Hiện nay trong những giờ dạy học Tiếng Việt phần lớn giáo viên đều chưa biết nhiều về lý thuyết hoạt động giao tiếp, chưa có một hình thức tổ chức giao tiếp cho hiệu quả, chưa nhận thức
Trang 11
Vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp vào dạy các
bài phong cách học lớp 10 Trung học phổ thông
Applying theory of communicative activities to teach the style in grade 10 high school
NXB H : ĐHGD, 2012 Số trang 96 tr +
Nguyễn Thị Phương Loan
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học(Bộ môn Ngữ văn);
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: GS.TS Đỗ Việt Hùng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội
dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp cũng như kiểu loại bài Tiếng Việt,
mục tiêu và phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 10 Vận dụng thiết kế bài Tiếng Việt 10 theo
quan điểm giao tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới
Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy bài phong cách học Tiếng Việt
theo quan điểm áp dụng cơ sở lý thuyết giao tiếp
Keywords: Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Hoạt động giao tiếp; Lớp 10
Content
1 Lí do chọn đề tài
Trong các môn học ở nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn nói chung hay Tiếng Việt nói riêng là
một trong những môn học quan trọng, nó giúp học sinh sử dụng đúng và linh hoạt từ ngữ, ứng dụng
một cách có hiệu quả vào trong hoạt động giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày
Nhờ có môn học này mà học sinh có thể biết cách sử dụng đúng và hay vốn ngôn ngữ của mình
sao cho phù hợp với nội dung cần diễn đạt
Những năm gần đây, chương trình đã có sự thay đổi, từ 3 môn học riêng biệt: Văn học, Tiếng việt và
Tập làm văn đã được hợp nhất thành bộ môn Ngữ văn, dạy và học theo quan điểm tích hợp Như vậy,
ở cấp học Trung học phổ thông Tiếng Việt không còn là một môn học riêng mà chỉ đan xen thành từng
bài trong môn Ngữ văn Việc dạy Tiếng Việt chưa được chú trọng nhiều Có nhiều ý kiến cho rằng dạy
học văn hiện nay có nhiều khó khăn, cho nên, các thầy cô chỉ chú trọng vào dạy văn, dạy học sinh cảm
thụ văn học còn phần Tiếng Việt có phần lơ là
Có rất nhiều nghiên cứu đưa ra phương pháp dạy học làm văn, Tiếng Việt ở phổ thông: phương
pháp giao tiếp, phương pháp vận động, phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh Trong đó,
phương pháp giao tiếp được coi là quan trọng hàng đầu Khi dạy Tiếng Việt, thay vì lý thuyết nhàm
Trang 22
chán, người giáo viên có thể vận dụng ngay những lý thuyết ấy vào hoạt động giao tiếp hàng ngày để các
em hiểu và áp dụng Phương pháp này sẽ tạo hứng thú riêng cho các em, vừa để các em phát huy vốn ngôn ngữ sẵn có của mình, vừa để các em luyện tập trau dồi và học hỏi thêm dựa vào tri thức thực tế
Hiện nay trong những giờ dạy học Tiếng Việt phần lớn giáo viên đều chưa biết nhiều về lý thuyết hoạt động giao tiếp, chưa có một hình thức tổ chức giao tiếp cho hiệu quả, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng phương pháp này vào bài dạy Tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Họ cho rằng cần phải tập trung vào việc phát triển năng lực giao tiếp hơn là chỉ dạy cho người học cách nắm vững các cấu trúc Các học giả đầu tiên chủ trương quan điểm này là Widdowson H.G (1972), Wilkins D.A (1972), Candlin C.N (1976), Brumfit C.J và Johnsonk (1979) Họ đã dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học chức năng Anh (John Firth M.A.K Halliday (1970)), công trình nghiên cứu về
xã hội học của các nhà nghiên cứu Mĩ (Hymes D và Gumperz J.J (1972), Labov W (1972)) và các kết quả nghiên cứu ngữ dụng học của Austin J.L (1962) và Searle J.R (1969), để đề ra cơ sở lí luận cho đường hướng dạy học tiếng theo quan điểm chức năng hay còn gọi là quan điểm giao tiếp Từ giữa những năm 70 đường hướng dạy học theo quan điểm này được phát triển rộng rãi ở Anh và Mĩ Mục đích chính của nó là làm cho năng lực giao tiếp trở thành mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng
Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã nói “ Phương pháp giao tiếp là phương pháp quan trọng
trong dạy học Tiếng việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [Lê A 2006 69-70] Đặc biệt các tác giả còn nhấn mạnh “ Phương pháp này có thể được
áp dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài học thuộc phân môn Tiếng việt “ [Lê
A 2006 70]
Trịnh Thị Lan có bài viết khá hay về Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập tiếng việt dưới ánh
sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp “Theo quan điểm dạy học tiếng việt hướng vào hoạt động giao
tiếp, việc thiết kế bài tập tiếng việt phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho học sinh Dạy học Tiếng Việt sử dụng phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổ chức dạy học quan trọng nhất Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” (http://nguvan.hnue.edu.vn)
Một trong số những người nghiên cứu về dạy Tiếng Việt trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp - Lê Thị Bích Hồng đã khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình huống giao tiếp trong dạy Tiếng
Việt: “Trong dạy học, để giúp học sinh tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm
của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, giáo viên cần xây dựng các
Trang 33
tình huống giao tiếp” (Dạy học Nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp, Giáo dục,
số 175, kì 2 – 10/2007) Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những định nghĩa tương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũng như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy Tiếng Việt
3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến những đối tượng sau:
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Trung học phổ thông, cụ thể là lớp 10, nghiên cứu những yếu tố còn tồn đọng gây khó khăn cho việc dạy và học Tiếng Việt Từ đó đề ra hướng khắc phục và những giải pháp
để dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả Ở đây người viết sẽ đi sâu vào những giải pháp gắn liền với hoạt động giao tiếp
- Đề xuất quy trình, cách thức tổ chức hoạt động dạy học dựa trên cơ sở về lý thuyết giao tiếp và thử nghiệm vận dụng vào thực tế khi tiến hành dạy học một số bài thuộc phân môn Tiếng Việt ở lớp 10 theo quan điểm giao tiếp
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:
- Mức độ truyền đạt nội dung lí thuyết, nội dung thực hành Tiếng Việt của giáo viên trên lớp và mức độ hiểu, vận dụng lí thuyết vào thực hành Tiếng Việt của học sinh
- Khả năng học sinh vận dụng những kiến thức Tiếng Việt đã biết vào trong sinh hoạt hàng ngày; khả năng sử dụng linh hoạt Tiếng Việt vào từng hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau
- Nghiên cứu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tố chi phối quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp
- Nghiên cứu nội dung, kiểu loại bài Tiếng Việt, mục tiêu, phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 10
- Vận dụng thiết kế bài Tiếng Việt 10 theo quan điểm giao tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới
- Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy bài phong cách học Tiếng Việt theo quan điểm áp dụng cơ sở lý thuyết giao tiếp
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
Trang 44
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
vào dạy học bài phong cách học Tiếng Việt 10 Trung học phổ thông
Chương 2: Định hướng dạy các bài phong cách học theo lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Chương 3: Thực nghiệm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuât hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở
thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt
Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn
ngữ” Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững
những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ…của ngôn ngữ đó Còn năng lực giao tiếp đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình
mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp
Giao tiếp với tư cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củng cố mối quan hệ
và được sử dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng được sản sinh trong một tình huống cụ thể
có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình huống ấy
Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp
Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói nhất định hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn…
Trang 55
Việc hình thành ý định lời nói xảy ra trước khi sản sinh hành vi lời nói Khi hình thành ý định lời nói
có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tượng giao tiếp, địa điểm và thời gian của phát ngôn
1.1.2 Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ
Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.S.Vư-gootsxki và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt.Từ đó suy ra đơn vị dạy- học ngôn ngữ phải là hành động lời nói
Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì?, Dạy để làm gì? và
Dạy như thế nào? Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các mặt chức năng và hình
thức của nó là đều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng Nếu mục đích của việc dạy- học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lý học Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Tâm lý ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người
Quan hệ của phương pháp học Tiếng Việt và Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý người nói chung và tâm lý học sinh trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em
1.1.3 Cơ sở giáo dục học
Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Mục đích của phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở phương pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do Giáo dục học đề ra- phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động trong phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học…
Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này theo đặc trưng riêng của mình
Trang 66
Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở Giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như bài học và các hình thức khác Các phương pháp dạy học cơ bản- phương pháp dạy học bằng lời, bài tập, dạy học nêu vấn đề…đều có mặt trong giờ Tiếng Việt
1.1.4 Lý thuyết về hoạt động giao tiếp
1.1.4.1 Giao tiếp và các hình thức giao tiếp
“Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc…nhằm thiết ,lập quan hệ, sự hiểu
biêt, cộng tác…giữa các thành viên trong xã hội…Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), ký mã (phát thông tin) Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức: khẩu ngữ (nghe, nói), bút ngữ (đọc,viết)” (Sách GV Tiếng Việt 5, tập 1, trang 6)
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng những phương tiện khác nhau, như hội họa, âm nhạc, điêu khắc, …Nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người
1.1.4.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
* Khái niệm về hoạt động giao tiếp – giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm giữa người
và người Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yếu tố ngôn ngữ do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền đạt thì người nghe phải lí giải các yếu tố ngôn ngữ này Kết thúc quá trình này cũng là kết thúc quá trình giao tiếp Văn bản trong hoạt động giao tiếp được tồn tại ở hai dạng là nói và viết
* Giao tiếp, một hiện tượng xã hội
Giao tiếp là hoạt động có tính vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tồn tại và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người cần phải giao tiếp với nhau Xã hội càng phát triển thì phương tiện giao tiếp của con người càng hiện đại Giao tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống
1.1.4.3 Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp
* Nhân vật giao tiếp
Là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố để lại dấu
ấn rõ nhất trong việc lựa chọn nội dung và cách thức trình bày một văn bản Người giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lý của học sinh trong lớp để tổ chức ngôn ngữ giảng dạy theo quan điểm giao tiếp cho phù hợp với từng đối tượng
* Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao tiếp Người tham gia giao
Trang 77
tiếp phải nắm rõ về nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao tiếp nhất định để thực hiện hoạt động giao tiếp
* Mục đích giao tiếp
Mục đích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được Mục đích giao tiếp là động lực giúp con người hướng đến và thực hiện hoạt động giao tiếp
* Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Đối với người Việt trong những hoạt động giao tiếp thông thường thì ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Cũng như các loại hình ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng được thể hiện ở cả hai dạng nói và viết Khi sử dụng tiếng Việt chúng ta còn cần phải chú ý đến các phong cách sử dụng vì mỗi phong cách sẽ quyết định việc lựa chọn những phương tiện giao tiếp cho phù hợp
* Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp
1.1.4.4 Các dạng lời nói và hoạt động giao tiếp
* Khẩu ngữ
Khẩu ngữ là ngôn ngữ của âm thanh Nó là một phương tiện trao đổi thông tin trong xã hội, có khả năng truyền cảm rất lớn
Khẩu ngữ đòi hỏi sự ứng xử linh hoạt về lời nói; so với bút ngữ, khẩu ngữ sử dụng câu ngắn hơn, có cấu tạo đơn giản hơn
Khẩu ngữ có hai dạng: lời đối thoại và lời độc thoại
* Bút ngữ
Bút ngữ là hình thức lời nói được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả trong giao tiếp xã hội Trong ngôn bản bút ngữ, cấu trúc câu thường đầy đủ và phức tạp hơn, các từ ngữ sách vở xuất hiện với tần suất cao hơn so với khẩu ngữ
Đặc trưng ngôn ngữ thể hiện rõ ở văn bản thơ và văn xuôi
1.1.4.5 Quá trình sản sinh và tiếp nhận lời nói trong hoạt động giao tiếp
* Quá trình sản sinh lời nói
Về bản chất, nói năng cũng là một hoạt động: hoạt động lời nói Các hành vi nói năng có biểu hiện rất đa dạng nhưng lại có một cấu trúc chung Cấu trúc này bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra kết quả
* Quá trình tiếp nhận lời nói
Tiếp nhận lời nói là hoạt động giải mã từ lời thành ý, là hoạt động nghe hoặc đọc để hiểu những
Trang 88
điều mà người nói, người viết thể hiện qua ngôn bản
1.1.4.6 Bản chất của quan điểm giao tiếp
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Quan điểm giao tiếp phù hợp với mục tiêu của môn học: môn ngôn ngữ nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng không phải chỉ có mục đích trang bị kiến thức khoa học về ngôn ngữ, về Tiếng Việt cho học sinh, mà điều quan trọng là rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt trong các hoạt động tư duy, giao tiếp
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng
Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng
Các mức độ về kiến thức, kĩ năng được thể hiện cụ thể trong chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
1.2.2 Thực trạng dạy và học Tiếng Việt lớp 10 hiện nay
Chúng tôi dạy thực nghiệm và dự giờ một số lớp ở các trường trung học phổ thông hiện nay thì
phần lớn là học sinh vùng nông thôn, mặt bằng dân trí thấp, gia đình phần lớn là nông dân, chuyện đọc sách báo, tư liệu tham khảo đối với các em còn khá xa lạ Một số có điều kiện hơn thì lại không chú tâm
tìm hiểu, học hỏi; đọc những loại sách báo mang chức năng giải trí, thoả mãn sự tò mò là chính
Khi hướng dẫn học sinh thực hành, nhiều giáo viên còn mang tâm lý “sợ” thoát ly kiến thức từ SGK, nên thiếu linh hoạt, ít sáng tạo, ít mở rộng phần luyện tập (có khi dạy tiết Tiếng Việt chưa hết 45 phút); có giáo viên chưa thực sự tâm huyết, đam mê với nghề nghiệp, lên lớp theo phương pháp cũ, thiếu sáng tạo, thiếu hấp dẫn nên hiệu quả đạt được so với mục tiêu bài học đặt ra chưa thực sự như ý muốn
CHƯƠNG 2 ĐỊNH HƯỚNG DẠY CÁC BÀI PHONG CÁCH HỌC THEO
LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 2.1 Nội dung chương trình Tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
Trong chương trình có những bài Tiếng Việt sau:
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
- Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
- Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
- Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối
Trang 99
- Viết quảng cáo
2.2 Quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học bài phong cách học Tiếng Việt 10
Giáo viên phải dạy cho học sinh được học, được tập giao tiếp ở trong bài học, ở lớp để rồi biết cách điều chỉnh giao tiếp trong thực tế cuộc sống hàng ngày
Dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp, giáo viên phải giúp học sinh được nói, được viết, được nêu nhận xét đánh giá; được tự nhận thấy cái đúng, cái sai trong cách nói, cách nhận xét, đánh giá của mình để khẳng định mình
2.3 Quan điểm giao tiếp với việc xác định các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cần rèn luyện cho học sinh 2.3.1 Kĩ năng tiếp nhận lời nói
2.3.1.1 Kỹ năng nghe
Kĩ năng nghe - phát hiện vấn đề chính trong văn bản, không phát hiện được cốt lõi vấn đề cần trình
bày, người nghe dễ bị sa vào những chi tiết bề ngoài mà không phát hiện được bản chất của vấn đề, từ
đó dẫn đến những nhận thức sai lầm khi lĩnh hội nội dung ngôn bản Kĩ năng nghe - ghi, để sử dụng
hiệu quả các điều nghe được, trong khi nghe, cần phải ghi chép
2.3.1.2 Kỹ năng đọc
Được chia làm 2 loại: đọc thành tiếng và đọc hiểu
2.3.2 Kĩ năng sản sinh lời nói
Có hai hình thức sản sinh lời nói: nói và viết Dù nói hay viết, dù tạo một ngôn bản hoàn chỉnh hay
một vài phát ngôn, hoạt động sản sinh lời nói vẫn cần thực hiện qua bốn giai đoạn: Kĩ năng định
hướng, Kĩ năng lập chương trình, Kĩ năng hiện thực hóa chương trình, Kĩ năng kiểm tra - điều chỉnh
2.4 Quan điểm giao tiếp với việc tổ chức dạy học bài phong cách học Tiếng Việt 10
2.4.1 Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn, sử dụng các phương pháp dạy
học Tiếng Việt
2.4.1.1 Phương pháp thảo luận nhóm
Mô tả phương pháp
Thảo luận là một dạng hoạt động mà trong đó các thành viên đều giải quyết một vấn đề
cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung
…… Cách tiến hành
Bước 1: Công tác chuẩn bị
Bước 2: Tiến trình lên lớp
* Tiến trình thực hiện
Yêu cầu về sư phạm: chia nhóm và cho thảo luận có hiệu quả
Ưu điểm: Hạn chế tối đa lối học thụ động của học sinh
Hạn chế: Lớp ồn (do các nhóm đều thảo luận)
2.4.1.2 Phương pháp phản ứng nhanh
Trang 1010
Mô tả phương pháp
Phản ứng nhanh là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận
Cách tiến hành: Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm Yêu cầu sư phạm: Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn
Ưu điểm: Nhờ không khí học tập cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên
bạo dạn hơn
Hạn chế: Lớp học ồn ào do nhiều học sinh cùng lúc nói ra các đáp án Học sinh đưa ra nhiều đáp
án không chính xác
2.4.1.3 Phương pháp đóng vai
Mô tả phương pháp
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được
Yêu cầu sư phạm: Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục, phù hợp với lứa tuổi,
trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
Ưu điểm: học sinh được rèn luyện thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi
trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
Hạn chế : Do không gian lớp học không rộng và thời lượng tiết học có hạn nên phương pháp này
sẽ ít có hiệu quả khi áp dụng ở lớp học
2.4.1.4 Phương pháp xử lí tình huống
Mô tả phương pháp
Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án khác nhau
Yêu cầu sư phạm: Trước khi soạn bài cần đọc kĩ loại bài Tiếng Việt (bài lý thuyết, bài
tập thực hành, bài ôn tập )
Ưu điểm: Kích thích học sinh tư duy, hoạt động tích cực trong học tập Hạn chế: Mất nhiều thời gian (giáo viên có thể bị “cháy” giáo án)
2.4.1.5 Phương pháp ứng dụng
Mô tả phương pháp
Là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình sản sinh lời nói trên cơ sở phân tích ảnh hưởng chi phối của các nhân tố giao tiếp tham gia vào quá trình
Ưu điểm: Là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất giúp học sinh nắm được các quy tắc sử dụng