1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận pháp luật thương mại quốc tế vấn đề chứng minh sản phẩm tương tự trong giải quyết tranh chấp về phân biệt đối xử WTO

21 812 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 42,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạtđộng thương mại đa biên, đặc biệt nó tạo nên một điều khoản mang tính ưutiên trong các Hiệp định về thương mại hàng hóa

Trang 1

I NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ CỦA TRONG WTO 1.1 Nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN)

Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most Favoured Nation), lànguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO Tầm quan trọng đặc biệt củaMFN được thể hiện ngay tại Ðiều I của Hiệp định GATT (mặc dù bản thânthuật ngữ ''tối huệ quốc'' không được sử dụng trong điều này) Nguyên tắcMFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử

ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi không kém hơn chotất cả các nước thành viên khác

Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạtđộng thương mại đa biên, đặc biệt nó tạo nên một điều khoản mang tính ưutiên trong các Hiệp định về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và cáckhía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Khi nguyên tắcMFN được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên WTO một cách vô điềukiện thì cũng đồng nghĩa với việc duy trì sự bình đẳng và không phân biệt đối

xử vì tất cả hàng hóa, dịch vụ, đến từ các nước khác nhau sẽ đều được ''đối

xử ưu đãi'' như nhau Nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất ápdụng tuyệt đối Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bốkhông áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thànhviên khác (Trường hợp không áp dụng MFN đối với Cuba mặc dù Cuba làthành viên sáng lập GATT và WTO)

Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với ''hànghoá'' thì trong WTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch

vụ (Ðiều II Hiệp định GATS), và các khía cạnh thương mại liên quan đếnquyền sở hữu trí tuệ (Ðiều 4 Hiệp định TRIPs)

0

Trang 2

Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắcnền tảng nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển,không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rấtnhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyêntắc này Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị pháthiện và bị kiện nhiều hơn vi phạm của các nước phát triển

1.2 Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT)

Nguyên tắc Đối xử quốc gia (National Treatment – NT), quy định tạiÐiều III Hiệp định GATT, Ðiều XVII GATS và đều 3 TRIPs Nguyên tắc NTđược hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoàiphải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trongnước Phạm vi phạm áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch vụ vàcác khía cạnh thương mại liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ có khác nhau Ðốivới hàng hoá và các khía cạnh thương mại liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ,việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung (general obligation), cónghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuếquan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng nhưhàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, cácquy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Ðối với dịch vụ, nguyên tắcnày chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưavào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phánđưa ra những ngoại lệ (exception)

Các nước, về nguyên tắc, không được áp đụng những hạn chế số lượngnhập khẩu và xuất khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong cáchiệp định của WTO, cụ thể đó là các trường hợp mất cân đối cán cân thanhtoán (Ðiều XII và XVIII.b); nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ

Trang 3

trong nước (Ðiều XVIII.c); bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự giatăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàngtrên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều (Ðiều XIX); vì lý do sức khoẻ

và vệ sinh (Ðiều XX) và vì lý do an ninh quốc gia (Ðiều XXI)

Việc áp dụng nguyên tắc Đối xử quốc gia trên thực tế gây ra rất nhiềutranh chấp giữa các bên ký kết GATT/WTO bởi một lý do dễ hiểu là nếu cácnước dễ chấp nhận nguyên tắc đối xử bình đẳng đối với các nước thứ ba thìnước nào cũng muốn dành một sự bảo hộ nhất định đối với sản phẩm nội địa.Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) cùng với nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN)

là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thương mại đa phương mà

ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết

về mở cửa thị trường là tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chínhthức trở thành thành viên của WTO

Để kiểm tra một biện pháp của một nước có vi phạm nguyên tắc MFN hay NT hay không, người ta thường tiến hành 3 bước để xác định (được gọi là three tier test):

 Liệu biện pháp gây tranh cãi có tạo ra một lợi thế, biệt đãi, đặcquyền hay miễn trừ gì về mặt thương mại hay không?

 Liệu sản phẩm liên quan có phải sản phẩm tương tự hay không?

 Liệu lợi thế được tạo ra có trao cho tất cả các sản phẩm tương tựngay lập tức và vô điều kiện hay không?

Việc trả lời câu hỏi thứ nhất và thứ ba ở trên dường như rõ ràng và dễ ràsoát hơn, tuy nhiên để trả lời câu hỏi sản phẩm liên quan có phải là sản phẩmtương tự hay không lại đưa chúng ta tới một phạm trù phức tạp đó là “sảnphẩm tương tự” Tại sao cần phải phân định các sản phẩm có “tương tự” nhau

Trang 4

hay không, hay làm thế nào để chứng minh điều đó? Những vấn đề này sẽđược lần lượt trình bày sau đây.

II Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHỨNG MINH SẢN PHẨM TƯƠNG TỰ 2.1 Thế nào là sản phẩm tương tự

Điều 2.6 Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan

và thương mại - GATT 1994 (ADA) có định nghĩa như sau về sản phẩmtương tự: "sản phẩm tương tự sẽ được hiểu là sản phẩm giống hệt, tức là sảnphẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặctrong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì sản phẩm khác mặc dùkhông giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩmđược xem xét" Tuy nhiên định nghĩa này hết sức chung chung: thế nào là

“giống hệt”, “tất cả các đặc tính” bao gồm những gì hay thế nào là “có nhiềuđặc điểm gần giống”, định nghĩa này rõ ràng không cho ta một hệ thống cụthể và chính xác để dựa vào đó ta có thể xem xét tính tương tự của các sảnphẩm Sản phẩm tương tự có thể là hàng hóa của các nước cùng xuất khẩuvào nước nhập khẩu khi xem xét việc vi phạm nguyên tắc MFN; hoặc có thể

là hàng hóa của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu khi xem xét việc vi phạmnguyên tắc NT

Vấn đề đặt ra là, dù khái niệm sản phẩm tương tự được đề cập tới nhiềulần nhưng các hiệp định của WTO không đưa ra các tiêu chí cụ thể để làm rõkhái niệm này Một hiệp định khác giải thích khái niệm hàng hóa tương tự

(similar goods) là Hiệp định Trị giá hải quan Theo Hiệp định Trị giá hải

quan, khi lô hàng đang làm thủ tục hải quan không đủ điều kiện xác định trịgiá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu thì cầnphải sử dụng các phương pháp thay thế kế tiếp như trị giá giao dịch của hànghóa giống hệt hay tương tự Điều 15 Hiệp định này định nghĩa “Hàng hóa

Trang 5

tương tự là các hàng hóa dù không giống nhau về mọi khía cạnh nhưng cónhững đặc điểm tương tự hoặc có thành phần cấu tạo tương tự cho phépchúng thực hiện cùng một chức năng và có thể thay thế nhau về mặt thươngmại Chất lượng, uy tín và nhãn hiệu nằm trong số các yếu tố cần xem xét khixác định sự tương tự của các hàng hóa.” Tuy nhiên, cách giải thích này khôngđược áp dụng khi xem xét các tranh chấp về phân biệt đối xử vì phạm vi của

nó rất hẹp, chỉ hướng tới sự tương đương về giá trị giữa hàng hóa nhập khẩu

và hàng hóa nhập khẩu tương tự

2.2 Ý nghĩa của việc chứng minh sản phẩm tương tự

Sản phẩm tương tự hiện diện trong nhiều mặt của lĩnh vực thương mạiquốc tế Ta cần phân định sản phẩm tương tự để áp dụng mức thuế quan phùhợp với từng loại hàng hóa, định giá hàng hóa, các chính sách áp dụng, Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả muốn đề cập tới việc xác định 2 sản phẩm

có là sản phẩm tương tự hay không trong một vụ tranh chấp có vai trò quyếtđịnh tới chuyện có hay không việc một nước vi phạm nguyên tắc MFN hay

NT

Bản thân việc xác định hàng hóa tương tự cũng có những khác biệt nhấtđịnh qua từng hiệp định Ngay trong Hiệp định GATT, nội hàm của khái niệmnày trong Điều I và Điều III cũng không hoàn toàn giống nhau Trong đó,đáng lưu ý là Điều III.2, câu số 2 mở rộng phạm vi hàng hóa tương tự tới mứcbao hàm cả các hàng hóa có tính cạnh tranh và thay thế trực tiếp đối với hànghóa nội địa

III CÁC CĂN CỨ ĐỂ CHỨNG MINH SẢN PHẨM TƯƠNG TỰ 3.1 Đặc tính vật chất của các hàng hóa

Trang 6

Đặc tính vật chất của hàng hóa có thể hiểu một cách đơn giản là một tậphợp các đặc điểm của hàng hóa về hình thức bên ngoài, tính chất vật lý, thànhphần các chất trong hàng hóa, phương thức sản xuất, Vì sự không thôngthống nhất và không có quy định cụ thể nào về việc phân định sản phẩmtương tự, trong thực tế đã từng xảy ra rất nhiều vụ tranh chấp như vụ kiệnDS8, DS10, DS11 về sản phẩm đồ uống có cồn giữa Nhật Bản với một sốnước hay là vụ kiện số DS141 về sản phẩm khăn lạnh trải giường loại coton.Bằng các phán quyết của mình, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đãđưa ra những cách giải thích về "sản phẩm tương tự" Điển hình là trong vụviệc DS8, DS10, DS11 mà sau đây gọi chung là vụ kiện về đồ uống có cồn và

DS 141

Trong vụ kiện đó thì Ban Hội thẩm cho rằng việc giải thích nội hàm củathuật ngữ "sản phẩm tương tự" cần theo nghĩa hẹp tùy thuộc vào từng Điềuluật và từng điều khoản nhất định; và Cơ quan Phúc thẩm cũng đồng ý vớiquan điểm của Ban Hội thẩm về vấn đề này Ban Hội thẩm cho rằng sản phẩmvodka và shochu có nhiều đặc tính vật chất giống nhau, bởi vì chúng thườngđược uống dưới dạng loãng và nồng độ cồn trong hai sản phẩm này khôngloại trừ đặc tính giống nhau này

Tuy nhiên từ những vụ việc này cũng khiến nảy sinh ra các tiêu chí khác,

và việc đánh giá tính tương tự của sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm sản xuấttrong nước cần phải được xác định theo từng vụ kiện cụ thể Đồng thời, Cơquan Phúc thẩm đã nhấn mạnh quan điểm này bằng việc so sánh giữa kháiniệm về sản phẩm tương tự và hình ảnh một cây đàn accoocdeong Nó tùythuộc vào từng vụ việc cụ thể

3.2 Mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm

Trang 7

Trong vụ kiện DS141 thì Ban Hội thẩm đã tiến hành kiểm tra xem khănlanh trải giường loại cotton mà EC sản xuất và bán trên thị trường EC có phải

là sản phẩm tương tự với khăn lanh trải giường loại cotton xuất xứ tại Ai Cập,

Ấn Độ, Pakistan và xuất sang thị trường EC hay không Đại diện của một sốbên liên quan đã cho rằng khăn lanh trải giường tẩy trắng cần được loại khỏiphạm vi sản phẩm bị điều tra vì đây không thể xem là sản phẩm tương tự Họlập luận rằng khăn lanh trải giường tẩy trắng khác loại khăn lanh trải giườngnhuộm hay in cả về kỹ thuật lẫn đối tượng sử dụng cuối cùng (khăn trảigiường nhuộm trắng chủ yếu sử dụng trong các bệnh viện và khách sạn) BanHội thẩm thấy rằng EC có sản xuất sản phẩm khăn lanh trải giường tẩy trắng

và một số sản phẩm loại này không phải chỉ được sử dụng bởi một nhóm đốitượng riêng biệt Do đó, Ban Hội thẩm đã đi đến kết luận rằng mặc dù có sựkhác biệt nhất định giữa nhóm sản phẩm sản xuất tại EC và nhóm sản phẩmđược xuất sang EC hoặc bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu nhưngkhông có sự khác biệt về các đặc tính cơ bản và cách thức sử dụng giữa cácsản phẩm khăn lanh trải giường thuộc các loại và chất lượng khác nhau Vìvậy các sản phẩm sản xuất và xuất khẩu bởi các nước bị điều tra và sản phẩmsản xuất và bán tại EC được xem là sản phẩm tương tự Như vậy yếu tố mụcđích sử dụng cuối cùng mà sản phẩm có thể phục vụ đã được dùng để làm căn

cứ xem xét tính tương tự của sản phẩm

3.3 Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm

Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm phản ánh sở thích, thói quen mua sắm, sửdụng các sản phẩm của người tiêu dùng tại những nơi khác nhau Các yếu tốnhư vị trí địa lý, khí hậu, văn hóa, lịch sử, vô cùng đa dạng và phong phú đãtạo nên thị hiếu tiêu dùng khác nhau của người dân mỗi khu vực Hai sảnphẩm có tương tự hay không, có thể được xem xét dựa trên sở thích và thóiquen tiêu dùng 2 sản phẩm đó

Trang 8

3.4 Mã số phân loại quốc tế của hàng hóa nhằm mục đích thuế quan

Trong báo cáo của Ban công tác WTO về Điều chỉnh thuế quan năm

1970, việc sử dụng cách phân loại trong các danh mục thuế quan làm tiêu chíxác định tính chất tương tự của hàng hóa chưa được nhắc tới Năm 1996,

trong vụ việc Nhật Bản - Các loại thuế đối với đồ uống có cồn, Cơ quan Phúc

thẩm mới chính thức công nhận việc sử dụng mã số HS như một tiêu chí đểxem xét tính chất tương tự của hàng hóa

Trong phán quyết của mình, Cơ quan Phúc thẩm nhận định “việc phânloại thống nhất trong các biểu thuế quan dựa trên Danh mục Hài hòa (HS)được ghi nhận trong thực tiễn thực thi Hiệp định GATT 1947 như một cơ sởquan trọng khi xác định tính chất tương tự của hàng hóa.” Tuy nhiên, Cơ quannày cho rằng có sự khác biệt quan trọng giữa Danh mục HS và các cam kết vềthuế quan được các thành viên WTO thực hiện theo Điều II của Hiệp địnhGATT 1994 Bởi lẽ nhiều thành viên xây dựng các dòng cam kết theo cáchbao hàm rất nhiều sản phẩm thuộc nhiều mã HS khác nhau Thí dụ, Jamaicacam kết hầu hết sản phẩm nông nghiệp ở mức thuế 50%; Peru cam kết các sảnphẩm phi nông nghiệp ở mức thuế 30% Điều này không phản ánh sự tương

tự của các hàng hóa được xếp chung trong một dòng cam kết mà chỉ cho thấykết quả đàm phán của các thành viên WTO Do đó, Cơ quan Phúc thẩm kếtluận “việc sử dụng các dòng cam kết thuế quan có phạm vi quá rộng như mộtcông cụ xác định hàng hóa tương tự sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.”

Như vậy, theo quan điểm của Cơ quan Phúc thẩm ở thời điểm năm 1996,

dù Công ước HS đóng vai trò nhất định trong việc xác định tính chất tương tựcủa hàng hóa nhằm mục đích giải quyết tranh chấp trong WTO, vai trò nàychỉ được xem xét một cách gián tiếp thông qua các Biểu cam kết Chỉ khi nàocác dòng cam kết “mô tả hết sức chính xác hàng hóa,” chúng mới được xem

Trang 9

xét như một “chỉ dẫn quan trọng” khi xác định tính chất tương tự của hànghóa.

Mức độ quan trọng của từng tiêu chí trong 4 tiêu chí trên sẽ được xácđịnh trong từng tranh chấp cụ thể (case by case basis) Trong nhiều trườnghợp, tính cạnh tranh của các sản phẩm đang xem xét trở thành yếu tố tiênquyết, trong khi cả bốn yếu tố trên chỉ mang tính chất tham khảo

3.5 Case study: Hàn Quốc – Thuế áp dụng đối với đồ uống có cồn

về vấn đề tương tự như EC Hoa Kỳ cũng cho rằng hành động của Hàn Quốc

đi ngược lại quy định tại điều khoản III: 2 của GATT 1994

DSB đã thành lập Ban Hội Thẩm vào cuộc họp ngày 16/10/1997 sau yêucầu lần thứ hai từ phía EC và Hoa Kỳ Canada và Mexico tham gia vào vụtranh chấp này với tư cách là bên thứ ba

Ngày 05/12/1997, Ban Hội Thẩm được thành lập với cơ cấu rõ ràng Báocáo của Ban Hội Thẩm được đưa đến các thành viên vào ngày 17/09/1998

3.5.2 Giai đoạn Hội thẩm

a Lập luận của bên bị đơn

Trang 10

 Đặc điểm vật chất của các loại đồ uống chưng cất có cồn

Phía Hàn Quốc cho để chưng cất rượu, đầu tiên phải cho lên men cácnguyên liệu thô Các nguyên liệu lên men được đưa vào trong một quá trìnhchắt lọc và cô đọng, hay còn gọi là chưng cất Các đồ uống được chưng cấttheo phương pháp này nói chung sẽ tạo ra “cồn”, và cồn chính là sản phẩmchính trong trường hợp này

Thêm vào đó, Hàn Quốc còn lập luận rằng rượu chưng cất được tạo nên

từ các nguyên liệu rất đa dạng như lúa, ngô, gạo, hoa quả, đường mía hay củcải đường, khoai tây hoặc thậm chí bột sắn Việc lựa chọn nguyên liệu thô đểchưng cất sản xuất ra đồ uống có cồn tùy thuộc vào từng khu vực địa lý, vănhóa và yêu cầu của khách hàng, và điều đó đóng vai trò quan trọng quyết địnhchất lượng của sản phẩm đầu ra cuối cùng

Hàn Quốc đặc biệt lưu ý rằng có một cách phân biệt khác dựa vào màucồn là “nâu” hay “trắng” Theo Hàn Quốc, cách phân biệt này liên quan tớiquy trình sản xuất cũng như vẻ bề ngoài của đồ uống: cồn nâu được xếp làloại rượu nâu (VD: whisky hay congac); cồn trắng được xếp là rượu trắng(VD: soju hay gin) Hàn Quốc còn lập luận thêm rẳng rượu nâu thường được

ủ trong thùng gỗ và chính điều này cùng với các nguyên liệu ban đầu tạo nênhương vị đặc trưng của chúng Trong khi đó rượu trắng không được ủ trướckhi đóng chai, thay vào đó chúng được thêm nếm hương vị trong suốt quátrình chưng cất làm nên hương vị đặc trưng của chúng Mỗi loại rượu khácnhau được tạo nên từ những nguyên liệu khác nhau (VD: hương vị đặc biệtcủa rượu gin được tạo nên từ cây dâu)

 Hành vi và thị hiếu của khách hàng

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w