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tự học của học sinh bằng cách
* Kết hợp phương pháp quan sát và hỏi đáp
Kỹ năng quan sát của học sinh rất cần khi các em viết văn: Giáo viên cần giúp
đỡ học sinh khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, mục đích là giúp học sinh tránh được kiểu kể theo liệt kê Ví dụ: Kể về gia đình ( BT 4 trang 126) tôi sẽ cho học sinh quan sát tranh ảnh sau và đặt câu hỏi gợi mở để phát huy tính tích cực của học sinh như: Kể tên những người trong gia đình em? Hoặc gia đình em gồm có những ai? Gia đình em gồm có mấy người?
Bên cạnh đó, tôi cũng định hướng cho học sinh quan sát bằng các giác quan
để cảm nhận một cách có cảm xúc về tranh ảnh, sự vật.
* Phương pháp thực hành giao tiếp
Thông qua các bài tập, giáo viên đa số lệnh cho học sinh chỉ làm theo yêu cầu.
Như vậy, học sinh không thể phát huy được kĩ năng làm bài hoặc rập khuôn máy móc.
Để áp dụng phương pháp dạy học tích cực, phát huy khả năng tự học của học sinh, tôi rèn cho học sinh kỹ năng nói, trình bày miệng bài nói trước khi làm bài viết một cách tự tin
Ví dụ: Bài 1A Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 2( tập 1 trang 3) Hoạt động 4:
Tự giới thiệu về mình trước nhóm, trước lớp như sau:
- Tôi là Trần Ngọc Giang.
- Sinh ngày 2 tháng 4 năm 2011.
- Tôi thích múa, thích học Tiếng Việt.
- Sau này tôi muốn trở thành cô giáo
* Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu
Giáo viên cần cung cấp, giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần chuẩn bị vốn từ cho chu đáo để giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn.
Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về người thân thì học sinh sẽ có nhiều bài làm
khác nhau Giáo viên cần giúp học sinh chọn lựa từ ngữ cho phù hợp Khi kể về bố
là công nhân thì từ ngữ sử dụng phải khác với bài viết bố là bộ đội; viết về tình cảm của em đối với cha mẹ, ông bà thì từ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình
đối với bạn bè; viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình
minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum họp, quây
Trang 4quần…; để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa… Giáo viên cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để hướng dẫn học sinh vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết.
(ii) Giải pháp 2: Giúp học sinh nắm chắc nội dung, yêu cầu của đề
Đây là bước học sinh phải biết định hình cụ thể đối tượng nói (kể), viết trong chủ điểm nào Để thực hiện việc này tôi sử dụng như sau:
Kể mẩu chuyện nhỏ, tạo tình huống, đặt câu hỏi hướng các em đến đề tài Dùng tranh ảnh, mẫu vật thật hoặc mô hình.
* Ví dụ: Dạy về chủ điểm Thầy cô có dạng bài Nói, viết về cô giáo hoặc thầy giáo cũ của em, Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 2 – Tập 1 Bài 8A: Thầy cô luôn
yêu thương em Hoạt động 1 trang 71 Để thu hút sự chú ý của học sinh cả lớp tôi
chuẩn bị các tranh ảnh minh họa sau:
Đặt câu hỏi gợi mở giúp các em tìm đến đối tượng của mình:
+ Cô giáo ( hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
+ Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô (hoặc thầy)?
Qua đó các em sẽ nhớ lại những thầy cô đã dạy mình và lựa chọn được đối tượng Nói , viết một cách cụ thể, gần gũi và thực tế.
(iii) Giải pháp 3: Phát huy khả năng mở rộng vốn từ cho học sinh
Đây là bước các em tập trung nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung chủ
đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến đối tượng ấy Khi tiến hành hoạt động này tôi đã làm như sau:
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý Các câu hỏi đưa ra luôn mang tính chất mở, hướng đến việc khơi gợi kinh nghiệm riêng của các em.
- Đưa ra một khung mạng trong đó cho sẵn ý của chủ đề, phần còn lại để học sinh suy nghĩ và đưa thêm ý vào hoàn thành mạng riêng của mình.
* Ví dụ 1: Dạy bài: Kể về người thân trong gia đình (Tuần 13 BT4TV2 -Tập1 trang 126) Đối với bài tập này, ngoài những gợi ý trong sách giáo khoa tôi chuẩn bị một bảng phụ kẻ khung mạng như sau:
Gia đình tớ
Trang 5- Tôi yêu cầu học sinh suy nghĩ về gia đình và viết ra bất kỳ những từ ngữ nào liên quan đến gia đình Sau đó treo bảng phụ lên để các em nêu miệng các cụm
từ về gia đình Tôi ghi vào khung chủ đề cụm từ “gia đình” do học sinh cung cấp
- Sau đó tôi yêu cầu một số học sinh chưa nhanh nhắc lại các từ trên khung mạng để hỗ trợ các em một số vốn từ trong quá trình nói (kể) về chủ đề yêu cầu.
- Tiếp theo tôi xóa đi các từ đã viết chỉ còn một khung mạng trống như ban đầu yêu cầu các em dựa vào mạng ý nghĩa của mình kể ra bất kì ý tưởng nào xung quanh chủ đề, diễn đạt mỗi từ ngữ xoay quanh mạng ít nhất một câu.
Từ đó, học sinh dễ dàng tìm được câu văn một cách sáng tạo theo ý tưởng riêng của mình.
* Ví dụ 2: Bài Nói về con vật nuôi (Tuần 16 Bài 4-TV2 -Tập1- Trang 155), các bước làm như đã trình bày ở trên nhưng khung mạng tôi thay đổi như hình dưới đây.
- Khung mạng khác có thể là: Chùm bóng bay, bông hoa, mạng nhện, một cây
và nhiều cành lá,
(iiii) Giải pháp 4: Giúp học sinh sắp xếp ý đã có trong khung mạng thành bài nói hay viết
Tôi yêu cầu học sinh xem lại các ý trong mạng và đánh số thứ tự Lưu ý trình tự chung của thể loại văn mang tính chất mở: những chi tiết nào có ý nghĩa giới thiệu chung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết, cụ thể thì nói sau Sau đó diễn đạt các ý trong mạng ý nghĩa thành một bài văn hoàn chỉnh
Ví dụ : Bài Kể về gia đình (Tuần 13 BT4-TV2 - Tập1 trang 126).
Chú gà ở nhà em
Con gà
Em yêu chú gà
Ăn thóc
Gáy to
Mào đỏ
Lông nhiều màu
đình của tớ ( 8)
Bố, mẹ, anh Trung và tớ (2)
Lúc nào mẹ cũng chăm sóc
cho anh em tớ rất chu đáo ( 6)
Mẹ tớ rất hiền ( 5)
Gia đình tớ rất yêu thương nhau ( 9)
Gia đình tớ gồm 4 người ( 1)
Anh và tớ đều là học sinh (4)
Buổi tối bố thường dạy học cho anh em tớ ( 7)
Làm ruộng,(giáo viên)
Bố mẹ, ông bà
Học sinh
Hạnh phúc
Anh chị, em
Dạy dỗ Chăm sóc
Trang 6Gọi học sinh thể hiện mạng ý nghĩa của mình đã làm trước lớp Sau đó, trao đổi, sửa chữa và nhận xét bài viết Kết quả cho thấy các em viết được đoạn văn mang nhiều phong cách riêng và sắp xếp ý trong đoạn văn chặt chẽ hơn
(iiiii) Giải pháp 5: Giúp học sinh nâng cao kĩ năng viết một đoạn văn
Mỗi khi đến thể loại văn có yêu cầu viết, đa số giáo viên để mặc cho học sinh viết theo mẫu hoặc theo cách trả lời câu hỏi
Để giúp học sinh nâng cao kĩ năng viết tôi chủ động thực hiện các bước như sau:
a Viết câu mở đầu: Giới thiệu về đối tượng cần viết (có thể diễn đạt bằng một câu)
b Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng Có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt từ 2 đến 3 câu tùy theo năng lực học sinh.
c Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của em về đối tượng trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đối với mọi người.
*Ví dụ: Hoạt động 5 của Bài 16C ( trang156) Nói, viết về một con vật nuôi:
Câu mở đầu: Giới
thiệu về con chó
Em rất thích chú chó nhà em.
Nhà em có nuôi một chú chó tên là KiKi.
Nhà em có nuôi rất nhiều con vật nhưng em thích nhất
là chú chó con.
Các câu phát triển:
kể về con chó
Tên chú chó là Bông Dáng chú rất cao, to Mắt chú tròn như hạt nhãn Chú canh nhà rất giỏi Mỗi khi em đi học về, chú thường nhảy rối rít bên em.
Chú chó này em đặt tên là KiKi Chú nhỉnh hơn cái bình thủy một chút Hai cái tai xinh xinh lúc nào cũng dựng đứng lên nghe ngóng Bộ lông của chú màu vàng nhạt, mượt mà rất đáng yêu Cái đuôi xòe như bông lau
cứ thấy em là ve vẩy…
Câu kết thúc:Tình
cảm của em đối với con
chó
Em rất yêu quý chú chó này.
Em rất thích chú KiKi này vì chú rất đáng yêu và lại còn biết trông nhà nữa.
Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm của các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu Cần chủ động hình thành kỹ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp Không nên áp đặt và đòi hỏi các em phải thể hiện được ngay những kỹ năng mới được hình thành Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải kiên nhẫn luôn tái hiện và lặp lại kiến thức cho học sinh trong suốt năm học, giúp học sinh có được nền móng tốt cho việc học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên.
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Trang 7Giải pháp: “Một số giải pháp giúp học sinh nâng cao kĩ năng nói (kể), viết
đoạn văn của phân môn Tập làm văn lớp 2” đã được áp dụng thành công cho học
sinh lớp tôi chủ nhiệm Giải pháp này áp dụng được cho tất cả các lớp 2 của trường Tiểu học Bình Sơn 1 và các trường trong huyện Hòn Đất.
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp:
Qua quá trình thực hiện các giải pháp trên, các em đã tự tin hơn, mạnh dạn hơn khi viết đoạn văn, đồng thời kĩ năng nghe, nói, viết của học sinh ngày càng nâng lên rõ rệt Đến thời điểm này có khoảng 96,6% học sinh đạt Chuẩn KTKN môn Tiếng Việt Bước đầu các em đã biết cách ứng xử, nói và viết phù hợp với tình huống giao tiếp về chủ điểm Nội dung các bài viết phong phú biết diễn đạt, lựa chọn từ ngữ hợp lý, có ý tưởng riêng của mình Trong lớp, các em thường xuyên thi đua tìm tòi ra kiến thức bài học trong nhóm, chịu khó tư duy, sáng tạo, chiếm lĩnh được kiến thức bài học nhanh hơn Được thể hiện qua bảng thống kê sau:
HS
Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
3.5 Tài liệu kèm theo gồm:
- Đơn yêu cầu công nhận sáng kiến.
- Bài viết của học sinh
Hòn Đất, ngày 02 tháng 4 năm 2019
Nguyễn Thị Cúc
Trang 8CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tư do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến tỉnh Kiên Giang
Tôi ghi tên d ưới đây: đây: i ây:
Số
TT
Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi công tác (hoặc nơi thường trú)
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến (Ghi rõ đối với từng đồng tác giả nếu có)
1 Nguyễ Thị Cúc 16/01/1979
Trường TH Bình Sơn 1
Giáo
- Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học
sinh nâng cao kĩ năng nói (kể), viết đoạn văn của phân môn Tập làm văn lớp 2” ở
Trường tiểu học Bình Sơn 1, năm học 2018-2019.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Tác nghiệp trong giáo dục
- Ngày sáng kiến được áp dụng: Từ ngày 12/9/2018
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Phân môn Tập làm văn là một phân môn có vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hình thành văn bản nói và viết Đây là một phân môn khó dạy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp để tiết học tự nhiên, nhẹ nhàng và
có hiệu quả
Các hoạt động liên quan đến dạy Tập làm văn gồm hai thể loại chính, đó là: nói và viết Vì vậy, việc dạy học sinh nói, viết tốt một đoạn văn ngay từ khi còn ở những lớp nhỏ cũng là xây dựng cho các em một nền móng vững chắc để tạo hứng thú hơn trong việc học tốt môn Tập làm văn các lớp sau này
Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong các Hoạt động có nội dung Tập làm văn
Theo phương pháp dạy học truyền thống: Học sinh quan sát theo hướng dẫn giảng giải thuyết trình của giáo viên là chính Phương pháp này học sinh rất nhanh quên, còn phụ thuộc, ỉ lại vào giáo viên.
Để giúp học sinh nhớ lâu, tích cực chủ động quan sát, giáo viên cần giúp học sinh tự quan sát kĩ tranh ảnh, thảo luận cùng bạn, giáo viên đặt ra các tình huống gợi
mở để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tự học của học sinh bằng cách
* Kết hợp phương pháp quan sát và hỏi đáp
Kỹ năng quan sát của học sinh rất cần khi các em viết văn: Giáo viên cần giúp
đỡ học sinh khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của
Trang 9đối tượng, mục đích là giúp học sinh tránh được kiểu kể theo liệt kê Ví dụ: Kể về gia đình ( BT 4 trang 126) tôi sẽ cho học sinh quan sát tranh ảnh sau và đặt câu hỏi gợi mở để phát huy tính tích cực của học sinh như: Kể tên những người trong gia đình em? Hoặc gia đình em gồm có những ai? Gia đình em gồm có mấy người?
Bên cạnh đó, tôi cũng định hướng cho học sinh quan sát bằng các giác quan
để cảm nhận một cách có cảm xúc về tranh ảnh, sự vật.
* Phương pháp thực hành giao tiếp
Thông qua các bài tập, giáo viên đa số lệnh cho học sinh chỉ làm theo yêu cầu.
Như vậy, học sinh không thể phát huy được kĩ năng làm bài hoặc rập khuôn máy móc.
Để áp dụng phương pháp dạy học tích cực, phát huy khả năng tự học của học sinh, tôi rèn cho học sinh kỹ năng nói, trình bày miệng bài nói trước khi làm bài viết một cách tự tin
Ví dụ: Bài 1A Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 2( tập 1 trang 3) Hoạt động 4:
Tự giới thiệu về mình trước nhóm, trước lớp như sau:
- Tôi là Trần Ngọc Giang.
- Sinh ngày 2 tháng 4 năm 2011.
- Tôi thích múa, thích học Tiếng Việt.
- Sau này tôi muốn trở thành cô giáo
* Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu
Giáo viên cần cung cấp, giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần chuẩn bị vốn từ cho chu đáo để giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn.
Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về người thân thì học sinh sẽ có nhiều bài làm
khác nhau Giáo viên cần giúp học sinh chọn lựa từ ngữ cho phù hợp Khi kể về bố
là công nhân thì từ ngữ sử dụng phải khác với bài viết bố là bộ đội; viết về tình cảm của em đối với cha mẹ, ông bà thì từ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình
đối với bạn bè; viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình
minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum họp, quây quần…; để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa… Giáo viên cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để hướng dẫn học sinh vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết.
Giúp học sinh nắm chắc nội dung, yêu cầu của đề
Đây là bước học sinh phải biết định hình cụ thể đối tượng nói (kể), viết trong chủ điểm nào Để thực hiện việc này tôi sử dụng như sau:
Kể mẩu chuyện nhỏ, tạo tình huống, đặt câu hỏi hướng các em đến đề tài.
Trang 10Dùng tranh ảnh, mẫu vật thật hoặc mô hình.
* Ví dụ: Dạy về chủ điểm Thầy cô có dạng bài Nói, viết về cô giáo hoặc thầy giáo cũ của em, Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 2 – Tập 1 Bài 8A: Thầy cô luôn
yêu thương em Hoạt động 1 trang 71 Để thu hút sự chú ý của học sinh cả lớp tôi
chuẩn bị các tranh ảnh minh họa sau:
Đặt câu hỏi gợi mở giúp các em tìm đến đối tượng của mình:
+ Cô giáo ( hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
+ Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô (hoặc thầy)?
Qua đó các em sẽ nhớ lại những thầy cô đã dạy mình và lựa chọn được đối tượng Nói , viết một cách cụ thể, gần gũi và thực tế.
Phát huy khả năng mở rộng vốn từ cho học sinh
Đây là bước các em tập trung nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung chủ
đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến đối tượng ấy Khi tiến hành hoạt động này tôi đã làm như sau:
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý Các câu hỏi đưa ra luôn mang tính chất mở, hướng đến việc khơi gợi kinh nghiệm riêng của các em.
- Đưa ra một khung mạng trong đó cho sẵn ý của chủ đề, phần còn lại để học sinh suy nghĩ và đưa thêm ý vào hoàn thành mạng riêng của mình.
* Ví dụ 1: Dạy bài: Kể về người thân trong gia đình (Tuần 13 BT4TV2 -Tập1 trang 126) Đối với bài tập này, ngoài những gợi ý trong sách giáo khoa tôi chuẩn bị một bảng phụ kẻ khung mạng như sau:
- Tôi yêu cầu học sinh suy nghĩ về gia đình và viết ra bất kỳ những từ ngữ nào liên quan đến gia đình Sau đó treo bảng phụ lên để các em nêu miệng các cụm
từ về gia đình Tôi ghi vào khung chủ đề cụm từ “gia đình” do học sinh cung cấp
Gia đình tớ
Làm ruộng,(giáo viên)
Bố mẹ, ông bà
Học sinh
Hạnh phúc
Anh chị, em
Dạy dỗ Chăm sóc