1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường đại học kinh tế ĐHQGHN

17 444 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
Tác giả Trịnh Thị Kim Anh
Người hướng dẫn PGS. TS Phùng Xuân Nhạ
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 577,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các trường đại học của Việt Nam cũng như trên thế giới, để có NNL giảng dạy lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chương trình đào tạo, cần

Trang 1

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại

trường Đại học Kinh tế- ĐHQGHN TRAINING AND HUMAN RESOURCE DEVELOPMENT FOR TEACHING IN COLLEGE OF

ECONOMICS – VIET NAM NATIONAL UNIVERSITY NXB H : ĐHKT, 2012 Số trang 90 tr +

Trịnh Thị Kim Anh

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học kinh tế Luận văn ThS ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 60 34 05 Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Phùng Xuân Nhạ

Năm bảo vệ: 2009

Abstract Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo và phát triển NNL và NNL

giảng dạy trong các trường đại học Đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển NNL tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển NNL tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN

Keywords: Quản trị kinh doanh; Nguồn nhân lực; Giáo dục đại học

Content

MỞ ĐẦU

Nguồn nhân lực (NNL) là vốn quý nhất của bất cứ một xã hội hay một tổ chức nào Chỉ khi nào nguồn nhân lực được tuyển dụng đầy đủ và sử dụng một cách có hiệu quả thì tổ chức ấy mới có thể hoạt động một cách trơn tru và đạt được những thành công như mong đợi

Đối với các trường đại học của Việt Nam cũng như trên thế giới, để có NNL giảng dạy lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chương trình đào tạo, cần phải thực hiện đồng thời nhiều công việc Một trong số đó là công tác tuyển dụng, đào tạo và phát triển NNL giảng dạy Tuyển dụng, đào tạo và phát triển NNL giảng dạy giúp cho các trường đại học có thể nâng cao cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời cũng tạo điều kiện để có thể thu hút, giữ chân và thúc đẩy người lao động làm việc cũng như cống hiến vì mục tiêu chung

Với mục tiêu trở thành một trường đại học định hướng nghiên cứu, đào tạo NNL chất lượng cao trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, Trường ĐHKT (mặc dù mới được thành lập từ năm 2007) đã được xã hội biết đến như là một trường đại học trẻ, năng động, có tầm nhìn và quyết tâm phát triển theo hướng chất lượng và đẳng cấp quốc tế

Được thành lập sau, Trường Đại học Kinh tế phải đối mặt không ít thách thức: (i) sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các trường đại học kinh tế lớn trong nước (Trường Đại học Kinh tế

Trang 2

Quốc dân, Ngoại Thương, Học viện Tài chính, …); (ii) nguy cơ chia sẻ nguồn lực và thị trường giáo dục ở Việt Nam do tác động của xu hướng toàn cầu hoá giáo dục và tác động của việc gia nhập Tổ

chức Thương mại Thế giới (WTO) (Từ năm 2009, các trường đại học nước ngoài sẽ được phép mở

chi nhánh đào tạo ở Việt Nam); (iii) đòi hỏi của xã hội và nền kinh tế đối với chất lượng giáo dục,

nghiên cứu và tư vấn chính sách ngày càng cao trong khi các điều kiện thực hiện và đảm bảo chất lượng của Nhà trường còn hạn chế, tư duy quản lý của hệ thống giáo dục đại học vẫn còn bị ảnh hưởng khá nặng của cơ chế bao cấp

Đứng trước thời cơ nhưng cũng nhiều thách thức, Trường Đại học Kinh tế đã chọn vấn đề đào tạo và phát triển NNL là vấn đề mấu chốt để khắc phục khó khăn trước mắt nhưng phát huy được lợi thế của người đi sau trong việc hiện thực hoá mục tiêu đã đặt ra

Hiện nay, NNL giảng dạy của Trường đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển (về số lượng, chuẩn trình độ và yêu cầu của mục tiêu chiến lược) Yêu cầu về đào tạo và phát triển giảng viên theo chuẩn trình độ và gắn với mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường là vấn đề được Ban Giám hiệu xác định là trọng tâm cần giải quyết trong công tác nhân sự

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy

tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Luận văn cố

gắng giải đáp câu hỏi giải pháp nào về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế? giải pháp nào là then chốt?

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 Khái niệm, vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học

1.1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy

Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy:

Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong trường đại học có thể được nhìn nhận từ 2 giác độ

- Từ giác độ của tổ chức: là từ một mảng hoạt động của công tác quản trị NNL của tổ chức nhằm tăng cường và mở rộng năng lực của đội ngũ giảng viên, đáp ứng đòi hỏi của nhà trường

- Từ giác độ cá nhân người giảng viên đáp ứng đòi hỏi về quá trình phát triển nghề nghiệp của người giảng viên

1.1.2 Vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học

a) Nâng cao năng suất, tăng hiệu quả công việc NNL giảng dạy trong trường được đào tạo và phát triển sẽ tạo điều kiện cho họ có thể thực hiện công việc nhanh chóng với nhiều sáng kiến hơn

Trang 3

b) Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc sẽ góp phần làm giảm bớt sự giám sát của đơn vị, như vậy cũng làm giảm bớt áp lực với người lao động

c) Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức Công tác đào tạo và phát triển giúp cho đơn vị

có cơ hội nâng cao tính ổn định và sự năng động của mình

d) Duy trì và nâng cao chất lượng của NNL giảng dạy Trong một nền kinh tế ngày càng phát triển không ngừng, thì đòi hỏi chất lượng NNL giảng dạy cũng phải được nâng cao

e) Đào tạo và phát triển là một trong những điều kiện quan trọng để có thể áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào trong các trường Đại học

f) Đào tạo và phát triển là một trong những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của đơn vị trong nền kinh tế thị trường

1.2 Nội dung công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học 1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo NNL

Công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ngày càng chiếm một vai trò quan trọng trong các trường đại học Công tác xác định nhu cầu đào tạo và phát tri ển phải là một quá trình tương tác

và thỏa mãn; hài hòa nhu cầu của Nhà trường (nhu cầu của tổ chức) và nhu cầu cá nhân

Do đó, việc xác định nhu cầu đào tạo cần căn cứ trên mục tiêu của tổ chức về phát triển NNL trong từng giai đoạn, đồng thời phải căn cứ vào khả năng và nhu cầu đào tạo của từng cá nhân trong từng đơn vị cụ thể

1.2.2 Mục tiêu đào tạo

Xét một cách tổng thể, đào tạo và phát triển cần hướng tới các mục tiêu sau đối với người lao động:

- Làm tăng tính thu hút nhân lực giảng dạy của nhà trường qua việc cung cấp một môi trường

có nhiều cơ hội phát triển cá nhân

- Tạo môi trường và các hoạt động nâng cao năng lực cá nhân thông qua các hoạt động đào tạo và phát triển, đảm bảo yêu cầu về chất lượng của đội ngũ giảng viên trong Nhà trường

- Góp phần tạo ra và duy trì động lực làm việc, sự gắn kết của giảng viên với Nhà trường

1.2.3 Xác định nội dung đào tạo

Về cơ bản, các hoạt động đào tạo và phát triển cần bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính định hướng cho NNL giảng dạy trong các trường đại học

- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính phát triển kỹ năng

- Các nội dung đào tạo và phát triển nâng cao về chuyên môn

- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính giám sát, quản lý

1.2.4 Phương pháp đào tạo và phát triển

Các hoạt động đào tạo và phát tri ển NNL giảng dạy trong các trường đại học có thể được triển khai qua nhiều hình thức khác nhau như đào tạo tập trung theo các chương trình cấp bằng, đạo

Trang 4

tạo dài hạn, đào tạo ngắn hạn, Đối với một trường đại học, có thể phân chia công tác đạo tạo và phát triển NNL giảng dạy thành các loại chính sau:

- Đào tạo dài hạn

- Đào tạo ngắn hạn

- Đào tạo thông qua công việc (kèm cặp, chỉ việc, tham gia trợ giảng, nghe giảng, )

1.2.5 Cách tiếp cận trong đào tạo va ̀ phát triển

Công tác đào tạo và phát tri ển có thể được tổ chức theo kế hoạch áp đặt từ trên xuống, tác động từ ngoài vào hoặc khởi xướng từ dưới lên, tự chủ từ chính bản thân cá nhân giảng viên và tập thể trong nhà trường

Việc xây dựng kế hoạch áp đặt từ trên xuống có thuận lợi là dễ triển khai, bởi đó là chủ trương chính sách của ban giám hiệu nhà trường Tuy nhiên nhiều khi không hiệu quả bởi các nội dung hoặc hình thức đào tạo có thể không phù hợp với các đối tượng được đào tạo

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Nguồn lực đầu tư dành cho công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học

Chiến lược đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học

Công tác quy hoạch, phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học

Công tác bồi dưỡng giảng viên trong các trường đại học

Nội dung bồi dưỡng giảng viên phải toàn diện, bao gồm cả phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm

1.3.2 Nhân tố khách quan

Hợp tác quốc tế trong việc đào tạo và phát triển nguồn lực giảng dạy trong các trường đại học Các chính sách của chính phủ, quốc gia đối với đào tạo và phát triển NNL

Yếu tố kinh tế - xã hội

Tình hình đội ngũ giảng viên đại học của Việt Nam

1.4 Kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ở các trường đại học trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ở các trường đại học trên thế giới

Giáo dục các nước đi theo hướng hợp nhất theo các chuẩn mực chung, tạo điều kiện cho việc liên thông, liên kết, chuyển tiếp, công nhận lẫn nhau

Tăng cường sử dụng nguồn tài nguyên chung, đặc biệt với sự xuất hiện của các hệ thống học liệu mở của các trường đại học hàng đầu trên thế giới

Chuẩn hóa giáo dục thông qua các tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo

Trang 5

1.4.2 Kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ở các trường đại học ở Việt Nam 1.4.3 Bài học kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy

Thứ nhất, cần xác định đúng vai trò và vị trí của NNL giảng da ̣y trong các trường đa ̣i ho ̣c Thứ hai, để có NNL giảng da ̣y đáp ứng yêu cầu phát triển, phải có hệ thống chính sách đồng

bộ, nhưng quan trọng nhất vẫn là chú trọng đầu tư cho giáo dục, từ phổ thông cho đến đại học và các trường nghề

Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NNL thông qua viê ̣c đầu tư vào phát triển cô ng

tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy ở các trường đại học

Thứ tư, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật cho khoa học - công nghệ như cơ sở nghiên

cứu khoa học; trung tâm đào tạo nhân tài

Thứ năm, phát triển NNL giảng da ̣ y phải củng cố khả năng hội nhập quốc tế của Việt Nam

cũng như khu vực trên cơ sở kế thừa và giữ vững những tinh hoa văn hoá dân tộc

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NNL GIẢNG DẠY

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHQGHN 2.1 Tổng quan về Trường ĐHKT

2.2 Đặc điểm về đội ngũ NNL giảng dạy ở Trường ĐHKT

2.2.1 Quy mô NNL giảng dạy

Tổng số cán bộ của Trường tính đến 2010 là 199 người, trong đó giảng viên cơ hữu là

81 người, giảng viên kiêm nhiệm, thỉnh giảng là 45 người (Hình 3) Tốc độ tăng trung bình

về số lượng giảng viên cơ hữu mỗi năm là hơn 17% Tỷ lệ GV có trình độ từ thạc sĩ trở lên chiếm hơn 98%; trình độ tiến sĩ trở lên chiếm trên 56% (tỷ lệ được đào tạo ở nước ngoài chiếm 57%) Tỷ lệ sinh viên/ giảng viên đạt 19/1

Biểu đồ 2.1: Đội ngũ nhân lực giai đoạn 2005-2010

Nguồn: Báo cáo của Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

Đến năm 2012 số lươ ̣ng cán bô ̣ của Trường ĐHKT là 204 cán bộ, trong đó cán bô ̣ giảng da ̣y

là 90 giảng viên, trong đó có 64 giảng viên và 26 giảng viên chính Cơ cấu cán bộ nam là 48.83%, cơ

Trang 6

cấu cán bộ nữ là 51,17%, cơ cấu cán bộ nữ có sự tăng lên so cơ cấu cán bộ nam có thể được giải thích là trong những năm qua Trường Đại học Kinh tế có những thay đổi trong cách thức giảng dạy môn ngoại ngữ cho sinh viên để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như của xã hội

Trường đã xây dựng và ban hành cơ chế đánh giá cán bộ, giảng viên làm cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn nghề nghiệp và đãi ngộ thoả đáng; động viên kịp thời với mức đóng góp của từng cá nhân Hiện nay, Đề án phát triển NNL giai đoạn 2013-2015 đang được xây dựng, trong đó chú trọng bồi dưỡng đào tạo cán bộ trẻ, mạnh dạn giao các nhiệm vụ trọng trách về NCKH và giảng dạy, đặc biệt tham gia giảng dạy các chương trình liên kết đào tạo quốc tế, tham gia xây dựng và thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu liên kết quốc tế

2.2.2 Chất lƣợng NNL giảng dạy

Chất lượng NNL giảng dạy của trường Đại học kinh tế được đánh giá ở hai phương diện:

Thứ nhất, đánh giá theo học hàm, học vị

Chủ trương trao văn bằng học vị cũng như học hàm có ý nghĩa đẹp đẽ nhằm tuyển chọn và tôn vinh nhân tài cho đất nước đã được tiến hành nhiều năm nay Tuy nhiên công việc này chưa được làm tốt, cho nên văn bằng cũng như chức danh khoa học thì nhiều, mà thực tài thì ít; không ít trường hợp chọn nhầm đối tượng, tôn vinh kẻ bất tài và bỏ sót tài năng đích thực

So với thời điểm trước khi thành lập, đến nay Trường đã thu hút được thêm 27 TS, 6 PGS.TS

về làm việc

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu giảng viên theo trình độ giai đoạn 2005-2010

Nguồn: Trươ ̀ ng ĐHKT-ĐHQGHN

Nhìn vào bảng trên ta thấy, trường Đại học kinh tế có học vị tiến sỹ và thạc sỹ chiếm tỷ lệ cao

so với mặt bằng chung hiện nay của cả nước, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với khu vực và thế giới Trong các trường đại của Mỹ, 100% số giảng viên có học vị tiến sĩ

Đến năm 2012, cơ cấu giảng viên phân theo ho ̣c hàm ho ̣c vi ̣ được thể hiê ̣n qua biểu đồ sau:

Trang 7

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu giảng viên phân theo ho ̣c hàm, học vị năm 2012

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy , số lươ ̣ng giảng viên có trình đô ̣ PGS TS đã đa ̣t 13%, cụ thể là

có 12 giảng viên; giảng viên có trình độ TS (không bao gồm PGS) chiếm 31%, cụ thể có 28 giảng viên Số giảng viên có trình đô ̣ tha ̣c sỹ đã tăng lên từ 34 giảng viên năm 2010 lên 50 giảng viên năm

2012 và hiện tại số giảng viên có trình độ cử nhân đã không còn nữa Nhà trường cũng đặt mục tiêu đến năm từ năm 2015 sẽ có 100% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ trở lên

Thứ hai, đánh giá theo các chỉ tiêu chất lượng khác

- Một số lượng đáng kể giảng viên mới tốt nghiệp ở nước ngoài về, phương pháp giảng dạy còn cần thời gian điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và cách tiếp cận của sinh viên Việt Nam

- Một số thầy cô giảng dạy quá chung chung, chưa đi sâu vào những tình huống cụ thể

- Một số giảng viên mời ngoài trường còn chưa đạt chuẩn trình độ (tối thiểu phải từ thạc sĩ trở lên)

- Một số giảng viên chưa tâm huyết với việc giảng dạy (thể hiện qua việc sinh viên đánh giá

có chất lượng giảm qua các năm)

- Số lượng giảng viên có trình độ thạc sĩ còn chiếm tỷ lệ cao Nhà trường cần tích cực đẩy mạnh công tác đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên nếu không muốn tụt hậu hơn nữa so với khu vực và thế giới, trong đó cần tập trung đào tạo và phát triển về các vấn đề cơ bản sau:

- Về chuyên môn giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Về tư tưởng, tình cảm của giảng viên với công việc giảng dạy

- Về xu hướng phát triển của đội ngũ giảng viên trong thời đại mới

2.3 Thực trạng công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy

2.3.1 Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nhìn từ thực tiễn triển khai các nội dung của công tác đào tạo phát triển

2.3.1.1 Thực trạng về nội dung đào tạo va ̀ phát triển NNL giảng dạy

a) Về chuyên môn:

* Về chuyên môn, các giảng viên có một số khả năng để tham gia các khóa đào tạo dài hạn sau:

- Loại 1: Đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

- Loại 2: Theo học trong các chương trình đào tạo của chính Trường ĐHKT hoặc trường khác

Trang 8

ở Việt Nam

- Loại 3: Theo học các chương trình của nước ngoài tại Việt Nam (các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế)

Bảng 2.1: Số lượng giảng viên được tham gia các khóa đào tạo dài hạn Nội

dung

2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010 BQ

Loại 1 2 3 3 150,00 100,00 122,47

Loại 2 8 12 18 150,00 150,00 150,00

Loại 3 7 9 15 128,57 166,67 146,39

Tổng 17 24 36 141,18 150,00 145,52

Nguồn: Phòng TCNS, Trươ ̀ ng ĐHKT-ĐHQGHN

Nhìn vào bảng trên ta thấy, tổng số giảng viên được tham gia các khóa đào tạo dài hạn ngày càng tăng lên, trong đó tăng mạnh nhất là năm 2010, bình quân qua 3 năm vừa rồi số lượng giảng viên được tham gia đào tạo dài hạn tăng 45,52% Cụ thể từ năm 2009 mới chỉ có 17 giáo viên được tham gia thì đến năm 2011 đã tăng lên 36 giảng viên được tham gia các khóa đào tạo dài hạn

Hiện nay, công tác đào tạo và phát triển đội ngũ NNL của trường đại học kinh tế đang triển khai rộng rãi các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế, bao gồm các chương trình tài trợ của các dự án và sau đó

là các chương trình kết đào tạo trang trải một phần kinh phí hay tự trang trải toàn bộ kinh phí đều có những đặc điểm chung sau đây: Chương trình đào tạo chuẩn quốc tế; Ngôn ngữ giảng và học tập là ngôn ngữ quốc tế; Có sự tham gia của các giáo sư ở trình độ quốc tế

Các chương trình tài trợ này đã góp phần đào tạo và phát triển giảng viên cho khá nhiều các giảng viên tại trường đại học kinh tế, có kiến thức và các kỹ năng hiện đại cho đội ngũ NNL giảng dạy của trường

Bảng 2.2: Số giảng viên được đào tạo tại các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế lớn Các loại chương trình 2009 2010 2011

Nguồn: Trươ ̀ ng ĐHKT-ĐHQGHN

Ngoài việc được trang bị kiến thức chuyên môn về kinh tế thị trường, các giảng viên được tiếp cận với phương pháp đào tạo mới mẻ, hiện đại, với các phương pháp và hình thức giảng dạy phong phú, đa dạng, khuyến khích sự tham gia chủ động và khơi gợi tính sáng tạo của người học, khả năng tiếp cận và khai thác nguồn tài liệu phong phú bằng tiếng Anh, qua các phần mềm tin học ứng dụng và các phương tiện kết nối hiện đại

Trang 9

Ngoài các chương trình được tài trợ, cần tính đến các chương trình được tài trợ một phần và các chương trình hoàn toàn tự trang trải kinh phí

Ngoài việc trực tiếp đào tạo giảng viên với tư cách là học viên thông thường, các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra một môi trường trong đó các giảng viên được tham gia vào chương trình với các tư cách khác nhau- trợ giảng, thực tập sinh, giảng viên chính thức hoặc là người quản lý

Ở mỗi tư cách khác nhau, mỗi vị trí khác nhau, các giảng viên có cơ hội thực hành và ứng dụng những kiến thức đã được đào tạo trước kia, tiếp tục củng cố và phát triển từ nhiều khía cạnh khác nhau, về chuyên môn, về phương pháp giảng dạy, các kỹ năng của một giảng viên ở trình độ quốc tế, khả năng nghiên cứu, lòng yêu nghề nghiệp, về nhận thức về vai trò và sứ mệnh của người giảng viên đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và đối với sinh viên nói riêng

b) Đối với các khóa đào tạo ngắn hạn, về cơ bản chủ yếu là các khóa đào tạo liên quan đến phương pháp giảng dạy, ngoại ngữ, tin học

Bảng 2.3: Số lượng giảng viên được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn

2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010 BQ

Khóa bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho Giảng

Đào tạo bồi dưỡng hình thức học trực tuyến

Kỹ năng giảng dạy 46 56 72 121,74 128,57 125,11 Tổng lượt người 177 211 285 119,21 135,07 126,89

Nguồn: Trươ ̀ ng ĐHKT-ĐHQGHN

Trong 3 năm gần đây, hầu hết đội ngũ NNL giảng dạy của trường đại học kinh tế đều được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn Tổng số lượt người được tham gia đào tạo tăng lên qua các năm Năm 2009 tổng số lượt người được đào tạo ngắn hạn là 177 lượt người, nhưng đến năm 2011

đã tăng lên 285 lượt người, bình quân qua 3 năm tăng lên gần 27%

Tuy nhiên hầu hết những giảng viên tham gia đào tạo ngắn hạn đều vì mục đích chứng chỉ để đảm bảo thỏa mãn các điều kiện đối với các hoạt động rà soát “chuẩn” giảng viên hay xét các chức danh, các khóa học ngắn hạn chỉ có tác dụng hạn chế

Vì vậy, bên cạnh việc tổ chức các khóa ngắn hạn mang tính bổ cứu, việc tạo ra một môi trường

để các giảng viên có thể học hỏi, cập nhật liên tục, cũng như luôn có cơ hội thực hành và ứng dụng vào thực tế là điều rất quan trọng trong việc nâng cao trình độ và chất lượng làm việc của các giảng viên

Trang 10

c) Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhận thức

Bảng 2.4: Số lượng giảng viên được tham gia bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhận thức

2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010 BQ

Hành chính nhà nước 13 14 20 107,69 142,86 124,03

Học Nghị quyết đại hội đảng 43 45 44 104,65 97,78 101,16

Chính trị cao cấp 5 7 10 140,00 142,86 141,42

Quốc phòng An ninh 43 44 45 102,33 102,27 102,30

Khóa tập huấn phòng cháy chữa cháy 43 44 45 102,33 102,27 102,30

Tổng lượt người 147 154 164 104,76 106,49 105,62

Nguồn: Trươ ̀ ng ĐHKT-ĐHQGHN

Nhìn chung, nhà trường đều tạo điều kiện hết sức cho các giảng viên tham gia các khóa đào tạo nâng cao tư tưởng và nhận thức, chính vì thế qua các năm tổng số lượt người được đào tạo về tư tưởng và nhận thức cũng tăng lên đáng kể

2.3.1.2 Thực trạng về phương pháp tổ chức xây dựng và tiến hành các hoạt động đào tạo va ̀ phát triển

Trong hệ thống quản lý của Trường ĐHKT, nếu không tính đến các hoạt động liên quan đến các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế, các phương pháp, các hình thức đào tạo phát triển đang được sử dụng cho đội ngũ NNL giảng dạy nhìn chung chưa phong phú

Về nguyên tắc, việc kèm cặp giữa các giảng viên lâu năm và các giảng viên mới là cách làm rất hiệu quả của công tác đào tạo và phát tri ển Thực tế công tác này ở Trường ĐHKT còn rất hạn chế

Riêng chương trình đào tạo hợp tác quốc tế thì phương pháp triển khai các hoạt động đào tạo khá phong phú, với phương pháp giảng dạy hiện đại đã mang lại hiệu quả đào tạo cao cho các học viên trong chương trình

2.3.1.3 Về cách tiếp cận trong đào tạo va ̀ phát triển

Hiện nay ở trường Đại học kinh tế cách tiếp cận trong đào tạo và phát triển, các hoạt động đào tạo và phát triển theo quy định hoặc do cấp trên yêu cầu Các khóa học về Quản lý Hành chính nhà nước, các lớp bồi dưỡng chính trị, các lớp học nghị quyết, các lớp bồi dưỡng giáo viên trẻ theo chương trình của Bộ GD

và ĐT là những ví dụ cụ thể

Trong khi đó, việc theo học các khoá học dài hạn, các chương trình Thạc sĩ, Tiến sĩ có ý nghĩa then chốt trong phục vụ cho sự phát triển nghề nghiệp chuyên môn, lại gần như hoàn toàn do bản thân các cá nhân chủ động, chưa có chế tài “buộc phải thực hiện” đối với giảng viên chưa đạt chuẩn

Xét một cách lý tưởng, cần có sự phối hợp tốt giữa hai cách tiếp cận này: định hướng từ phía nhà trường và chủ động từ phía cá nhân Nhà trường cần chỉ ra một định hướng hay chiến lược phát

Ngày đăng: 06/02/2014, 20:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Số lượng giảng viên được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường đại học kinh tế  ĐHQGHN
Bảng 2.3 Số lượng giảng viên được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn (Trang 9)
Bảng 2.4: Số lượng giảng viên được tham gia bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhận thức - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường đại học kinh tế  ĐHQGHN
Bảng 2.4 Số lượng giảng viên được tham gia bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhận thức (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w