Vận dụng lí thuyết hoạt động giao tiếp vào dạy học Tập làm văn 6
Trang 1Vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở
Nguyễn Ngọc Mai
Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận & Phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Việt Hùng
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tố chi phối quá trình giao
tiếp bằng ngôn ngữ như nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp Giúp giáo viên có cách ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức viết một bài văn Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp dạy làm văn lớp 6 Vận dụng thiết kế một số bài tập làm văn lớp 6 theo quan điểm giao tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ
và phương pháp mới Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy
làm văn theo quan điểm vận dụng lý thuyết giao tiếp
Keywords: Tập làm văn; Phương pháp giảng dạy; Môn ngữ văn; Trung học cơ sở;
Lớp 6; Hoạt động giao tiếp
Content
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt nói chung và Tập làm văn nói riêng nhằm mục đích cuối cùng là rèn cho học sinh sử dụng đúng, hay tiếng Việt vào hoạt động giao tiếp trong đời sống Có thể nói dạy tiếng Việt
là dạy cho học sinh cách sử dụng phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp Mặt khác, môn học này còn giúp cho học sinh tiếp nhận và diễn đạt những kiến thức khoa học trong nhà trường
Dạy làm văn ở trường trung học hiện nay gặp rất nhiều khó khăn Một bộ phận giáo viên dạy làm văn cho học sinh quá thiên về tri thức lý thuyết một cách máy móc mà quên rằng tất
cả những tri thức ấy cần được vận dụng trong đời sống thực tế Mặt khác, chương trình cũng không chú ý đến nhu cầu, thị hiếu của học sinh cho nên đa số nội dung của các bài làm văn
mà giáo viên đưa ra không gắn với thực tế đời sống mà chỉ nghiêng về những tác phẩm văn chương Trong dạy học nói chung và dạy làm văn nói riêng, phương pháp giao tiếp ngày càng được thể hiện dưới những hình thức đa dạng khác nhau Kết quả của một giờ làm văn không
Trang 2phải chỉ cho học sinh nắm được nội dung bài học theo lý thuyết suông mà còn phải biết ứng dụng vào các hoạt động giao tiếp trong thực tế đời sống Vì vậy, kể từ khi quan điểm giao tiếp được đưa vào trong phương pháp dạy học thì kết quả dạy làm văn đã đạt được những bước tiến đáng kể so với trước đó Phương pháp giao tiếp sẽ phát huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh, phát huy tư duy sáng tạo, đồng thời tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học làm văn Hiện nay, chúng ta đã khẳng định tính ưu việt của phương pháp giao tiếp trong việc dạy làm văn nhưng việc dạy và học làm văn ở trường phổ thông vẫn còn hạn chế Phần lớn giáo viên đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp nhưng lại không nắm được lý thuyết về giao tiếp, chưa tổ chức được những hình thức giao tiếp, chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng, hiệu quả của phương pháp này, đặc biệt là trong dạy làm văn Điều này đã làm hạn chế rất nhiều đến kết quả dạy và học làm văn
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Quang Ninh trong sách “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo
hướng giao tiếp” khi nói về việc dạy làm văn, tác giả đã nêu lên những nhược điểm của dạy
làm văn nói theo định hướng giao tiếp Ở bài viết này ông cũng đã đưa ra những đặc điểm của ngôn bản nói và ngôn bản viết Từ những đặc điểm đó giúp cho người dạy tìm ra những phương pháp dạy làm văn phù hợp với quan điểm giao tiếp
Trong sách “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên cứu và lý thuyết về
dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng” Wilbrt J.Mckeachie đã cho rằng
việc dạy học theo quan điểm giao tiếp được áp dụng rộng rãi ở tất cả các môn học Để có thể hướng quá trình dạy học vào hoạt động giao tiếp thì người giáo viên cần thiết phải tạo ra những tình huống có vấn đề để học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp Đây là nhận định có ý nghĩa quan trọng để người giáo viên có thể tổ chức quá trình dạy học tiếng Việt, làm văn đạt hiệu quả cao
Trần Đình Chung khi bàn về quan điểm dạy học làm văn đã cho rằng phương pháp dạy học tích hợp là lấy các dữ liệu từ các nội dung bài học thuộc các phân môn liên quan Chính các dữ liệu này sẽ góp phần khơi gợi hứng thú, củng cố các kiến thức đã học Từ đây cho thấy quan điểm giao tiếp trong dạy học nói chung, dạy làm văn nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng
đó là thực hành những văn bản góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của phương pháp giao tiếp Phương pháp này có thể giúp cho học sinh vận dụng được những lý thuyết đã học để
Trang 3thực hành các văn bản trong quá trình giao tiếp Phương pháp giao tiếp là phương pháp có vai trò rất lớn và đang được sử dụng rộng rãi trong việc dạy tiếng Việt nói chung và phân môn Làm văn nói riêng
Nguyễn Trí trong sách “Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học” đã đưa ra những cách lập
đúng chương trình lời nói Ở bài viết này, tác giả cũng chú ý đến mục đích của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Bên cạnh đó khi nói về mục đích của môn Làm văn tác giả cũng nhấn
mạnh “Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kĩ năng sản sinh ngôn bản nói và viết
Không học tốt Tập làm văn khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ bị hạn chế” Điều đó
có nghĩa là mục đích cuối cùng của môn Làm văn là giúp cho học sinh có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp, học làm văn tốt sẽ giúp cho học sinh có kĩ năng nói và viết thành thạo hơn
Tác giả Phan Thị Thủy cho rằng một bài làm văn trở nên sinh động khi nó bộc lộ được tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của học sinh Muốn đạt được điều này cần phải phát huy tư duy, sáng tạo của mỗi học sinh Cho nên chúng ta cần hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp Ở quan điểm này, tác giả đã đưa ra những đặc điểm cụ thể của một bài làm văn theo quan điểm giao tiếp Mục đích này cũng là mục đích cần phải có khi tiến hành các phương pháp dạy học mới
3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến những đối tượng sau:
- Phương pháp dạy học Tập làm văn khối Trung học cơ sở, cụ thể là lớp 6, nghiên cứu những yếu tố còn tồn đọng gây khó khăn cho việc dạy và học làm văn Từ đó đề ra hướng khắc phục và những giải pháp để dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả
- Những yêu cầu mà người giáo viên cần phải có để có thể dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả như: tri thức về các kiểu bài, phong cách ngôn ngữ, ngữ pháp văn bản, nắm vững phương pháp dạy tiếng Việt, làm văn
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau
- Phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp, người viết chỉ tập trung vào những phương pháp nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp trong quá trình dạy học
- Phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 6, bài: “Luyện tập xây dựng bài tự sự - Kể chuyện đời thường” Đề tài sẽ thiết kế và thực nghiệm trên bài giảng theo phương pháp truyền
Trang 4thống và phương pháp vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau
- Nghiên cứu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tố chi phối quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó giúp giáo viên có cách ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức viết một bài làm văn
- Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp dạy làm văn lớp 6
- Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 theo quan điểm giao tiếp, thực nghiệm
so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới
- Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy làm văn theo quan điểm vận dụng lý thuyết giao tiếp
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
-
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở
Chương 2: Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 theo lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Chương 3: Thực nghiệm
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
Trang 51.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội
1.1.1.1 Giao tiếp, nhu cầu thiết yếu của con người
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người và là phương thức tồn tại phát triển của xã hội Giao tiếp trái lại để giữ vững các mối quan hệ đó Trong hoạt động giao tiếp con người vừa có thể tiếp nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản hồi những ý kiến của bản thân Chính sự phản hồi này là điều kiện để người giao tiếp điều chỉnh nội dung giao tiếp cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng Giao tiếp với tự nhiên và giao tiếp trong xã hội Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mình Giao tiếp trong
xã hội mang tính chất đa dạng, phong phú, con người có thể giao tiếp trong mọi hoàn cảnh Con người còn có khả năng giao tiếp với người xưa Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng những hiểu biết mang tính lí luận, khoa học
Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự do lựa chon vốn ngôn ngữ riêng cho bản thân mình Cho nên khi nói ta phải biết lựa những lời nói nào cho phù hợp nhất để không những truyền đạt được thông tin mà còn tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin
1.1.1.2 Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng, phương tiện giao tiếp cũng hết sức đa dạng Theo các nhà kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiện giao tiếp chia thành hai nhóm
đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng ngôn ngữ gọi là các yếu tố phi ngôn ngữ
Nếu yếu tố phi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong giao tiếp thì còn ngôn ngữ lại là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Chỉ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mới giúp người ta hiểu được nội dung một cách chính xác và đầy đủ nhất
Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
1.1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.2.1 Khái niệm về hoạt động giao tiếp – giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm giữa
Trang 6người và người Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yếu tố ngôn ngữ
do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền đạt thì người nghe phải
lí giải các yếu tố ngôn ngữ này Kết thúc quá trình này cũng là kết thúc quá trình giao tiếp Văn bản trong hoạt động giao tiếp được tồn tại ở hai dạng là nói và viết
1.1.2.2 Giao tiếp, một hiện tượng xã hội
Giao tiếp là hoạt động có tính vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tồn tại và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người cần phải giao tiếp với nhau Xã hội càng phát triển thì phương tiện giao tiếp của con người càng hiện đại Giao tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống
1.1.3 Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp
1.1.3.1 Nhân vật giao tiếp
Là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và cách thức trình bày một văn bản Là một người giáo viên phải nắm rõ đặc điểm học sinh lớp mình để tổ chức ngôn ngữ giảng dạy theo quan điểm giao tiếp cho phù hợp với từng đối tượng Đồng thời phải tạo được vị thế cho bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến học sinh
1.1.3.2 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao tiếp Đ ể có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thì những người tham gia giao tiếp phải nắm rõ về nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao tiếp nhất định
1.1.3.3 Mục đích giao tiếp
Mục đích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nào đó Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được
1.1.3.4 Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Đối với người Việt trong những hoạt động giao
Trang 7tiếp thông thường thì ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Khi sử dụng tiếng Việt chúng ta còn cần phải chú ý đến các phong cách sử dụng vì mỗi phong cách sẽ quyết định việc lựa chọn những phương tiện giao tiếp cho phù hợp
1.1.3.5 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp
1.1.4 Giao tiếp và việc dạy - học làm văn để giao tiếp
(1) Dạy tiếng Việt và làm văn là dạy học sinh rèn luyện và nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp - sản sinh văn bản làm phương tiện giao tiếp
(2) Dạy làm văn không phải chỉ dạy hình thức bài văn đúng phong cách mà quan trọng là nội dung có ý hay, đẹp
(3) Giáo viên phải cho học sinh chú ý đến mục đích viết bài làm văn Điều này liên quan đến việc ra đề Trong đề văn có thể có yêu cầu người viết trình bày rõ vấn đề để làm gì hoặc không yêu cầu cụ thể nhưng cần cho học sinh ý thức được mục đích của bài làm văn của mình
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tập làm văn và vai trò của môn Tập làm văn trong dạy học Ngữ văn Trung học cơ
sở
Môn tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là dạy học sinh sản sinh ra các ngôn bản và viết Tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời sống, trình độ văn hoá của học sinh Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích thực của việc học Tiếng Việt
Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt xét trên hai phương diện: rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt và sản sinh ngôn bản
1.2.2 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh 6 Trung học cơ sở
Học sinh lớp 6 Trung học cơ sở là học sinh vừa mới chuyển cấp, với đặc điểm tâm lý nổi bật ở lứa tuổi này là ý thức tự khẳng định mình, muốn tự lực độc lập trong mọi hoạt động Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về cả thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời
Trang 8thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: Thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… Chính vì vậy, giáo viên cần lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi lớ p 6 này
1.2.2.1 Đặc điểm học tập của học sinh Trung học cơ sở
Hoạt động nhận thức cơ bản của lứa tuổi lớp 6 là hoạt động học tập trong nhà trường
So với học sinh tiểu học, hoạt động học tập của học sinh lớp 6 Trung học cơ sở đã có những biến đổi phù hợp với ý thức tập làm người lớn
1.2.2.2 Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh Trung học cơ sở
Học sinh lớp 6, tính chủ động được phát triển mạnh mẽ trong các quá trình nhận thức, tri giác có mục đích cũng đã phát triển Ở lứa tuổi này, do đặc điểm phát triển tâm sinh lý hầu hết các em có nhu cầu hiểu biết, độc lập suy nghĩ trong học tập, nhu cầu nâng cao nhận thức nên đòi hỏi phải có những cải tiến trong hoạt động học tập trong nhà trường cho phù hợp với nhu cầu phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh
1.2.3 Đặc điểm của môn Tập làm văn 6
Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 nằm trong bộ sách giáo khoa Ngữ Văn trung học cơ sở được biên soạn theo hướng tích hợp: sát nhập ba phân môn (Văn, Tiếng Việt, Tập Làm Văn) vào một chỉnh thể Ngữ Văn Mỗi bài học, đơn vị của Sách giáo khoa đ ều đủ ba phần Trong đó, phần Phần Tập làm văn gồm 35 tiết tương ứng với 35 tuần học, được xếp sau các phân môn Văn, Tiếng Việt để hình thành, rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và tạo lập văn bản cho học sinh
Chương trình Tập làm văn lớp 6 bao gồm 2 chủ đề cơ bản là
- Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản
- Các kiểu văn bản: Bao gồm hai kiểu văn bản chính là miêu tả và tự sự, và làm quen với một phần văn bản hành chính công vụ
1.2.4 Thực trạng dạy học môn Tập làm văn ở trường Trung học cơ sở hiện nay
Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nói chung, chương trình Ngữ văn lớp 6 nói riêng, có rất nhiều tiết Tập làm văn và đặc biệt ở chương trình sách giáo khoa lớp 6 được triển khai 2 thể loại văn đó là tự sự và miêu tả và nhà biên soạn cũng coi trọng mối quan hệ
đồng qui, đã gắn bó với ba phân môn Văn - Tiếng - Tập làm văn và cũng vạch ra định hướng
kết nối hệ thống tri thức trong từng phân môn, thậm chí, kiến thức của môn Ngữ văn có thể
Trang 9được kết nối với kiến thức của các môn khoa học khác Nhưng qua thực tế, chúng ta thấy năng lực cảm thụ văn chương và đưa văn chương vào cuộc sống của đại đa số các em lớp 6 còn yếu Việc học Tập làm văn lớp 6 ở trường Trung học cơ sở hiện nay vẫn còn chưa được thực hiện đảm bảo đầy đủ các nhân tố giao tiếp, từ khâu hướng dẫn, ra đề đến làm bài và đánh giá kết quả bài làm của học sinh Trong các tiết hướng dẫn làm bài và ra đề thi/kiểm tra, giáo viên đôi khi chỉ chú trọng đến nội dung giao tiếp mà không hướng học sinh tiếp cận mục đích, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp
CHƯƠNG 2
DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 6 TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO QUAN ĐIỂM
GIAO TIẾP 2.1 Vấn đề dạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm giao tiếp
Chương trình dạy học môn ngữ văn mới ở Trung học cơ sở được xây dựng theo quan điểm tích hợp Có sáu kiểu văn bản (tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh , lập luận (nghị
luận), điều hành (hành chính - công vụ) được lựa chọn làm trục đồng quy Nội dung dạy làm
văn cũng tập trung vào 6 kiểu văn bản này Cấu trúc của chương trình đổi mới theo hướng : tăng thực hành, giảm lý thuyết nhằm tạo cho học sinh cơ hội luyện tập, rèn kỹ năng tạo lập văn bản;hình thành và phát huy năng lực độc lập,sáng tạo
Khi thực hiện chương trình này, giáo viên cần lực chọn những phương pháp và biện pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh có năng lực tiếp nhận và tạo lập sáu kiểu văn bản nói trên ở cả hai dạng: nói và viết Các em không chỉ biết tạo lập văn bản phù hợp với mục đích, hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp; mà còn biết tự đánh giá , tự điều chỉnh cách nói, cách viết của mình
1 Dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sở là dạy cách tổ chức giao tiếp, hay nói cụ thể là dạy cách thức tổ chức giao tiếp bằng văn bản
2 Theo quan điểm giao tiếp, việc giao tiếp bằng văn bản không chỉ đơn thuần nhằm mục đích thông tin mà chủ yếu là quá trình tác động đến người nhận về nhận thức, quan điểm thểm
mỹ và hành động
Nói tóm lại, dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp cho học sinh là phát huy vai trò độc lập, sáng tạo, suy nghĩ của học sinh trong việc làm văn Tính chủ động, sáng tạo này được thể hiện rõ thông qua dấu ấn chủ quan của các em trong việc tạo lập văn bản
2.2 Các dạng bài Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở và hướng tiếp cận
Trang 102.2.1.Dạng bài tự sự
2.2.1.1.Đặc điểm cơ bản của hình thức tự sự
Sách Ngữ Văn 6 tập 1 trang 28 nêu khái niệm về văn “Tự sự là phương thức trình bày
một chuỗi các sự kiện, sự việc này dẫn đến sự việc khác cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa”
2.2.1.2.Các yêu cầu trong bài văn tự sự
Trong văn tự sự cần phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Ngôn ngữ trong văn tự sự (lời kể, văn kể) có các lọai cơ bản như:
Lời dẫn truyện của người kể
Lời nói của nhân vật trong truyện
- Cách thức tự sự: để có câu chuyện hay, người kể (Học sinh) cần phải nắm vững các bước sau:
Đọc, tìm hiểu và cảm thụ câu chuyện
Chọn ngôn từ và ngữ điệu kể (tùy theo tính cách từng nhân vật)
Nét mặt, cử chỉ, điệu bộ và các biện pháp hỗ trợ khác của người kể (lời kể)
2.2.1.3.Cách làm bài văn tự sự lớp 6 Trung học cơ sở
- Với dạng bài: Kể lại một câu chuyện đã được học bằng lời văn của em
Yêu cầu cốt truyện không thay đổi
Chú ý phần sáng tạo trong mở bài và kết luận
Diễn đạt sự việc bằng lời văn của cá nhân cho linh hoạt trong sáng
- Với dạng bài: Kể về người
Chú ý tránh nhầm sang văn tả người bằng cách kể về công việc, những hành động, sự việc
mà người đó đã làm như thế nào Giới thiệu về hình dáng tính cách thể hiện đan xen trong lời kể việc, tránh sa đà vào miêu tả nhân vật đó
- Với bài: Kể về sự việc đời thường
Biết hình dung trình tự sự việc cho xác thực, phù hợp với thực tế
Sắp xếp sự việc theo thứ tự nhằm nổi bật ý nghĩa câu chuyện