Trong quá trình hoạt động, Trường Đại học Savannakhet gặp phải không ítnhững khó khăn: Nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt về mặt chuyên môn, ngoạingữ, thiếu đào tạo chất lượng cao, khả
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SAVANNAKHET (LÀO)
Ngành : Kinh doanh Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phùng Mạnh Hùng
Hà Nội- 2017
Trang 4Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập chưa từng đượccông bố Các số liệu được thu thập từ nguồn tài liệu chính thức từ các đơn vị và tổchức trong nước Nếu sai, học viên xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 02tháng 05năm 2017
Tác giả luận văn
Phonemany KHOUNTHAM
Trang 5Trước hết em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Trường Đạihọc Ngoại Thương, đặc biệt là các thầy cô trong Ban Gám hiệu và Khoa sau đại học, đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho học viên trong quá trình học tập bậc cao họctại nhà trường.
Xin chân thành cảm ơn về sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của TS Phùng Mạnh Hùng đã hưỡng dẫn giúp em hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Do sự hạn chế về trình độ cũng như hạn chế về ngôn ngữ và phạm vi nghiên cứu đề tài có hạn, cho nên luận văn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía hội đồng khoa học và bạn đọc
Hà Nội, ngày 02tháng 05năm 2017
Tác giả luận văn
Phonemany KHOUNTHAM
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Trường ĐH Savannakhet 48
Trang 8Luận văn đề tài: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại
Trường Đại học Savannakhet (Lào)” nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý
luận cơ bản về nguồn nhân lực giảng dạy trong các trường đại học, đưa ra các phântích đánh giá thông qua thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạycủa đại học Savannakhet từ năm 2014-2016, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi phùhợp với bối cảnh nghiên cứu
Bằng cách thu thập số liệu và tổng hợp thông tin về tình hình giảng viên củatrường đại học Savannakhet (Lào), luận văn cung cấp cái nhìn tổng quát về cơ cấugiảng viên của nhà trường trên các khía cạnh về trình độ chuyên môn, độ tuổi, giớitính, thâm niên công tác, từ đó đánh giá được đặc điểm và chất lượng đội ngũ giảngviên của trường Savannakhet Dựa trên cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồnnhân lực, luận văn đã phân tích thực trạng công tác này tại trường trong giai đoạn2014-2016 trên các góc độ chủ yếu bao gồm: mục tiêu đào tạo, xác định nhu cầuđào tạo, nội dung và phương thức đào tạo Đối với trường đại học Savannakhet, nộidung đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên được thực hiện đối với lĩnh vựcchuyên môn và kỹ năng theo phương thức tổ chức các khóa học dài hạn và ngắn hạntrong và ngoài nước
Hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tạitrường là tương đối tốt theo đánh giá của các giảng viên tham gia Tuy nhiên vẫncòn những tồn tại và hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân chủ yếu xuất phát từcông tác quản lý, cơ chế hỗ trợ và nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng củaviệc xây dựng bộ phận chuyên trách Các công tác này mặc dù đã được tiến hànhđều đặn từ nhiều năm, tuy nhiên chưa nhận được sự quan tâm sát sao của quản lýnhà trường và vẫn đi theo lối mòn, không có đổi mới mang tính đột phá
Căn cứ vào thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy củatrường đại học Savannakhet, luận văn đã đề xuất các giải pháp cụ thể đối với nhàtrường, các Bộ ban ngành để hoàn thiện hơn nữa công tác này, từ đó nâng cao chấtlượng đội ngũ giảng dạy tại trường đại học Savannakhet Trong đó có thể kể đến
Trang 9quy trình, xác định nhu cầu đào tạo, kiện toàn cơ chế hỗ trợ khuyến khích giảngviên và thực hiện đánh giá toàn diện của công tác này Đối với Nhà nước và banngành liên quan cần đưa ra các chính sách hỗ trợ như tăng cường cho các chươngtrình đào tạo quốc tế, cung cấp ngân sách cho trường đầu tư cơ cở vật chất phục vụcông tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũgiảng viên, khuyến khích giảng viên học tập và nâng cao trình độ
Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng quát về đào tạo và phát triển nguồn nhânlực tại trường đại học Savannakhet và đưa ra các giải pháp giúp hoàn thiện công tácnày trong thời gian tới Tác giả hi vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ
có những đóng góp nhất định và trở thành tài liệu tham khảo hữu ích đối với nhàtrường trong lĩnh vực này
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tếhiện nay, phát triển nguồn nhân lực (NNL) được coi là một trong ba khâu đột phácủa chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồngthời phát triển nguồn nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thếcạnh tranh quốc gia Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển củamỗi quốc gia Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sựphát triển của các quốc gia Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng pháttriển nguồn nhân lực Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyênthiên nhiên như Singapore, Nhật Bản, Israel… nhưng do phát huy tốt nguồn nhânlực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệphoá và hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ
Nhận thấy được tầm trọng của nguồn nhân lực, Lào cũng như các nước trongkhu vực Đông Nam Á luôn chú trọng đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực,nhất là nguồn nhân lực trong giáo dục đào tạo (vì đây là yếu tố quyết định chấtlượng nguồn nhân lực nói chung của đất nước), đòi hỏi một đội ngũ lao động trí tuệ
có trình độ quản lý, chuyên môn và kỹ thuật cao, có ý thức kỷ luật, lòng yêu nước,
có thể lực, để có thể đảm đương nhiệm vụ giáo dục- đào tạo, cung cấp nguồn nhânlực theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Xây dựng đội ngũ giảng viên được coi như một giải pháp lớn, trọng tâm đểphát triển sự nghiệp giáo dục trong chiến lược giáo dục Lào Nghị quyết Đại hộiĐảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ VIII vào ngày 18 – 23/03/2006 đã khẳngđịnh: “Nguồn nhân lực quan trọng nhất nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đạihoá nguồn nhân lực con người giáo dục phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng được sự phát triển với các nước trong khuvực và trên thế giới”
Đại học Savannakhet (SKU) là một trong bốn trường đại học lớn ở Lào Thủtướng Chính phủ CHDCND Lào đã ban hành Nghị định số 091 / PM trên uỷ quyền
Trang 11chính thức về việc thành lập Trường Đại học Savannakhet, ngày 27 tháng 3 năm
2009 Sứ mệnh là phát triển SKU là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hộicủa ba tỉnh (Savannakhet, Khammouane và Bolikhamxay); giáo dục đại học cho cảngười dân thành thị và nông thôn, đặc biệt là những người bị thiệt thòi từ khu vựcnông thôn, vùng xa; Phát triển các ngành, lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với chiếnlược quốc gia về phát triển giáo dục để từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn quốc gia
và quốc tế; Trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực trong khu vực trung tâm
Trong quá trình hoạt động, Trường Đại học Savannakhet gặp phải không ítnhững khó khăn: Nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt về mặt chuyên môn, ngoạingữ, thiếu đào tạo chất lượng cao, khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học,
tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên vẫn còn ở mức độ thấp.…Yêu cầu đặt ra cầnphải có giải pháp cụ thể về nguồn nhân lực để giúp Trường Đại học Savannakhetphát triển trở thành một trong những trường đại học hàng đầu ở Lào và trong khuvực
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu luận văn với đề tài: “Đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực giảng dạy tại Trường Đại học Savannakhet (Lào)” có ý
nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết Việc nghiên cứu các giải pháp đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường đại học Savannakhet không chỉ giúpcho mục tiêu nâng cao trình độ và kỹ năng của giảng viên, tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao phục vụ cho đất nước; mà còn đưa ra các bài học kinh nghiệm giúp cáctrường đại học khác tại Lào trong quá trình phát triển nguồn nhân lực giảng dạy Đểlàm được điều này, cần nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản vềnguồn nhân lực giảng dạy trong các trường đại học, đưa ra các phân tích đánh giáthông qua thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy của đại họcSavannakhet, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi phù hợp với bối cảnh nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy là vấn đề mà mọi tổchức đều quan tâm và có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Các nghiêncứu đều đã đề cập đến các vấn đề chính: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và phát
Trang 12triển nguồn nhân lực, đặc điểm của nguồn nhân lực trong giáo dục đại học, khảo sátthực trạng phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục đại học, và đề xuất những giảipháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại các trường đại học.
Một vài công trình nghiên cứu tương tự có thể kể đến như: “Đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN”, của tác
giả Trịnh Thị Kim Anh, năm 2012 nghiên cứu về thực trạng nguồn lực giảng viêncủa trường giai đoạn 2007-2012, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng nhânlực giảng dạy, khắc phục những hạn chế còn tồn tại Ở Lào có một số công trình
nghiên cứu về vấn đề này cụ thể là: “Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở Đại
học Quốc gia Lào” của Tác giả, Anousone Syvongdao năm 2016 và “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Trường kỹ thuật dạy nghề tình Luangphabang – Lào”
của tác giả Vilaphong Sybounheuang, năm 2015 đều tập trung nghiên cứu vào tìnhhình đội ngũ chất lượng giảng viên nêu những điểm yếu điểm mạnh và đề xuất cácphương án khả thi để ngày càng nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy tại đại họcLào
Nhìn chung, các đề tài liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảngdạy đã có nhiều và có sự phân tích ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên cho đến naychưa có đề tài nào nghiên cứu về Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tạiTrường Đại học Savannakhet Bởi vậy, đây là nghiên cứu đầu tiên về đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại trường đại học Savannakhet
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
giảng dạy tại Đại học Savannakhet trong giai đoạn 2014-2016
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian và thời gian: Tác giả giới hạn nghiên cứu số liệu trong TrườngĐại học Savannakhet Lào từ 2014 đến 2016
Trang 134 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Dựa trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực giảng dạy, tác giả tiến hành khảo sát tại trường ĐHSavannakhet và phân tích thực trạng nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát và khách quan
về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy của Đại họcSavannakhet Từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp trọng điểm nhằm hoàn thiệnhoạt động này, phù hợp với đặc điểm nguồn giảng viên của trường, cũng như hàihòa với chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy của Đại họcSavannakhet trong giai đoạn 2016-2020
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo
và phát triển NNL tại Trường Đại học Savannakhet
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp - thống kê: Thu thập số liệu, thông tin từ nguồn thôngtin thứ cấp, các báo cáo của Trường Đại học Savannakhet kết hợp với tham khảothông tin từ các nghiên cứu trước, sách, báo, internet…
- Phương pháp khảo sát thực tế: Điều tra khảo sát thực tế tại trường đại họcSavannakhet thông qua phiếu điều tra tới các thầy cô giáo hiện đang công tác tại nhàtrường
- Phương pháp phân tích so sánh: So sánh kết quả đào tạo và phát triển nguồnnhân lực ở đại học Savannakhet qua các thời điểm, xử lý dữ liệu thu được thông quaviệc phân tích các con số thu thập được
Trang 146 Dự kiến đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu hệ thống về đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực tại đại học Savannakhet
- Đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy ở đại họcSavannakhet, xây dựng giải pháp chủ yếu đề đáp ứng yêu cầu chất lượng giảng dạyngày càng cao trong giai đoạn 2016-2020
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những ý tưởng mới chonghiên cứu về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy ở đại họcSavannakhet
- Góp phần cung cấp số liệu về đội ngũ giảng viên, những đánh giá và đề xuất
về chính sách, giải pháp cho các cấp lãnh đạo, quản lý tham khảo Qua đó đẩy mạnhhơn nữa hoạt động giáo dục, tăng thêm chất lượng hiệu quả giảng dạy và đội ngũgiảng viên
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho việc đổi mới hoànthiện công tác đào tạo và phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên của đại họcSavannakhet cho tới năm 2020
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của Luận văn được trình bày trong 03 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng
dạy tại Trường Đại học Savannakhet
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực giảng dạy tại Trường đại học Savannakhet
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG DẠY
1.1 Khái niệm, vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học
1.1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy
• Khái niệm NNL:
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” (humans resourses) xuất hiện vào thập niên
80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng conngười trong kinh tế lao động Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con người, làyếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Khái niệm NNLđược hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Theo như Nicolas Herry trong cuốn Public Administration and Publicaffairss thì: “NNL là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô,loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quátrình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốcgia, khu vực, thế giới” (Nicholas Henry 2006, tr.11) Cách hiểu này về NNLxuất phát từ quan niệm coi NNL là “nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thầntạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổchức” (Mai Quốc Chánh 2010, tr.15-18)
Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với NNL của Liênhợp quốc đã đưa ra định nghĩa: NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lựcthực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của NNL.Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con ngườicũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sửdụng
Theo lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là mộtphương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm
Trang 16chí con người còn được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhânlực Về phương diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng: nguồn lực con người là tất cảnhững kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế
xã hội đất nước Ngày nay, NNL còn bao hàm khía cạnh về số lượng và chất lượng,không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động
Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị cho thấy: NNL là tổng hoà thểlực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong
đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc tronglịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ chonhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước (Nguyễn Tiệp 2005, Tr.25)
Theo ngôn ngữ quản trị, NNL được hiểu là “tất cả các tiềm năng của conngười trong tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạodoanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức,khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanhnghiệp”
Từ các định nghĩa trên, ta thấy “NNL được hiểu là nguồn tài nguyên nhân
sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán
bộ, công nhân viên của tổ chức với tư cách vừa là khách thể trung tâm của nhàquản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của các doanh nghiệpnói riêng, của mọi tổ chức nói chung” (Phùng Xuân Nhạ 2007, tr 19)
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học đi trước, trên
cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tác giả thống nhất đề xuất sử dụng khái niệm
về NNL như sau: “NNL trong trường đại học là tổng hợp những con người
-bằng khả năng lao động của mình - đã, đang và sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển chung của trường đại học đó” (Cảnh Chí Dũng 2008, tr.7).
• Khái niệm về NNL giảng dạy:
NNL giảng dạy trong các trường đại học được hiểu là các giảng viên
Định nghĩa giảng viên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau
Trang 17Điều 41 Luật Giáo dục Lào năm 2008 quy định Giảng viên đại học, cao đẳng
là những viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đạihọc, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng
Tại Việt Nam, cũng theo Luật Giáo dục được Quốc hội sử a đổ i năm 2009thì “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dụcnghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi làgiáo viên Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi làgiảng viên”
Ở góc độ vai trò, nhiệm vụ, giảng viên cũng có thể được hiểu làngười trực tiếp tham gia vào hệ thông giáo dục đại học với vai trò truyền đạt
và hướng dẫn
Nếu nhìn từ một góc độ khác, cụ thể, dễ hiểu và phổ biến hơn, thì trong cáctrường đại học, “giảng viên là những người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thựchành), được hiệu trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặcnhững cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạytheo chế độ kiêm nhiệm”
Hiện nay ở các trường đại học ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xácđịnh chức năng chính của người giảng viên bao gồm 3 chức năng cơ bản như sau: (1).Giảng viên là Nhà giáo; (2) Giảng viên là Nhà khoa học; (3) Giảng viên là Nhà cungứng dịch vụ cho cộng đồng
Nghĩa là: Giảng viên = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà cung ứng dịch vụ chocộng đồng Trong đó:
(1) Giảng viên – Nhà giáo
Đây là vai trò truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết đối với một giảngviên Một giảng viên giỏi trước hết phải là một người Thầy giỏi; theo các nhà giáodục thế giới thì một giảng viên có năng lực toàn diện là người được trang bị 4 nhómkiến thức/ kỹ năng sau:
Trang 18Một là, kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành vàchuyên môn mà mình giảng dạy;
Hai là, kiến thức về chương trình đào tạo: Tuy mỗi giảng viên đều đi sâu mộtchuyên ngành nhất định, nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn họcthì giảng viên phải dược trang bị hoặc tự trang bị các kiến thức về cả chương trìnhgiảng dạy;
Ba là, kiến thức và kỹ năng về dạy và học: Bao gồm khối kiến thức về phươngpháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và dạy/học trong từng chuyên ngành cụ thể;
Bốn là, kiến thức về môi trường giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáodục…đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt độngdạy và học
(2) Giáo viên - Nhà khoa học
Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học với chức nănggiải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa họcchưa có lời giải Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứukhoa học về thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng Từđây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.Khác với nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phácủa tự nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến việc ứngdụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản giải quyết các vấn đề cụ thể của xã hội.Thông thường nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính của các giảng viên Cònnghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ thường là kết quả của mối liên kết giữacác nhà khoa học và nhà ứng dụng (các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội) Do vậy,nghiên cứu ứng dụng thường mang màu sắc của các dự án tư vấn được đặt hàng bởicộng đồng doanh nghiệp và doanh nghiệp tài trợ
(3) Giảng viên - Nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội
Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học ở Lào đang thực hiện, nócũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên Ở vai trò
Trang 19này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, chocác tổ chức xã hội - đoàn thể, cho cộng đồng và cho toàn xã hội Cụ thể là đối với nhàtrường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các nhiệm vụ như tham gia côngtác quản lý, các công việc hành chính, tham gia hoạt động tại các tổ chức xã hội, tưvấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên
Đối với ngành của mình, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học,tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học Đối với cộng đồng, giảng viên trong vaitrò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung ứng thông tin,viết báo Trong chức năng này, giảng viên đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xãhội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng Viết báo thời sự(khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trongviệc phổ biến các kiến thức khoa học trong xã hội và góp phần nâng cao dân trí
Tóm lại, tác giả đề nghị hiểu NNL giảng dạy là giảng viên, “giảng viên
là viên chức chuyên môn được đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậcđại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học và caođẳng”
• Khái niệm đào tạo và phát triển NNL:
Đào tạo và phát triển NNL là “các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chấtlượng NNL trong mỗi tổ chức”, đây có thể coi là điều kiện tiên quyết đến sự tồn tại
và phát triển mỗi tổ chức, giúp tổ chức có thế đứng vững và thắng lợi trong môitrường cạnh tranh hiện nay
Có thể nói, đào tạo và phát triển NNL chính là toàn bộ những hoạtđộng học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp chongười lao động Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngàyhoặc thậm chí tới vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổihành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nângcao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ Như vậy, xét về nội dung, tác giả
đề nghị hiểu “đào tạo và phát triển NNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáodục, đào tạo và phát triển”
Trang 20- Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngườibước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trongtương lai.
- Đào tạo: Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động cóthể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình Đó chính làquá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình,
là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người laođộng để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn
- Phát triển: Là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắtcủa người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sởnhững định hướng tương lai của tổ chức
Như vậy chúng ta có thể thấy đào tạo và phát triển NNL đều có một mụctiêu chung đó là trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng cầnthiết cho công việc, tuy nhiên đào tạo NNL là một chiến lược nhằm đào tạongười lao động trong ngắn hạn, nhằm giúp họ có thể thực hiện tốt công việchiện tại, còn phát triển NNL là công tác để chuẩn bị cho người lao độngnhững kiến thức, kỹ năng để có thể đáp ứng những yêu cầu của công việckhông chỉ trong hiện tại mà trong cả tương lai
• Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy:
Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong trường đại học có thể được nhìnnhận từ 2 góc độ
- Từ góc độ của tổ chức: Là từ một mảng hoạt động của công tác quản trị NNLcủa tổ chức nhằm tăng cường và mở rộng năng lực của đội ngũ giảng viên, đápứng đòi hỏi của nhà trường
- Từ góc độ cá nhân người giảng viên đáp ứng đòi hỏi về quá trình phát triểnnghề nghiệp của người giảng viên
Trang 21
-Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy theo góc độ thứ nhất
Là một mảng hoạt động của công tác quản trị NNL trong tổ chức, hoạtđộng đào tạo và phát triển cần được đáp ứng 3 mục tiêu thiết yếu để đảm bảochất lượng NNL giảng dạy trong các trường đại học đó là: thu hút được nhữngngười giỏi, là thành phần “tinh hoa” của xã hội tham gia vào đội ngũ giảng dạy;đảm bảo một quá trình bồi dưỡng và đào tạo tốt đối với NNL giảng dạy, sao choNNL này đáp ứng tốt những yêu cầu của công tác giảng dạy và nghiên cứutrong trường đại học; tạo ra và duy trì động lực làm việc của đội ngũ ngày đốivới công việc trong môi trường nhà trường
Đào tào và phát triển được chú trọng trong các trường đại học khối kinh
tế với nội dung hướng vào việc cập nhật kỹ năng, kiến thức chuyên môn, xâydựng bồi dưỡng tinh thần thái độ tình cảm và nhận thúc của đội ngũ sao chophù hợp với chiến lược phát triển của nhà trường và yêu cầu trong thời kỳ mớiđối với giáo dục Theo truyền thống, công tác đào tạo và phát triển NNL giảngdạy trong trường đại học thường được coi là công việc “khống chế từ bênngoài”, theo các quy định (thường là của các cơ quan cấp trên về bồi dưỡng,đào tạo NNL giảng dạy), và cũng chỉ nhằm đến cá nhân giảng viên mà khôngxem xét đến mối quan hệ giữa giảng viên và tổ, nhóm hoặc trường trong việcđược đào tạo và phát triển Hơn nữa, việc đào tạo và phát triển giảng viên cũngthường chỉ giới hạn ở những vấn đề liên quan đến kiến thức chuyên môn và cácvấn đề mang tính kỹ thuật Quan niệm mới về đào tạo và phát triển NNL giảngdạy hiện đại cho rằng, để cải cách giáo dục thành công nhất thiết phải xem xétđồng thời nhu cầu của mọi tầng lớp trong nhà trường, bao gồm giáo viên, cán bộ
và nhân viên hành chính, sinh viên, đồng thời cần chú ý tới những thay đổi toàndiện không chỉ về kiến thức, kỹ năng mang tính chuyên môn học thuật mà còn cầnchú ý đến sự thay đổi cần thiết trong nhận thức, hành vi tư tưởng và tình cảm củaNNL giảng dạy tham gia chương trình
Một cách tổng quát và toàn diện, các yêu cầu đối với một giảng viên baogồm 3 khía cạnh sau:
Trang 22- Khía cạnh hành vi mang tính kỹ thuật, liên quan đến các yếu tố về chuyên
môn giảng dạy và nghiên cứu: chú trọng nhấn mạnh về sự hiểu biết chuyênmôn mình đảm nhận, sự chuyển tải kiến thức chuyên môn, mắm vững các kỹnăng, kỹ xảo trong giảng dạy, phương pháp đánh giá sinh viên, các kỹ năng phụgiúp công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học: ngoại ngữ, sử dụng trangthiết bị, phục vụ giảng dạy, phương pháp nghiên cứu và tư vấn khoa học, khảnăng cập nhật kiến thức mới
- Khía cạnh tư tưởng và tình cảm, phát triển các giá trị phẩm chất: chú trọng
nhấn mạnh về tư tưởng tình cảm của giảng viên với nghề nghiệp, hăng hái giúp
đỡ đồng nghiệp và sinh viên trong chuyên môn và trong cuộc sống thườngnhật, bồi dưỡng các giá trị phẩm chất của người giảng viên
- Khía cạnh nhận thức: phản ánh tính năng động và khả năng phát triển
chuyên môn của giảng viên Chú trọng tới khả năng cập nhật kiến thứcmới trong chuyên môn, khả năng học tập các kiến thức, tính kiên trì trongnghiên cứu và luôn có niềm tin trong sự sáng tạo của bản thân, ý thức về vaitrò của cá nhân đối với tập thể và vai trò của tập thể đối với nhà trường và xã hội
Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy theo góc độ thứ hai:
Đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình đòi hỏi, tạo điềukiện và hỗ trợ các giảng viên học tập và phát triển Trong đó, có hàng loạtcác hoạt động làm cho họ trở thành giảng viên có năng lực hoạt động toàn diệnhơn, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục nghiên cứu, quản lýquy trình đào tạo của trường, đồng thời giúp cho nhà trường hoàn thiện vàđứng vứng trước môi trường giáo dục đang đối mặt với nhiều áp lực lớn của xãhội trong môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt
Các hoạt động đào tạo và phát triển sẽ trở nên hiệu quả hơn khi các hoạtđộng ngày trở thành những hoạt động mang tính định hướng cho sự phát triển nghềnghiệp cá nhân của mỗi giảng viên Do đó, cần giúp các giảng viên thấy rõ conđường phát triển nghề nghiệp nghiệp của mình để họ có một định hướng đào tạo vàphát triển một cách hiệu quả
Trang 23Trong trường đại học chức năng của giảng viên là giảng dạy, bao gồm
cả hoạt động nghiên cứu như một bộ phận thiết yếu đối với công tác giảng dạy,làm cho hoạt động giảng dạy phong phú và có chất lượng Để thực hiện tốtvai trò của người giảng viên, sẽ đòi hỏi những năng lực về chuyên môn tronglĩnh vực giảng dạy của mình, các kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp giảng dạy,
kỹ năng sư phạm, năng lực nghiên cứu Các kiến thức và kỹ năng này sẽ đượchọc tập và tích lũy trong quá trình học tập liên tục, qua các chương trình đào tạo,chính quy và không chính quy, qua các kinh nghiệm tích lũy được trong côngviệc,
1.1.2 Vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học
Công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy đóng vai trò hết sứcquan trọng trong các trường đại học, nó góp phần đáp ứng nhu cầu hoạt động vàphát triển cùng với mục tiêu của các trường đã đặt ra
Đào tạo và phát triển đáp ứng được yêu cầu công việc hay chính là đáp ứngnhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi trường đại học
Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thếcạnh tranh của trường đại học đó Đào tạo và phát triển là điều kiện quyết định để
một tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong cạnh tranh Đào tạo và phát triển NNL
giúp cho các trường đại học:
a) Nâng cao năng suất, tăng hiệu quả công việc NNL giảng dạy trong trườngđược đào tạo và phát triển sẽ tạo điều kiện cho họ có thể thực hiện công việcnhanh chóng với nhiều sáng kiến hơn, năng suất lao động tăng và hiệu quảgiảng dạy cũng ngày càng được nâng cao
b) Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc sẽ góp phần làm giảm bớt
sự giám sát của đơn vị, như vậy cũng làm giảm bớt áp lực với người laođộng Cả người lao động và cả đơn vị đều có lợi, người lao động được tựchủ hơn trong công việc còn đơn vị có điều kiện để giảm bớt nhân lực ở
Trang 24bộ máy giám sát và đưa họ thực hiện những công việc đang đòi hỏi nhiềunhân lực hơn.
c) Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức Công tác đào tạo và pháttriển giúp cho đơn vị có cơ hội nâng cao tính ổn định và sự năng động của mình
Vì NNL giảng dạy chính là nhân tố giúp các nhân tố khác có thể hoạt độngmột cách nhịp nhàng, thông suốt qua đó làm cho hoạt động của đơn vị không gặpcản trở đồng thời tạo nên tính ổn định trong hoạt động giảng dạy của trường.d) Duy trì và nâng cao chất lượng của NNL giảng dạy Trong một nền kinh tếngày càng phát triển không ngừng, thì đòi hỏi chất lượng NNL giảng dạycũng phải được nâng cao Vậy chỉ có đào tạo và phát triển thì mới giúpcho NNL giảng dạy được duy trì chất lượng và nâng cao chất lượng Đểgiúp cho các trường Đại học đáp ứng được chất lượng NNL theo kịp với
sự thay đổi của nền kinh tế như hiện nay
e) Đào tạo và phát triển là một trong những điều kiện quan trọng để có thể ápdụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào trong các trường Đại học Việc ápdụng khoa học công nghệ là đòi hỏi tất yếu đối với các đơn vị ngày nay, vàviệc áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình giảng day chỉ có thể đượcthực hiện khi có đội ngũ nhân lực đủ trình độ thực hiện Đội ngũ lao động
đó chỉ có thể có được thông qua quá trình đào tạo và phát triển, không chỉtrong trường lớp mà còn cả ở trong đơn vị thì những người lao động đó mới
có thể đáp ứng nhu cầu được đặt ra
f) Đào tạo và phát triển là một trong những giải pháp chiến lược nhằm nâng caokhả năng cạnh tranh của đơn vị trong nền kinh tế thị trường Đây là điều tất yếunếu như một đơn vị, tổ chức muốn nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế củamình
Trang 25Đối với người lao động, vai trò của đào tạo và phát triển NNL giảng dạy thể hiện ở chỗ:
a) Tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và đơn vị, tổ chức
b)Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động
c) Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như trongtương lai
d)Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động
e) Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ
là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc
Tóm lại, đào tạo và phát triển NNL giảng dạy không những nâng cao hiệuquả hoạt động của đơn vị mà còn đáp ứng nhu cầu của người lao động đó là nhu cầuđược học tập và nâng cao trình độ bản thân Đây là nhu cầu tất yếu của người laođộng nhằm nâng cao giá trị cũng như vị thế của họ trong trường đại học cũng nhưtrong xã hội Qua đó cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần của người laođộng trong các trường đại học
1.2 Nội dung công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các
trường đại học
1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo
Công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ngày càng chiếm một vai tròquan trọng trong các trường đại học Công tác xác định nhu cầu đào tạo và pháttriển phải là một quá trình tương tác và thỏa mãn; hài hòa nhu cầu của Nhàtrường (nhu cầu của tổ chức) và nhu cầu cá nhân Vì vậy, việc xác định nhu cầuđào tạo cần căn cứ trên mục tiêu của tổ chức về phát triển NNL trong từng giaiđoạn, đồng thời phải căn cứ vào khả năng và nhu cầu đào tạo của từng cá nhântrong từng đơn vị cụ thể
Xác định nhu cầu đào tạo là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào tạo,đào tạo những cái gì, cho loại lao động nào và bao nhiêu người Nhu cầu đào tạo
Trang 26được xác định dựa trên phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, các yêu cầu về kiếnthức, kỹ năng cần thiết cho việc thực hiện công việc và phân tích trình độ, kiến thức,
kỹ năng hiện có của người lao động
Để xác định liệu nhu cầu đào tạo là có thực sự tồn tại hay không, người taphải tiến hành đánh giá nhu cầu Đây là một quá trình thu thập và phân tích thông tin
để làm rõ nhu cầu cải thiện kết quả thực hiện công việc và xác định liệu đào tạo cóphải là giải pháp
1.2.2 Xác định mục tiêu đào tạo
Công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy là một bộ phận quantrọng trong công tác quản trị NNL của các trường đại học Cùng với các bộ phậnkhác, đào tạo và phát triển phải đóng góp vào mục tiêu chung của công tácquản trị NNL trong các trường đại học (là đảm bảo NNL giảng dạy đáp ứng
đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng cho nhà trường, đồng thời tạo dựng vàduy trì tinh thần gắn bó, động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức,nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức)
Xét trên khía cạnh tổ chức, đào tạo và phát triển NNL cần hướng tới các mụctiêu sau đối với người lao động:
- Làm tăng tính thu hút nhân lực giảng dạy của nhà trường qua việc cung cấpmột môi trường có nhiều cơ hội phát triển cá nhân
- Tạo môi trường và các hoạt động nâng cao năng lực cá nhân thông qua cáchoạt động đào tạo và phát triển, đảm bảo yêu cầu về chất lượng của đội ngũgiảng viên trong Nhà trường
- Góp phần tạo ra và duy trì động lực làm việc, sự gắn kết của giảng viên vớiNhà trường
Xét trên khía cạnh giảng viên, việc xác định mục tiêu đào tạo là xác định kếtquả cần đạt được của chương trình đào tạo bao gồm những kiến thức, kỹ năng cầnđược đào tạo và trình độ đạt được sau đào tạo, số lượng và cơ cấu học viên, thời gianđào tạo Việc xác định mục tiêu đào tạo sẽ được thực hiện dựa trên cơ sở đánh giá
Trang 27nhu cầu đã đề cập ở trên Ngoài ra, việc xác định mục tiêu đào tạo - phát triển cũngphải đảm bảo nguyên tắc SMART đối với xác định mục tiêu nói chung được tómgọn trong 5 chữ bao gồm: Cụ thể (Specific), đo lường được (Measurable), khả thi(Achievable), hợp lý (Relevant) và có hạn định thời gian (Timebound).
Như vậy, công tác đào tạo phát triển NNL giảng dạy nếu hoàn thành tốt đượccác mục tiêu trên, cũng đồng nghĩa với việc nhà trường hoàn hành được nhiệm vụthu hút và tạo động lực cho giảng viên, và giảng viên được phát triển và hoànthiện chuyên môn của bản thân cũng như có cơ hội thăng tiến trong tương lai
1.2.3 Xác định đối tượng đào tạo
Sau khi đã xác định được nhu cầu và mục tiêu đào tạo, nhà trường sẽ xâydựng danh sách các đối tượng đào tạo phù hợp Đây là khâu vô cùng quan trọng, doyếu tố con người luôn mang tính chất quyết định tới hiệu quả của khóa đào tạo Việclựa chọn được đối tượng phù hợp sẽ khiến chất lượng đào tạo được nâng cao Cácđối tượng thường là giảng viên đang làm việc tại các khoa chuyên môn, đáp ứng đủcác tiêu chí đề ra của nhà trường về nhu cầu đào tạo, năng lực, độ tuổi, trình độ…Đồng thời, bản thân người giảng viên có nguyện vọng cũng như có điều kiện để họctập theo chương trình nhà trường đề xuất
1.2.4 Xác định nội dung và phương thức đào tạo
1.2.4.1 Về nội dung đào tạo:
Nội dung của công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong cáctrường đại học bao gồm các hoạt động đào tạo nhằm trang bị cho ngườigiảng viên kiến thức chuyên môn, kỹ năng giảng dạy cần thiết, định hướng cáccon đường phát triển nghề nghiệp của họ, phục vụ mục tiêu của nhà trường Mộtnội dung hoạt động đào tạo và phát triển phong phú, đa dạng cho phép ngườigiảng viên triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nghề nghiệp cá nhân củamình, đến lượt nó, sẽ có tác động thu hút NNL giảng dạy đến với trường đạihọc mình, nhờ đó, đơn vị có thể dễ dàng tăng quy mô NNL giảng dạy cho nhàtrường theo yêu cầu mà vẫn đảm bảo chất lượng của NNL giảng dạy
Trang 28Đối với người giảng viên, mục đích của đào tạo và phát triển NNL thểhiện ở chỗ tạo ra sự gắn kết với nhà trường, nâng cao tính chuyên nghiệpcủa người giảng viên, nâng cao tính thích ứng của người lao động đối với côngviệc giảng dạy hiện tại và tương lai, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng phát triểncủa người giảng viên và từ đó tạo dựng và duy trì động lực làm việc cũngnhư phát huy tính sáng tạo của người giảng viên.
Công tác đào tạo và phát triển có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ, bao gồmnhiều nội dung khác nhau, từ việc xác định nội dung cho các hoạt động đàotạo, lựa chọn người được đào tạo, xác định phương pháp tổ chức đào tạo, lựachọn người đào tạo, ngân sách cho đào tạo Tuy nhiên có ba vấn đề mang tínhchiến lược đối với công tác đào tạo phát triển: đó là xác định các nội dung chocông tác đào tạo phát triển, cách tiếp cận trong hoạt động đào tạo và phát triển
và các phương thức tiến hành hoạt động đào tạo và phát triển
Nội dung đào tạo và phát triển cần được xác định trên cơ sở các yêu cầuđối với đội ngũ NNL giảng dạy trong các trường đại học, nhằm giúp họ đượctrang bị các kiến thức chuyên môn, các kỹ năng phục vụ cho công tác giảng dạy,cũng như cập nhật thông tin cần thiết để có năng lực hoàn thành tốt công việc của mình
Về cơ bản, các hoạt động đào tạo và phát triển cần bao gồm các nộidung cơ bản sau đây:
- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính định hướng cho NNL giảng dạytrong các trường đại học Với nội dung này, hoạt động đào tạo và phát triển chủyếu là phổ biến thông tin, định hướng và cung cấp kiến thức mới như thôngtin về nhà trường Các hoạt động này cũng nhằm làm cho người lao động cậpnhật và nhận thức được những cơ hội và thách thức liên quan đến sự phát triểncủa tổ chức, từ đó xác định các mục tiêu phát triển cá nhân phù hợp
- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính phát triển kỹ năng: Với nội dungnay, chủ yếu cung cấp cho đội ngũ giảng viên trong trường đại học các kỹ năngcần thiết để thực hiện công tác giảng dạy và kinh nghiệm để họ đạt được các
kỹ năng mới khi công tác giảng dạy của họ có sự thay đổi về thiết bị, công hệ
Trang 29hay các hệ thống tổ chức quản lý mới.
- Các nội dung đào tạo và phát triển nâng cao về chuyên môn: Đây là loại hìnhđào tạo để tránh kiến thức, kỹ năng bị lạc hậu Việc đào tạo nhằm phổ biếncác kiến thức mới được phát hiện hoặc các kiến thức thuộc các lĩnh vực chuyênmôn liên quan đến các ngành có tính đặc thù với nội dung luôn luôn thay đổitheo từng thời kỳ hay từng giai đoạn lịch sử
- Các nội dung đào tạo và phát triển mang tính giám sát, quản lý: Loại hình đàotạo và phát triển này được hình thành để đào tạo ra những giảng viên có chứcnăng quản lý trong các chuyên ngành khác nhau Loại hình đào tạo này chútrọng vào các lĩnh vực như ra quyết định, giao tiếp, giải quyết vấn đề và tạođộng lực cho giảng viên
1.2.4.2 Về phương pháp tiến hành:
Để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, người ta có thể thực hiệnnhiều phương pháp khác nhau song không phải phương pháp nào cũng thích hợpđối với giảng viên M ột số phương pháp có thể được áp dụng để đào tạo và pháttriển đội ngũ giảng viên có thể kể đến như:
a. Đào tạo trong công việc
Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi là việc,trong đó người học sẽ học được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việcthông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của nhữngngười lao động lành nghề hơn Nhóm này bao gồm những phương pháp như:
- Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc
- Đào tạo theo kiểu học nghề
- Kèm cặp và chỉ bảo
- Luân chuyển và thuyên chuyển công việc
Trong 4 phương pháp thuộc nhóm này, tác giả cho rằng chỉ có kèm cặp
và chỉ bảo là có thể áp dụng cho đối tượng là giảng viên và chủ yếu là giảng
Trang 30viên tập sự Theo đó, các giảng viên trẻ sẽ được những giảng viên có thâm niên
và trình độ cao hơn kèm cặp, chỉ bảo, hướng dẫn cả về chuyên môn lẫn nghiệp
vụ sư phạm trong quá trình tham gia trợ giảng hoặc ngay cả khi đã bắt đầu trựctiếp đứng lớp Đối với những giảng viên tập sự chưa từng đứng lớp hoặc nhữnggiảng viên đang chuẩn bị cho việc chuyển sang giảng dạy một lĩnh vực khác,đây là một phương pháp rất hiệu quả Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi tronglĩnh vực được đào tạo phải có giảng viên đủ khả năng làm hướng dẫn (không ápdụng được đối với việc đào tạo giảng viên để giảng dạy một lĩnh vực mới) vàviệc áp dụng phương pháp này đối với những người đã có một quá trình giảngdạy nhất định thì tốn thời gian mà không hiệu quả
b. Đào tạo ngoài công việc
Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người họcđược tách ra khỏi sự thực hiện các công việc thực tế Do đặc thù công việc củagiảng viên không phải thường xuyên có mặt tại trường nên việc áp dụng cácphương pháp ngoài công việc để đào tạo và phát triển rất thuận lợi Một sốphương pháp có thể được sử dụng là:
- Mở các khoá bồi dưỡng ngắn hạn hoặc dài hạn
Việc bồi dưỡng ngắn hạn thường được áp dụng để đào tạo các kỹnăng, nghiệp vụ còn bồi dưỡng dài hạn nhìn chung rất ít được dùng đến, nếu cóthường chỉ áp dụng đối với lĩnh vực ngoại ngữ Hoàn thành khóa bồi dưỡng, cácgiảng viên sẽ có được chứng chỉ xác nhận quá trình học tập của mình
- Cử đi học Thạc sỹ và Tiến sỹ
Đây là hình thức đào tạo tập trung, hiệu quả cao và mang lại bằng cấp nênrất được giảng viên ưa chuộng Tuy nhiên, đối với tổ chức thì việc đào tạo và pháttriển người lao động theo phương pháp này rất khó khăn do việc đi học đòi hỏinhiều thời gian, ảnh hưởng đến bố trí cán bộ làm việc Nếu việc đào tạo đượctiến hành trong nước thì giảng viên còn có thể đi làm nhưng nếu là cử đi học ởnước ngoài thì giảng viên sẽ không thể giảng dạy cho trường và trường phải bố trí
Trang 31cán bộ làm thay Đây cũng là vấn đề nan giải với những nước chậm phát triển nhưViệt Nam, khi mà việc đào tạo tại nước ngoài thường có chất lượng hơn vì đàotạo trong nước chưa thể sánh với trình độ của khu vực và thế giới.
- Tổ chức hay cử đi tham gia các hội nghị, hội thảo
Phương pháp này thường được sử dụng để bồi dưỡng chuyên môn chogiảng viên Nó giúp giảng viên cập nhật thông tin rất dễ dàng và việc bố trí chogiảng viên tham gia hội nghị, hội thảo cũng rất thuận lợi do thời gian dành choviệc này rất ít so với nhiều phương pháp đào tạo khác Mặt khác, các cuộc hộinghị, hội thảo mang lại cơ hội trao đổi giữa nhiều người có cùng chuyên môn,cùng trình độ nên càng hiệu quả và là một phương pháp rất phổ biến trong giới tríthức
- Tổ chức những buổi trao đổi, sinh hoạt chuyên môn, toạ đàm khoa học
Phương pháp tổ chức hội nghị, hội thảo có nhiều ưu điểm song việc tổchức được nó thì không đơn giản do quy mô lớn, thường phải hội tụ nhiềungười, từ nhiều đơn vị trong và ngoài trường tham gia, thậm chí còn mang tầmquốc tế với sự tham gia của những nhà khoa học có quốc tịch khác nhau nênkhó có thể tổ chức thường xuyên Trong các trường ĐH, thay vì tổ chức hội nghị,hội thảo thì các đơn vị có thể tổ chức các buổi trao đổi, sinh hoạt chuyên mônhoặc toạ đàm khoa học Những hình thức tổ chức này đơn giản hơn hội nghị, hộithảo rất nhiều, có thể có sự tham gia từ bên ngoài nhưng cũng có thể hoàn toàn
do đơn vị tổ chức mà cũng không nhất thiết phải là cấp Khoa mà có thể vàthường là do Bộ môn, thậm chí tổ chuyên môn tổ chức Một hội nghị, hội thảothành công khi có nhiều nhóm người hoạt động trên nhiều khía cạnh của mộtlĩnh vực chuyên môn tham gia do đó, chủ đề của nó phải có tính phổ biến, nổitrội trong lĩnh vực đó Nhưng trao đổi, toạ đàm khoa học thường có chủ đề gắnsát với hoạt động của đơn vị, nhằm giải quyết những vướng mắc cụ thể trongđơn vị nên bên cạnh việc có thể tổ chức thường xuyên thì phương pháp này còn
ưu điểm là đáp ứng tốt nhu cầu của chính đơn vị tổ chức
Trang 32- Tổ chức các chuyến đi khảo sát thực địa
Đây cũng là một phương pháp đào tạo rất hiệu quả vì cho phép thựchành trên thực tế một số vấn đề nghiên cứu (chẳng hạn điều tra, tham khảo ýkiến…) hoặc thu thập những kiến thức thực tế phục vụ cho giảng dạy, xây dựngnghiên cứu điển hình Tuy nhiên, việc tổ chức những chuyến đi như thế này đòihỏi rất nhiều thời gian, công sức và đặc biệt là việc tổ chức phải thật khoa học,nếu không, kết quả thu được sẽ rất ít hoặc không có nhiều giá trị
Nhìn vào 2 nhóm phương pháp đào tạo, phát triển, tác giả cho rằngnhóm đào tạo trong công việc chỉ có 1 phương pháp có thể sử dụng cho giảngviên nhưng chủ yếu chỉ áp dụng đối với những giảng viên trẻ, giảng viên tập sựtrong khi đào tạo ngoài công việc lại có nhiều phương pháp linh hoạt hơn Rõràng, nhóm phương pháp ngoài công việc sẽ là nhóm phương pháp chủ yếu đểđào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, việc kèm cặp, hướng dẫn đốivới những giảng viên tập sự cũng hết sức quan trọng vì nó giúp cho họ có thể thựchiện tốt những bước đi đầu tiên trong nghề giảng dạy nên đây có thể coi làphương pháp thiết yếu đối với những giảng viên tập sự
1.2.4.3 Đánh giá kết quả đào tạo
Sau mỗi chương trình đào tạo nhân lực giảng dạy, nhà trường cần thực hiệnviệc đánh giá kết quả đào tạo để xem xét tính hiệu quả, chất lượng của chương trình,cũng như chất lượng học tập, rèn luyện của giảng viên tham gia Việc này có thể tiếnhành định kỳ khi tổng kết hàng năm, hoặc ngay sau khi khóa đào tạo kết thúc Việcđánh giá kết quả đào tạo có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện chất lượng của khóahọc, khắc phục các hạn chế, cũng như đánh giá được công tác xác định đối tượngđào tạo, mục tiêu đào tạo đã phù hợp hay chưa Từ đó xây dựng được quy trìnhchuẩn cho tất cả các khâu từ xác định mục tiêu, đối tượng, phương pháp cho tới nộidung đào tạo Nhờ vậy chất lượng đào tạo nguồn nhân lực giảng dạy sẽ được tăngcường
Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá kết quả đào tạo gặp phải một số khókhăn nhất định Các khóa học ngắn hạn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của
Trang 33giảng viên được tổ chức thường xuyên, định kỳ trong nhiều năm như Tiếng Anh, tinhọc…có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng học tập và đào tạo thông qua kết quảthi kiểm tra hết khóa; tuy nhiên đối với các khóa chuyên môn dài hạn như đào tạoThạc sỹ, Tiến sỹ, hoặc các đề tài nghiên cứu tại nước ngoài…không thể có đánh giáchuẩn xác ngay khi kết thúc khóa học mà cần xem xét quá trình dài để xác định đúngtính hiệu quả và chất lượng đào tạo của giảng viên tham gia cũng như phản hồi củasinh viên trong quá trình học tập.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học
NNL giảng dạy là bộ phận chủ yếu của các trường đại học, lao động củacon người là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, con người là động lực
cơ bản quyết định của quá trình sản xuất, con người là động lực cơ bản quyếtđịnh sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Phát triển NNL giảng dạy trongcác trường đại học là những biến đổi về số lượng và chất lượng từ trình độ chấtlượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn Do đó, các nhân
tố tác động đến quá trình phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại họcbao gồm: điều kiện tự nhiên môi trường, kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật, cơchế chính sách ở mỗi giai đoạn phát triển
- Ngân sách nhà nước, dành cho trả lương, phụ cấp ưu đãi;
- Chi cho đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao trình độ chuyên
Trang 34môn, nghiệp vụ, quản lý giáo dục; chi cho việc đầu tư ở các trường sư phạm, trườngcán bộ quản lý giáo dục, ở các viên nghiên cứu giáo dục;
- Chi cho việc nghiên cứu khoa học, khảo sát tham quan thực tế trong nước vànghiên cứu nước ngoài là động lực thu hút phát triển đội ngũ giảng viên trongnguồn nhân lực giáo dục và lực lượng lao động khác tham gia vào nghành giáo dục
Đầu tư phát triển đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục cần nhiềulực lượng tham gia: nhà nước, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, hay là các tổchức quốc tế, chính phủ và phi chính phủ, Nhưng trong đó nhà nước đóng vai tròchủ yếu quyết định Việc tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho đội ngũ nguồn nhânlực giáo dục sẽ là nhân tố tác động rất lớn đến việc gia tăng về số lượng và nâng caochất lượng đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục Đặc biệt, việc tăng trảlương, phụ cấp ưu đãi, và tăng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cũng sẽ tác dụng khíchthích lực lượng lao động trong ngành giáo dục nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và cả tình yêu nghề Ngoài ra, để tăng cường đầu tư cho phát triển đội ngũ giảngviên trong nguồn nhân lực giáo dục sẽ khắc phục hạn chế, khả năng của ngân sáchNhà nước nên cần phải thúc đẩy nguồn đầu tư của cá nhân, tổ chức trong nước vàngoài nước nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và phát triển đội ngũ giảng viêntrong nguồn nhân lực giáo dục Do vậy để phát triển đội ngũ giảng viên trong nguồnnhân lực giáo dục đủ về số lượng, đảm bảo về cơ cấu nhân lực ở các miền của đấtnước đều bị ảnh hưởng của chính sách đầu tư, cho nên nếu sử dụng chính sách đầu
tư thích hợp có hiệu quả sẽ là nhân tố làm tăng cả về số lượng và chất lượng đội ngũgiảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục cho nước Lào
1.3.1.2 Chiến lược đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học
Đối với các trường đại học, chiến lược đào tạo và phát triển NNL giảng dạy
là một trong những vấn đề rất quan trọng trong chiến lược phát triển nói chung củanhà trường Các nhà trường cũng thường xây dựng các chiến lược phát triển đếnnăm 2020 và tầm nhìn đến năm 2020, trong đó các mục tiêu cụ thể về phát triểnđào tạo NNL cũng được đề cập đến Chính những mục tiêu cụ thể trong chiến
Trang 35lược đào tạo và phát triển đã có những ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triểngiảng dạy của nhà trường hàng năm Cụ thể như:
Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, cóphẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao;phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ hợp lý về quy mô và cơ cấu, có
đủ năng lực để xây dựng một đại học nghiên cứu tiên tiến Dự báo số lượngcán bộ giảng dạy đến năm 2020 của nhà trường Dự báo đội ngũ giảng viênđại học với có học vị tiến sĩ, có chức danh giáo sư, phó giáo sư (trong đó cóchức danh giáo sư); bao nhiêu giáo viên có thể giảng dạy chuyên môn bằngngoại ngữ Xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành có uy tín cao ở trong và ngoàinước Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tính chuyênnghiệp cao với thông thạo nghiệp vụ, sử dụng được một ngoại ngữ trong giaotiếp, sử dụng thành thạo tin học văn phòng và phần mềm quản lý
Bên cạnh đó các trường đại học cũng đưa ra giải pháp cụ thể để phát triểnNNL giảng dạy đó là phát triển đội ngũ cán bộ hợp lý về quy mô và cơ cấu, có đủnăng lực thực hiện sứ mệnh của trường:
Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ phù hợp với quy mô đào tạo Xây dựngchiến lược phát triển NNL để có được đội ngũ cán bộ giỏi, xuất sắc về chuyênmôn, nhiệt huyết với sự nghiệp giáo dục Xây dựng môi trường làm việc chuyênnghiệp và trọng dụng nhân tài Đầu tư tương xứng với tiềm năng của cán bộ vàmức độ ưu tiên của công việc Xây dựng cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho cán bộtheo kết quả làm việc
Có chế độ định kỳ đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụcho cán bộ Xây dưng chính sách thu hút các cán bộ đã nghỉ hưu, cán bộ ở cơquan ngoài, các nhà khoa học quốc tế đến giảng dạy và nghiên cứu tại Trường.Đổi mới mạnh mẽ công tác quản trị đại học Xây dựng văn hóa công sở Tăngcường công tác quản lý cán bộ và quản lý lao động nói riêng Thực hiện tốt côngtác khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ và sinh viên
Trang 361.3.1.3 Công tác quy hoạch, phát triển đội ngũ giảng viên trong các trường đại học
Công tác này giữ một vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo cho việc xây dựngđược một đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, có chất lượng cao, đồng bộ về cơ cấu,đảm bảo sự kết nối một cách nhuần nhuyễn giữa các thế hệ và xây dựng được độingũ giáo viên đầu ngành
Để tuyển được những giảng viên có phẩm chất tư tưởng chính trị, đạođức tốt, có năng lực chuyên môn giỏi, cần tuyển chọn những sinh viên tốtnghiệp loại giỏi trở lên sau đó được đào tạo nâng cao; hoặc chọn những cán bộkhoa học từ các cơ sở khoa học, hoặc các cán bộ đang giảng dạy ở các trườngđại học, cao đẳng Cần sơ tuyển qua hồ sơ, sau đó thực hiện các hình thức thituyển để đánh giá về nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ,tin học, khả năng sư phạm (thông qua hình thức giảng thử) Đây là bướcđánh giá tổng hợp, do đó phải có hội đồng gồm những nhà giáo có trình độchuyên môn và kinh nghiệm của ngành học, môn học để kiểm tra, đối thoại trựctiếp và có đánh giá cụ thể
1.3.1.4 Công tác bồi dưỡng giảng viên trong các trường đại học
Nội dung bồi dưỡng giảng viên phải toàn diện, bao gồm cả phẩm chấtđạo đức, tư tưởng chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm Đây là mộtyêu cầu khách quan có tính cấp thiết để xây dựng và nâng cao chất lượng độingũ giảng viên đại học - nó được xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung,chương trình và phương pháp dạy học ở trường đại học; đáp ứng xu thế pháttriển của giáo dục trong nước và trên thế giới, cũng như yêu cầu của việcchuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tínchỉ có hiệu quả, và tiến tới thực hiện các chương trình đào tạo tiên tiến
Xây dựng cho được một đội ngũ ngày càng nhiều những giảng viên đạihọc đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là đạt đến trình độ quốc tế trong nghiêncứu khoa học (NCKH) Muốn vậy, cần đẩy mạnh hợp tác đào tạo sau đại họcvới những trường đại học hàng đầu của thế giới, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ
Trang 37của các trường bạn trong việc đào tạo đội ngũ các giảng viên trẻ đạt chuẩnquốc tế Việc đào tạo giảng viên phát triển theo hướng chuyên nghiệp chính làchiếc cầu nối giữa vị trí mà các nhà giáo dục đang đứng hiện nay với vị trí mà
họ cần có và phải có, nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập
và môi trướng đầu tư thuận lợi cho các công ty nước ngoài đầu tư vào cáchoạt động ở nước mình, qua đó nâng cao chất lượng và năng suất lao độngcủa đất nước mình, chuyển giao và tiếp nhận các công nghệ mới, hiện đại
Các hoạt động đào tạo dù mang những yếu tố đặc thù riêng bởi đốitượng tác động là con người, song cũng vẫn mang những điểm chung của quátrình phát triển Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua các hoạt động hợp tácquốc tế trong đào tạo luôn được coi là những biên pháp quan trọng trongchiến lược phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học ở nước ta
Quá trình toàn cầu hóa với sự xuất hiện của các đơn vị kinh tế100% vốn nước ngoài hay các đơn vị liên doanh liên kết đã tạo áp lực về NNLđược đào tạo được đáp ứng các yêu cầu sản xuất dịch vụ theo chuẩn nước
Trang 38ngoài Đây cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy các đơn vụ đào tạo trong nướctìm kiếm, xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo theo chuẩn nướcngoài Trong bối cảnh đó, sự ra đời của các chương trình hợp tác đào tạo quốc
tế giữa các đơn vị đào tạo trong nước và các trường đại học, các tổ chức đàotạo nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình phát triển Thực tế diễn ra củaquá trình toàn cầu hóa với sự lớn mạnh của các tập đoàn đa quốc gia, sự thâmnhập của các công ty nước ngoài vào các hoạt động sản xuất kinh doanh củamọi doanh nghiệp
Xét từ khía cạnh người học, cùng với quá trình đổi mới kinh tếtrong xu hướng hội nhập quốc tế, thu nhập của người dân cũng được tăng lên,tạo điều kiện cho họ có thể tìm kiếm những cơ hội đào tạo tốt hơn cho con
em Ngoài ra, tương tự như nhiều nước Châu Á khác, với áp lực dân số trẻ vàđông đã tạo ra sự cạnh tranh về nhân lực khốc liệt hơn, các gia đình thường sẵnsàng và có nhu cầu đầu tư vào giáo dục cho con cái, để mong con mình có cuộcsống tốt hơn
1.3.2.2 Các chính sách của chính phủ, quốc gia đối với đào tạo và phát triển NNL
Xuất phát từ sự phát triển đường lối, chính sách và mục tiêu của Đảng vàNhà nước để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục mà trong đó nòng cốt làchiến lược phát triển đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục cho từnggiải đoạn Thông qua chiến lược này đào tạo cơ sở định hướng cho việc phát triểnđội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục nhằm đạt những mục tiêu đã đề
ra Đặc biệt từ những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đội ngũ giảng viêntrong nguồn nhân lực giáo dục có vai trò quan trọng nhằm đào tạo nguồn nhânlực đáp ứng những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và phát triển đất nước, phùhợp với xu hướng phát triển của thế giới Thông qua các chủ trương, chính sáchphát triển đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục, Nhà nước có thểđiều chỉnh sự phát triển nguồn nhân lực giáo dục, định hướng sự phá triển mạnh
mẽ bộ phận này, hạn chế bộ phận kia tạo ra một cơ cấu đội ngũ giảng viên trong
Trang 39nguồn nhân lực giáo dục hợp lý, phù hợp với đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng pháttriển đất nước Chính sách mở rộng các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngànhgiáo dục, sự mở rộng về quy mô sinh viên các trường sư phạm, các khoa sưphạm, các trường đào tạo cán bộ quản lý giáo dục, chính sách của nhà nước tăngcường biên chế cho ngành giáo dục sẽ là nhân tố tác động đến việc tăng sốlượng đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục cho thời kỳ đổi mới hoặcnhà nước có chính sách cắt giảm biên chế, nâng cao mức chuẩn hóa nghề nghiệphoặc những quy định khác sẽ tác động đến việc thu hẹp chỉ tiêu đào tạo ở cáctrường sự phạm, các khóa sư phạm, các trường đào tạo thì cũng bị ảnh hưởng đếnphát triên đội ngũ giảng viên trong nguồn nhân lực giáo dục.
Hiện nay Đảng và Nhà nước Lào đã ban hành những chính sách như: chínhsách cải cách tiền lương, chế độ phụ cấp đối với giảng viên đứng lớp, chế đội đãingộ đối với các nhà giáo công tác ở các địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
và các trường chuyên biệt Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành nhiều chính sáchkhác nhằm khuyến khích về tinh thần, đãi ngộ về vật chất đối với người thầy:
“Phong các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú; tặng huy chương vì sựnghiệp giáo dục; sinh viên sư phạm được miễn học phí, được cấp học bổng; cáctrường sư phạm được ưu tiền đầu tư” (Đại hội Đảng nhân dân cách mạng Lào
2006, tr 45) Bộ giáo dục – thể thao đã ban hành tiêu chuẩn giảng viên, cán bộquản lý giáo dục ở ngành học, tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên
và cán bộ quản lý giáo dục ở các cấp theo chu kỳ ngắn hạn, dài hạn nhằm tạođiều kiện cho đội ngũ nguồn nhân lục giáo dục có đủ năng lực, phẩm chất đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2.3 Yếu tố kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn kinh tế phát triển, các trường đại học công lập đang ngày
có nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo do vậy cần phát triển đội ngũ NNL giảng dạy,tăng cường đào tạo và phát triển hơn nữa NNL này Hơn nữa việc mở rộng quy
mô và chất lượng đào tào của các ngành trong trường kinh tế, đòi hỏi các trườngphải tuyển thêm một đội ngũ NNL giảng dạy mới có năng lực, có trình độ chuyên
Trang 40môn, trình độ ngoại ngữ và có kiến thức về sư phạm nhằm đáp ứng nhu cầu họccủa sinh viên và mục tiêu đào tạo của trường đặt ra.
Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, bất ổn và có chiều hướng đi xuống, cáctrường đại học khối kinh tế, số lượng sinh viên đăng ký học ngày càng giảm.Các trường đại học vẫn phải duy trì một đội ngũ NNL giảng dạy có trình độ,mặt khác cần phải giảm các chi phí đào tạo
Ở Lào, cùng với nhu cầu ngày càng lên cao, các trường đại học thành lậpngày một nhiều, các trường đã có xu hướng thu hút NNL giảng dạy có chất lượngcao và đưa ra các biện pháp đãi ngộ như tăng lương, tăng phúc lợi Rõ ràng bốicảnh kinh tế đã có ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạycủa các trường đại học
1.4 Kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ở các trường đại học ở Việt Nam và Lào
1.4.1 Kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy ở các trường đại học ở Việt Nam và Lào
* Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức được xem là mộtcông tác quan trọng của Trường Bên cạnh việc chú trọng đến đội ngũ cán bộ,giáo viên lâu năm trong biên chế, Trường cũng luôn quan tâm và coi trọng việcđào tạo, bồi dưỡng cả đối tượng lao động hợp đồng Với các công việc mà Trường
áp dụng là: (1) Đào tạo để nâng cao học vấn, (2) Huấn luyện về phương pháp giảngdạy, (3) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn theo chuyên đề và sửdụng các công cụ hỗ trợ hoạt động chuyên môn, (4) Đào tạo để luân chuyển, (5)Kèm cặp, bồi dưỡng chỉ dẫn trong công việc
Về phương thức đào tạo để nâng cao học vấn (thạc sỹ và tiến sỹ) thì đây
là phương thức đào tạo cơ bản và được thực hiện phổ biến tại Trường Đối tượngtham gia là tất cà cac giảng viên lẫn cán bộ chuyên viên thuộc khối hành chính,quản lý Phương thức này được gồm đào tạo cả ở trong nước và ngoài nước; ở