1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC

15 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 39,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC Người thực hiện:Trần Thị Minh Thư MSSV: 2053801015130 Lớp:122-AUF45 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021 MỤC LỤC PHẦN 1: MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................................1 PHẦN 2: NỘI DUNG.................................................................................................................1 1.2 Các đặc trưng của di chúc ...................................................................................................................... 2 2.2 Hình thức của di chúc ............................................................................................................................ 3 2.3 Nội dung của di chúc.............................................................................................................................. 4 2.4 Nội dung cụ thể của di chúc .................................................................................................................. 5 CHƯƠNG II: CÁC HÌNH THỨC THỪA KẾ DI SẢN ..............................................................5 1. Thừakếtheodichúc.....................................................................................................................5 1.1 Người thừa kế theo di chúc..................................................................................................................... 5 1.2 Ngườithừakếkhôngphụthuộcvàonộidungcủadichúc....................................................................6 2. Thừa kế theo pháp luật .............................................................................................................. 6 2.2 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp (khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 .................................................................................................................................. 7 2.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng với các phần di sản (khoản 2 Điều ...................................... 7 CHƯƠNG III : PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC ..........................................................8 1.Phương thức phân chia di sản theo di chúc .................................................................................... 8 2. Phân chia di sản.............................................................................................................................9 2.1 Trường hợp có di tặng ............................................................................................................................ 9 2.2 Trường hợp có di sản dùng vào việc thờ cúng ...................................................................................... 10 2.3 Trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc........................................... 11 MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................1 1. Lýdochọnđềtài 1 PHẦN 1: MỞ ĐẦU Một trong số những nội dung quan trọng của chế định thừa kế là quy định về phân chia di sản theo di chúc. Có thể nói, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế. Mục đích cuối cùng của việc tranh chấp thừa kế cũng là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỳ phần mà người thừa kế có quyền hưởng. Thực tế cho thấy, việc xác định di sản thừa kế cũng như việc phân chia di sản thừa kế luôn là hai yếu tố quan trọng đối với vấn đề thừa kế theo di chúc. Nếu không hiểu rõ những quy định của pháp luật về xác định di sản thừa kế hay cách phân chia di sản, thì việc xảy ra tranh chấp giữa các chủ thể nhận thừa kế là rất phức tạp trong việc giải quyết tranh chấp đó. Việc định đoạt tài sản của người lập di chúc vi phạm với những quy định của pháp luật có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến sự bùng phát tranh chấp và hệ luỵ là những vụ kiện tranh chấp bị kéo dài, không dứt điểm. Thêm vào đó, hệ quả của những vụ tranh chấp này không chỉ dẫn tới hệ lụy là những vụ kiện tụng kéo dài mà còn dẫn tới những yếu tố trái với đạo đức xã hội, những tranh chấp không đáng có những thành viên trong gia đình và những người quyền lợi liên quan làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chuẩn mực đạo đức và giá trị cốt lõi trong văn hoá ứng xử lâu đời của người dân Việt Nam. Qua những phân tích trên và cũng xuất phát từ thực tiễn là các tranh chấp thừa kế có xu hướng ngày càng tăng với tính chất phức tạp, tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu trong bài tiểu luận kết thúc học phần. Bằng kiến thức nhất định và khả năng tiếp thu trong quá trình học tập, phương pháp đánh giá và tư duy, bài tiểu luận này sẽ đưa ra những phân tích cụ thể và cần thiết cho những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài. CHƯƠNG I : DI CHÚC 1. Kháiniệmdichúc 1.1 Khái niệm di chúc PHẦN 2: NỘI DUNG Di chúc là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống dân sự và là một khái niệm khoa học pháp lý. 2 Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.1 Di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc do vậy pháp luật thừa kế thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ ý nguyện cuối đó của người lập di chúc trong việc xác định và phân chia di sản của người quá cố cho những người thừa kế được chỉ định hưởng di sản trong di chúc. 1.2 Các đặc trưng của di chúc Di chúc là cơ sở quan trọng để thể hiện ý chí của người đã chết nhằm chuyển tài sản riêng của mình cho người khác và cũng là cơ sở quan trọng để xác định được chủ thể nhận di sản thừa kế cũng như là cơ sở để xác lập quyền sở hữu của chủ thể nhận di sản thừa kế đối với di sản thừa kế. Chính vì vậy, bản thân di chúc có những đặc trưng để phân biệt di chúc với các giao dịch dân sự khác. - Ý chí cá nhân của người lập di chúc, di chúc phải là ý chí của người lập di chúc khi còn sống, nếu một văn bản được cho là di chúc nhưng không thể hiện được ý chí cá nhân của người này thì không phải là di chúc và “di sản trong văn bản đó được chia theo pháp luật”.2 - Thể hiện mục đích dịch chuyển tài sản, trong nội dung của văn bản được cho là di chúc của người quá cố phải thể hiện được ý định dịch chuyển tài sản và hệ quả phát sinh quyền sở hữu đối với người khác. - Phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết, di chúc được lập trước khi người để lại di chúc chết và được phát sinh hiệu lực khi người lập chết. - Không cần sự chấp thuận của người thụ hưởng, đây một trong những là điểm khác biệt giữa di chúc và hợp đồng ( là một cam kết giữa hai hay nhiều bên). Vì vậy, theo những khái niệm về di chúc, người lập di chúc “không quan tâm đến việc người hưởng di sản mà họ định đoạt trong di chúc có nhận hay không nhận di sản thừa kế”3 1.3 Xác định sự tồn tại hay không tồn tại của di chúc Di chúc là một giao dịch rất đặc thù vì vậy việc phân biệt di chúc với những giao dịch khác như hợp đồng mua bán, uỷ quyền quản lý tài sản 4hay tặng cho tài tài sản. Nhất là 1 Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 2 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr.305 3 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên): Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb. Công an nhân dân 2017,tr.985 4 Xem Điều 616 và Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định người được chỉ định trong di chúc để quản lý di sản 3 tặng cho tài sản vì di chúc và tặng cho có điểm tương đồng: đều là giao dịch nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác mà người thụ hưởng thông thường không phải đền bù. 5 Để phân biệt được di chúc hay tặng cho cần dựa vào một số tiêu chí đánh giá cụ thể. Một trong những đặc điểm của di chúc là chuyển quyền sở hữu tài sản nên qua yếu tố này có thể phân biệt di chúc với giao dịch khác như uỷ quyền hay chỉ định người quản lý di sản. Tuy nhiên, đặc điểm này không cho phép phân biệt di chúc với tặng cho, không cho phép khẳng định một giao dịch là di chúc hay tặng cho vì tặng cho cũng nhằm chuyển dịch tài sản ( quyền sở hữu) từ người này sang người khác. Một đặc điểm nữa của di chúc là di chúc có thể tồn tại khi người thụ hưởng không biết hay không chấp nhận di chúc. Đây có thể coi là một dấu hiệu phân biệt tặng cho với di chúc vì, để có tặng cho tồn tại, người thụ hưởng phải chấp nhận tặng cho khi người tặng cho còn sống. 2. Cácđiềukiệncóhiệulựccủadichúc 2.1 Điều kiện liên quan đến người lập di chúc Theo Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1) Người đã thành niên có quyền lập di chúc (..). 2) Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”. Như vậy, căn cứ vào tuổi thì không phải ai cũng lập di chúc về nguyên tắc chỉ những người đã thành niên mới có thể lập di chúc. Người chưa đủ mười tuổi nhưng đã đủ mười lăm tuổi được lập di chúc nhưng với điều kiện có sự đồng ý của “cha mẹ hoặc người giám hộ” khi tài sản sản được định đoạt trong di chúc có giá trị. Đối với người đã thành niên, không phải ai cũng có thể lập di chúc. Theo Bộ luật Dân sự, “người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình” không có quyền lập di chúc ( khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự năm 2005) và “di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây”: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép” (điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015) 2.2 Hình thức của di chúc Di chúc là một hành vi pháp lý quan trọng đối với người để lại di sản cũng như đối với người thừa kế của người để lại di sản. Hình thức của di chúc là phương thức 5 Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận” 4 biểu đạt ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.Do đó, pháp luật cũng có một số yêu cầu về hình thức đối với di chúc. Di chúc phải được lập thành văn bản đối với di chúc bằng văn bản gồm: (i) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; (ii) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; (iii) Di chúc bằng văn bản không có công chứng; (iv) Di chúc bằng văn bản có chứng thực ( Điều 633, Điều 634, Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015) Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể thực hiện di chúc miệng Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể dùng di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. 6 2.3 Nội dung của di chúc - Có nội dung không vi phạm điều cấm của luật Điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội”. Theo quy định này, khi người để lại di sản thực hiện quyền lập di chúc của mình chỉ cần đảm bảo không vi phạm những quy định của luật không cho phép người lập di chúc thực hiện. Đối với hoạt động xác lập di chúc, Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định trường hợp nào cấm, không cho phép thực hiện. Do vậy, điều kiện nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật7 cần hiểu theo hướng các điều khoản tổng hợp ý chí của người lập di chúc không rơi vào các trường hợp cấm được liệt kê trong các văn bản luật cụ thể. 8 - Có nội dung không trái với đạo đức xã hội Theo quy định của Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, “đạo đức xã hội là chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Về quy định này, có quan điểm cho rằng: “Việc lập di chúc có nội dung không trái pháp luật của một người mới chỉ là việc họ thực hiện bổn phận của công dân. Ngoài bổn phận của công dân, họ còn phải thực hiện bổn phận làm người. Đạo làm người đòi hỏi các cá nhân khi lập di chúc phải luôn luôn hướng tới phong tục, tập quán, truyền thống nhân bản và tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng gia đình cũng như cộng đồng dân 6 Khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 7 Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 8 Hoàng Thị Loan (2021), Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (434), tháng 5/2021. 5 tộc”9. Vì vậy, việc lập di chúc ngoài tuân thủ quy định của pháp luật, nội dung của di chúc còn không được trái đạo đức xã hội. 2.4 Nội dung cụ thể của di chúc Theo khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra 4 loại nội dung của di chúc như nội dung về thời gian lập di chúc, nội dung về người để lại di sản, nội dung về người hưởng di sản và nội dung về di sản. Trong quá trình xây dựng điều luật cho thấy đây vẫn là các nội dung bắt buộc của di chúc và khoản 2 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 củng cố nhận định vừa nêu vì có nội dung như sau “Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác”. Ở đây khoản 2 theo hướng các nội dung khác “có thể có” nên chúng ta đã được phép suy luận rằng nội dung trong khoản 1 không thuộc trường hợp “có thể có” mà thuộc trường hợp “phải có”10 Ngoài những điều khoản được nêu trên, điều khoản về phân định di sản thừa kế trong di chúc không được liệt kê trong khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng đây là điều khoản rất quan trọng. Nó tạo rõ ràng khác biệt với trình tự phân chia di sản thừa kế theo pháp luật. Về nguyên tắc, hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là hưởng bằng nhau. Hưởng di sản thừa kế theo di chúc là khác nhau vì tuỳ thuộc vào ý chí của người để lại di sản. Chính vì vậy, dù là định đoạt bằng nhau hay định đoạt khác nhau thì di chúc cần phải có điều khoản phân định phần giá trị di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng để định hướng phân chia cụ thể11. CHƯƠNG II: CÁC HÌNH THỨC THỪA KẾ DI SẢN 1. Thừa kế theo di chúc 1.1 Người thừa kế theo di chúc Thừa kế di sản theo di chúc là sự thể hiện ý chí nguyện vọng của người để lại di sản chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người nhận di sản thừa kế là những người có quyền nhận di sản do người chết để lại theo sự định đoạt trong di chúc. Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức và kể cả Nhà nước. Những người thừa kế cần phải có các điều kiện được quy định ở Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là: Người thừa kế là cá nhân phải còn sống 9 Phạm Văn Tuyết (2003), Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.94 10 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr.355 11 Hoàng Thị Loan (2021), Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (434), tháng 5/2021. 6 vào thời điểm mở thừa kế, người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì họ vẫn là người thừa kế theo di chúc của người để lại di chúc. Trong trường hợp người thừa kế là pháp nhân thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, vì nếu pháp nhân chấm nhất hoạt động đồng nghĩa với việc pháp nhân không còn tư cách hưởng di sản. 1.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Liên quan đến quyền định đoạt của người lập di chúc. Trước khi chết, người lập di chúc có quyền định đoạt phần tài sản riêng của mình trong di chúc theo ý chí đơn phương của họ nhưng không hoàn toàn tự do trong việc định đoạt vì một trong những giới hạn để hạn chế quyền tự do định đoạt của người lập di chúc là chế định “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”. a) Chủ thể thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc chỉ bao gồm “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” và “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”. b) Điều kiện hưởng thừa kế bắt buộc Theo điều khoản trên, không phải chủ thể nào là con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất khả năng lao động , cha, mẹ, vợ hoặc chồng cũng đều đương nhiên thuộc diện thừa kế này, mà còn phải kèm thêm điều kiện là họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó; trừ khi họ thuộc diện không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Như vậy, không phải ai trong hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chỉ có một số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được bảo vệ bởi chế định này. Có thể coi Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 là sự can thiệp của các nhà làm luật, nên giữa việc xem xét chủ thể thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc hay còn gọi là người thuộc diện thừa kế bắt buộc với chủ thể thuộc diện hưởng thừa kế theo pháp luật có những nét tương đồng nhất định.12 2. Thừakếtheophápluật 12 Vũ Hùng Đức (2015), Hướng sửa đổi quy định về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong Bộ Luật Dân sự 2005, Tạp chí khoa học pháp lý 5(90)/2015. 7 Thừa kế theo pháp luật của di chúc là “thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định“ ( Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015). 2.2 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp (khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 a) Không có di chúc. Đây là trường hợp người quá cố chết mà không để lại di chúc và trường hợp này rất phổ biến b) Di chúc không hợp pháp Khi người quá cố có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp thì đây cũng là trường hợp thừa kế theo pháp luật. Theo một tài liệu, “khi di chúc không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của Điều 630 BLDS và những điều kiện chung của một giao dịch dân sự theo Điều 117 BLDS sẽ bị coi là di chúc không hợp pháp” 13 c) Nhữngngườithừakếtheodichúcchếttrướchoặcchếtcùngthờiđiểmvới người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Trong thực tế có xảy ra trường hợp người quá cố để lại di chúc và di chúc này hợp pháp (không vi phạm quy định) nhưng di sản có thể được chia theo pháp luật. Đó là trường hợp người thừa kế (có thể là cá nhân, tổ chức) không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Ở điều khoản này thì điểm c khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản sau đây: “Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản” 2.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng với các phần di sản (khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015) * Xác định phần di sản thừa kế theo pháp luật ● Toàn bộ di sản Thừa kế theo pháp luật có thể được áp dụng cho toàn bộ tài sản của người quá cố qua các trường hợp sau đây: 13 Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên): Sđd,tr.1001 - Trường hợp 1, người quá cố không để lại di chúc hay có để lại di chúc nhưng toàn bộ di chúc không hợp pháp. - Trường hợp 2, cũng có thể là trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015). - Trường hợp 3, là trường hợp mà toàn bộ những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản và từ chối nhận di sản (được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015). ● Một phần di sản Thừa kế theo pháp luật có thể áp dụng đối với một phần di sản của người quá cố theo khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 được trình bày ở trên. - Trường hợp một người có thể vừa được hưởng di sản theo di chúc, vừa được hưởng di sản theo pháp luật cũng có nghĩa một phần di sản của của người quá cố được chia theo pháp luật và một phần của di sản được chia theo di chúc. CHƯƠNG III : PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC 1.Phương thức phân chia di sản theo di chúc Phân định phần di sản cho từng người thừa kế là quyền của cá nhân là người lập di chúc có đầy đủ năng lực hành vi. Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau là không cần phải nêu lý do. Nếu không phân định di sản trong di chúc thì di sản được chỉ định trong di chúc.14 Di sản được phân chia sẽ áp dụng một hoặc cả hai phương thức sau đây: - Phương thức phân chia theo hiện vật Phương thức dùng tài sản làm hiện vật tồn tại hiện hữu để chia cho những người thừa kế, họ sẽ trở thành chủ sở hữu đối với phần tài sản được chia. Đây là phương thức được áp dụng khi tài sản được định đoạt trong di chúc và người lập di chúc chỉ định cụ thể được người nhận hiện vật đó hoặc những người thừa kế đã thoả thuận được với nhau hoặc Tòa án chỉ định nhận hiện vật. Đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hiện vật thuộc về người được phân chia hiện vật đó hoặc phải gánh chịu giá trị giảm sút tính tới thời điểm phân chia di sản mà không được yêu cầu những người thừa kế khác đền bù phần giá trị giảm sút dó. Trường hợp người 8 14 Giáo trình Luật Dân Sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an Nhân dân Hà Nội-2019, tr.309 9 thừa kế nhận hiện vật bị tiêu huỷ thì người có lỗi làm cho hiện vật đó bị tiêu huỷ phải bồi thường thiệt hại. - Phương thức chia theo giá trị Di sản được chia theo tỉ lệ. Đây là trường hợp di chúc đã xác định phân chia tài sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản để phân chia di sản. Lúc này, mỗi người thừa kế được hưởng phần di sản theo tỷ lệ đã được xác định trên tổng giá trị khối tài sản. 2. Phân chia di sản 2.1 Trường hợp có di tặng Theo khoản 1 Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định” Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc”. Như vậy, di tặng là một phần tài sản trong khối di sản thừa kế được trích ra để dành cho người được di tặng theo ý nguyện của người lập di chúc. Bản chất của di tặng giống như hợp đồng tặng cho ở tính chất không đền bù, mặc dù chỉ thể hiện ý chí đơn phương của người tặng nên khi nhận di tặng người được hưởng di tặng sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người quá cố để lại. Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã được bổ sung khoản 2: ”Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng phải thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. Khoản 2 Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dự liệu đầy đủ trường hợp chủ thể được hưởng di tặng không những là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, mà còn là người được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế nhưng thành thai trước khi ngửi để lại tặng chết. Chủ thể được di tặng không phải là cá nhân thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Toàn bộ di sản sau khi đã trừ đi phần thuộc về người được di tặng còn lại sẽ là di sản chia thừa kế theo di chúc. Ví dụ: Ông T là giáo viên chết đi để lại khối di sản là 500 triệu đồng. Ông lập di chúc tặng cho học trò của ông là cháu C với số tiền là 150 triệu đồng. Còn lại là 350 triệu đồng ông chia đều cho 3 người con. Nhưng ông T còn nợ tiền của bà M là 450 triệu đồng. Tổng số tiền ông T để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ nợ. Nên cháu C được tài sản di tặng của ông T phải trích ra: 150- (450-350) = 50 triệu đồng để trả hết số nợ còn lại. Trường hợp người lập di chúc để lại cho người hưởng di tặng toàn bộ di sản thì cần xem xét đến vấn đề tồn tại hay không những người thừa kế không phụ thuộc vào nội 10 dung của di chúc. Nếu có thì sau khi trừ phần di sản bắt buộc dành cho những thừa kế đặc biệt đó thì phần di tặng sẽ là phần còn lại. 2.2 Trường hợp có di sản dùng vào việc thờ cúng Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng “người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”, có nghĩa là di sản thờ cúng chỉ xuất hiện khi “người lập di chúc định đoạt phần di sản dùng vào việc thờ cúng và chỉ rõ phần tài sản nào được dùng trong việc thờ cúng” 15 Mặc dù di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc nhưng căn cứ với Bộ luật Dân sự, đối với tài sản của mình16, người lập di chúc không hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản dùng trong việc thờ cúng. Thứ nhất, phải thanh toán nghĩa vụ tài sản mà người quá cố để lại, phần còn lại bao nhiêu thì mới bắt đầu chia di sản thừa kế theo di chúc nếu người quá cố đã lập di chúc và trong di chúc đã định đoạt sẵn một tỷ lệ cụ thể cho các chủ thể nhận thừa kế. Ví dụ: Bà N chết để lại di chúc là 200 triệu đồng, chia cho hai con B và C mỗi người là 80 triệu còn lại 40 triệu đồng dùng vào việc thờ cúng hương khói. Nhưng bà còn có nợ nghĩa vụ tài sản là 170 triệu đồng. Như vậy, số di sản thừa kế không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, thiếu 10 triệu đồng nên phải dùng loại di sản thờ cúng để thanh toán. Như vậy, thì di sản dùng để thờ cúng còn 30 triệu sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ còn lại. Thứ hai, phân chia di sản cho những người thừa kế bắt buộc, tức những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trước rồi sau đó mới xem xét đến việc có di sản thờ cúng. Theo một tác giả: “nếu việc để lại phần di sản vào việc thờ cúng của người lập di chúc làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của những người thừa kế theo Điều 669 Bộ luật Dân sự thì quyền định đoạt đó bị hạn chế để bảo đảm những người thừa kế nói trên được hưởng phần di sản ít nhất bằng hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật”17 Thứ ba, theo khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép “ để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng” thì đồng nghĩa với việc trong di chúc của người quá 15 Phùng Trung Tập (2013), Từ quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 9), tr.33 16 Người lập di chúc không thể quyết định dùng tài sản hay phần tài sản của người khác vào việc thờ cúng, Đỗ Văn Đại ( 2019), ), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1, tr.693 17 Phạm Văn Tuyết: Thừa kế, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Sđd, tr.199. Trong đó: Tổng di sản người chết để lại ———————————————— = Tất cả những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất Suất của một người thừa kế theo pháp luật 11 cố dành một phần vào việc thờ cúng và không định đoạt phần di sản còn lại như thế nào thì phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật. 2.3 Trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Như ở phần trên của tiểu luận đã nêu ra các chủ thể thuộc diện được hưởng thừa kế bắt buộc và điều kiện để được hưởng diện thừa kế này. Trên thực tế có những trường hợp người lập di chúc đã không để lại di sản những người thừa kế bắt buộc hoặc chỉ để lại một phần di sản ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật. Nếu có trường hợp họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc họ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thế vị thì họ không được tính vào nhân suất mà những người thừa kế bắt buộc. Phần di sản của người thừa kế bắt buộc là một phần di sản được trích từ khối di sản của người quá cố để lại sau khi thanh toán xong nghĩa vụ về tài sản. Toàn bộ khối di sản của người chết để lại trừ đi phần của người thừa kế bắt buộc, phần còn lại sẽ được chia cho người thừa kế theo di chúc. Phần di sản của người thừa kế bắt buộc được xác định như công thức sau: 18 Di sản được hưởng = 2/3 x Suất người thừa kế theo pháp luật Vídụ: ÔngMcóvợlàbàHvàmộtngườicontrailàanhC,ôngkhôngcòncha, mẹ. Vì trước khi ông M chết thì hai vợ chồng có mâu thuẫn nên khi lập di chúc, ông M chỉ để lại tài sản riêng của mình là 600.000.000 đồng cho anh C. Theo quy định thì hàng thừa kế thứ nhất của ông M là bà H và anh C. Vì vậy, nếu chia theo pháp luật thì bà H và anh C sẽ được nhận phận di sản bằng nhau là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, do ông M không để lại di sản cho bà H nhưng bà H vẫn thuộc đối tượng không phụ thuộc vào nội dung di chúc và được hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Theo đó, bà H vẫn sẽ được hưởng di sản bằng 2/3 x 300.000.000 = 200.000.000 đồng. Vậy, di sản của ông M được chia như sau: 18 Lê, V. M. (2012). Phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ Luật Dân sự năm 2005. Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam 12 - Bà H ( vợ ông M) là 200.000.000 đồng - Anh C ( con trai của ông M) là 400.000.000 đồng PHẦN 3: KẾT LUẬN Qua những phân tích cụ thể trong bài tiểu luận, ta thấy được là việc xác định di sản, phân chia di sản thừa kế theo di chúc là một trong những yếu tố pháp lý quan trọng trong pháp luật thừa kế, việc áp dụng không phù hợp các quy định này sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể được hưởng di sản thừa kế cũng như có thể ảnh hưởng đến các cá nhân, pháp nhân khác có liên quan Thông qua bài tiểu luận tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa di chúc và các giao dịch dân sự khác cũng như các hình thức thừa kế di sản ngoài thừa kế di sản theo di chúc. Qua đó để cụ thể các quy định về cách thức xác định phần di sản nào được chia theo pháp luật và phần di sản nào được chia theo di chúc. Bài tiểu luận cũng chỉ ra được những trường hợp có thể phát sinh làm ảnh hưởng hoặc phức tạp hoá quá trình phân chia di sản theo di chúc của người đã chết lập nên như: trường hợp phân chia di sản theo di chúc có di tặng, trường hợp phân chia di sản theo di chúc có di sản dùng vào việc thờ cúng, trường hợp phân chia di sản theo di chúc có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Tuy nhiên, những nội dung và bố cục của bài tiểu cũng hình thành dựa trên quan điểm cá nhân của tác giả qua quá trình tư duy và tham khảo các tài liệu chuyên khảo khác nên không thể tránh những sai sót và những điểm phân tích chưa rõ ràng, bố cục chưa hợp lý. Những phân tích trên cũng một phần nào phản ánh được sự hoàn thiện của Bộ luật Dân sự năm 2015, đã một phần nào đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên thực tế áp dụng chắc cũng không thể tránh khỏi những bất cập, khó khăn vướng mắc trong việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này có thể là do các quy định của pháp luật chưa rõ ràng hoặc trong quá trình thực tiễn xét xử chưa đúng với tinh thần của quy định đó. Một nguyên do khác có lẽ nằm ở sự hạn chế trong trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân, chưa nắm rõ được các quyền và nghĩa vụ của mình và hệ quả là các vi phạm về quy định nội dung cũng như hình thức của di chúc khiến cho văn bản được cho là di chúc không hợp pháp. MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT 1. BộluậtDânsựnăm2005 2. BộluậtDânsựnăm2015 CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC 3. ĐỗVănĐại(2019),LuậtthừakếViệtNam,Bảnánvàbìnhluậnbảnán(táibản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 1 4. ĐỗVănĐại(2019),LuậtthừakếViệtNam,Bảnánvàbìnhluậnbảnán(táibản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 2 5. PhạmVănTuyết,Thừakế-quyđịnhcủaphápluậtvàthựctiễnápdụng,nxbChính trị quốc gia, Hà Nội 6. TrườngĐạihọcLuậtHàNội,GiáotrìnhLuậtDânsựViệtNamtập1,NxbCông an Nhân dân Hà Nội-2019, 7. TrườngĐạihọcLuậtthànhphốHồChíMinh,Giáotrìnhphápluậtvềtàisản, quyền sở hữu và thừa kế -Tái bản có sửa đổi bổ sung - Tp.Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam 8. NguyễnVănCừvàTrầnThịHuệ(chủbiên):BìnhluậnkhoahọcBLDS2015, Nxb. Công an nhân dân 2017 9. Lê,V.M.(2012).PhânchiadisảnthừakếtheoquyđịnhBộLuậtDânsựnăm 2005. Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam 10. Hoàng Thị Loan (2021), Nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 (434) 11. Vũ Hùng Đức (2015), Hướng dẫn sửa đổi quy định về thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 05(90)/2015, Trang 51-56 12. Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam , Tạp chí Toà án nhân dân điện tử 13. Phùng Trung Lập (2016), Những quy định mới về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9 (313) 14. Phùng Trung Tập (2013), Từ quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 9), tr.33

Trang 1

BỘGIÁODỤC VÀĐÀOTẠO

TRƯỜNGĐẠIHỌCLUẬTTP.HỒCHÍMINH

KHOALUẬTDÂN SỰ

TIỂULUẬNKẾTTHÚCHỌCPHẦNMÔN:

NHỮNG QUYĐỊNHCHUNGVỀLUẬTDÂN SỰ,TÀISẢNVÀ THỪAKẾ

PHÂNCHIADI SẢNTHEODICHÚC

Ngườithựchiện:TrầnThịMinhThưMS SV:2053801015130

Lớp:122-AUF45

THÀNHPHỐHỒ CHÍMINH- NĂM 2021

Trang 2

PHẦN1:MỞĐẦU 1

1 Lýdochọnđề tài 1

PHẦN2:NỘIDUNG 1

1.2Các đặc trưng củadi chúc 2

2.2 Hìnhthứccủadichúc 3

2.3 Nộidungcủadichúc 4

2.4 Nộidungcụthểcủadichúc 5

CHƯƠNGII:CÁCHÌNHTHỨCTHỪAKẾDISẢN 5

1 Thừakếtheodichúc 5

1.1 Ngườithừakếtheodichúc 5

1.2 Ngườithừakếkhôngphụthuộcvàonộidungcủadichúc 6

2. Thừa kếtheophápluật 6

2.2 Hìnhthứcthừakếtheohàngthừakếđượcápdụngtrongnhữngtrườnghợp(khoản1Điều650BộluậtDân sựnăm2015 7

2.3 Thừakếtheophápluậtđượcápdụngvớicácphầndisản(khoản2Điều 7

CHƯƠNGIII:PHÂNCHIADISẢN THEODICHÚC 8

1.Phươngthứcphânchia disảntheodichúc 8

2.Phânchiadisản 9

2.1 Trườnghợpcóditặng 9

2.2 Trườnghợpcódisản dùngvàoviệcthờcúng 10

2.3 Trườnghợpcóngườithừakếkhôngphụ thuộcvàonộidungcủadichúc 11

MỤCLỤCTÀILIỆUTHAMKHẢO 1

Trang 3

PHẦN1:MỞĐẦU

1.L ý do chọnđềtài

Một trong số những nội dung quan trọng của chế định thừa kế là quy định về phânchiadisảntheodichúc.Cóthểnói,disảnthừakếlàyếutốquantrọnghàngđầutrongviệclàm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế Mục đích cuối cùng của việc tranhchấp thừa kế cũng là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theođúng kỳphầnmàngười thừakếcóquyềnhưởng

Thực tế cho thấy, việc xác định di sản thừa kế cũng như việc phân chia di sản thừakế luôn là hai yếu tố quan trọng đối với vấn đề thừa kế theo di chúc Nếu không hiểu rõnhữngquyđịnhcủaphápluậtvềxácđịnhdisảnthừakếhaycáchphânchiadisản,thìviệcxảy ra tranh chấp giữa các chủ thể nhận thừa kế là rất phức tạp trong việc giải quyết tranhchấpđó.Việcđịnhđoạttàisảncủangườilậpdichúcviphạmvớinhữngquyđịnhcủaphápluật có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến sự bùngpháttranh chấpvà hệ luỵ lànhữngvụkiệntranh chấp bịkéodài,khôngdứtđiểm

Thêmvàođó,hệquảcủanhữngvụtranhchấpnàykhôngchỉdẫntớihệlụylànhữngvụkiệntụngkéo dàimàcòndẫntớinhữngyếutốtráivớiđạođứcxãhội,nhữngtranhchấpkhông đáng có những thành viên trong gia đình

và những người quyền lợi liên quan làmảnhhưởngnghiêmtrọngtớichuẩnmựcđạođứcvàgiátrịcốtlõitrongvănhoáứngxửlâuđời

củangườidânViệt Nam

Qua những phân tích trên và cũng xuất phát từ thực tiễn là các tranh chấp thừa kếcó xu hướng ngày càng tăng với tính chất phức tạp, tác giả quyết định chọn đề tài này đểnghiên cứu trong bài tiểu luận kết thúc học phần Bằng kiến thức nhất định và khả năngtiếp thu trong quá trình học tập, phương pháp đánh giá và tư duy, bài tiểu luận này

sẽ đưara nhữngphân tích cụthểvàcần thiết chonhữngnội dungcần nghiên cứu trongđềtài

PHẦN2:NỘIDUNG CHƯƠNGI: DICHÚC

1 Kháiniệmdichúc

1.1 Kháiniệmdichúc

Dichúc làmộtthuậtngữđượcsửdụngrộngrãi trongđờisốngdân sựvàlàmộtkháiniệm

khoahọcpháplý

Trang 4

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho

ngườikhác sau khi chết.1Di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc dovậypháp luậtthừa kếthểhiệnsựtôntrọngvàbảohộýnguyệncuốiđócủa

ngườilậpdichúctrongviệcxácđịnhvàphânchiadisảncủangườiquácốchonhữngngườithừakếđư ợcchỉđịnhhưởngdisảntrongdichúc

1.2 Cácđặc trưngcủadichúc

Di chúc là cơ sở quan trọng để thể hiện ý chí của người đã chết nhằm chuyển tàisảnriêngcủa mìnhcho ngườikhác và cũnglàcơsởquantrọngđể xác địnhđược chủthểnhận di sản thừa kế cũng như là cơ sở để xác lập quyền sở hữu của chủ thể nhận di sảnthừa kế đối với di sản thừa kế Chính vì vậy, bản thân di chúc có những đặc trưng đểphânbiệtdi chúcvớicácgiaodịch dânsự khác

- Ý chí cá nhân của người lập di chúc,di chúc phải là ý chí của người lập di

chúckhicòn sống, nếu mộtvănbản được cholàdichúcnhưngkhôngthểhiệnđược ýchí

cá nhân của người này thì không phải là di chúc và “di sản trong văn bản đóđượcchiatheophápluật”.2

- Thể hiện mục đích dịch chuyển tài sản,trong nội dung của văn bản được cho là

dichúc của người quá cố phải thể hiện được ý định dịch chuyển tài sản và hệ quảphát sinhquyềnsởhữuđốivới ngườikhác

- Phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết,di chúc được lập trước khi người

đểlại di chúcchếtvàđượcphát sinh hiệulựckhingười lậpchết

- Khôngcần sựchấpthuậncủa ngườithụhưởng,đây mộttrongnhữnglàđiểmkhácbiệt giữa di

chúc và hợp đồng ( là một cam kết giữa hai hay nhiều bên) Vì vậy,theo những khái niệm về di chúc, người lập di chúc “không quan tâm đến việcngười hưởng di sản mà họ định đoạt trong

di chúc có nhận hay không nhận di sảnthừakế”3

1.3 Xácđịnh sựtồn tạihaykhông tồntại củadichúc

Dichúclàmộtgiaodịchrất đặcthùvìvậyviệcphân biệtdichúcvớinhữnggiaodịchkhác

nhưhợpđồng mua bán,uỷquyềnquản lýtài sản4hay tặngchotàitàisản.Nhấtlà

1 Điều624BộluậtDânsựnăm2015

2 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội luật giaViệtNam, HàNội, tập1, tr.305

3 NguyễnVăn CừvàTrầnThịHuệ(chủbiên):BìnhluậnkhoahọcBLDS 2015,Nxb.Côngannhândân2017,tr.985

4 Xem Điều 616 và Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định người được chỉ định trong di chúc để quản lý disản

Trang 5

tặng cho tài sản vì di chúc và tặng cho có điểm tương đồng: đều là giao dịch

nhằmchuyển dịch tài sản từ người này sang người khác mà người thụ hưởng thông thườngkhôngphảiđềnbù.5

Để phân biệt được di chúc hay tặng cho cần dựa vào một số tiêu chí đánh giá cụ thể.Mộttrongnhữngđặc điểmcủa dichúclàchuyểnquyền sởhữu tàisảnnênqua yếutốnàycó thể phân biệt di chúc với giao dịch khác như uỷ quyền hay chỉ định người quản lý disản Tuy nhiên, đặc điểm này không cho phép phân biệt di chúc với tặng cho, không chophép khẳng định một giao dịch là di chúc hay tặng cho vì tặng cho cũng nhằm chuyểndịchtàisản( quyềnsở

hữu)từngườinàysangngườikhác.Mộtđặcđiểmnữacủadichúclàdi chúc cóthểtồntại khi

ngườithụ hưởng khôngbiết haykhôngchấpnhậndichúc

Đây có thểcoilàmộtdấu hiệu phân biệttặngcho vớidichúcvì,để có tặngcho tồntại,người thụ hưởngphảichấpnhậntặngchokhingười tặngchocònsống

2 Cácđiềukiệncóhiệulực củadichúc

2.1 Điềukiệnliênquanđếnngườilậpdichúc

Theo Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1) Người đã thành

niêncó quyền lập di chúc ( ) 2) Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cóthể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” Như vậy, căn

cứ vàotuổi thì không phải ai cũng lập di chúc về nguyên tắc chỉ những người đã thành niênmới có thể lập di chúc Người chưa đủ mười tuổi nhưng đã đủ mười lăm tuổi được lậpdichúcnhưngvớiđiềukiệncósựđồngýcủa“chamẹhoặcngườigiámhộ”khitàisảnsản được định đoạt trong di chúc có giá trị Đối với người đã thành niên, không phải aicũng có thể lập di chúc Theo Bộ luật Dân sự, “người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình” không

có quyền lập dichúc ( khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự năm 2005) và “di chúc được coi là hợp phápphải có đủ các điều kiện sau đây”: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khilập dichúc;khôngbịlừadối,đedọahoặccưỡngép”(điểmakhoản1Điều630 Bộluật Dânsự năm2015)

2.2 Hìnhthức củadichúc

Dichúc làmộthành vipháp lýquan trọngđốivớingườiđể

lạidisảncũngnhưđốivớingườithừa kế của người để lạidisản.Hình thức của dichúc

làphươngthức

5 Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bêntặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bênđượctặngchođồngýnhận”

Trang 6

biểuđạtýchícủa ngườilậpdichúc,làcăncứpháplýlàmphátsinhquan hệthừa

kếtheodichúc.Dođó,pháp luậtcũngcó một sốyêu cầu về hìnhthức đốivớidi chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản đối với di chúc bằng văn bản gồm: (i)

Dichúcbằng văn bảnkhôngcó ngườilàmchứng;(ii)Dichúc bằngvăn bảncó ngườilàmchứng; (iii) Di chúc bằng văn bản không có công chứng; (iv) Di chúc bằng văn bản cóchứngthực(Điều633,Điều634,Điều635 Bộluật Dânsựnăm2015)

Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể thực hiện di

chúcmiệng Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc cácnguyênnhânkháckhôngthểlậpdichúcbằngvăn bảnthìcó thểdùngdichúcmiệng.Dichúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùngcủa mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứngghi chéplại,cùngkýtênhoặcđiểmchỉ.6

2.3 Nộidungcủadichúc

- Cónội dung không vi phạm điều cấmcủaluật

Điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Nội dung của dichúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội” Theo quy định này,khi người để lại di sản thực hiện quyền lập di chúc của mình chỉ cần đảm bảo không viphạm những quy định của luật không cho phép người lập di chúc thực hiện.Đối vớihoạt động xác lập di chúc, Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định trường hợp nàocấm, khôngchophép thựchiện.Dovậy,điềukiệnnộidungcủadichúckhôngviphạmđiều cấm của luật7cần hiểu theo hướng các điều khoản tổng hợp ý chí của người lập dichúc khôngrơivàocáctrườnghợp cấmđược liệt kêtrongcácvănbảnluật cụ thể.8

- Cónội dungkhôngtráivới đạođứcxãhội

Theo quy định của Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, “đạo đức xã hội là

chuẩnmực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Vềquy định này, có quan điểm cho rằng: “Việc lập di chúc có nội dung không trái phápluậtcủamộtngườimớichỉlàviệc họthựchiệnbổnphận

củacôngdân.Ngoàibổnphậncủa công dân, họ còn phải thực hiện bổn phận làm người Đạo làm người đòi hỏi các cánhân khi lập di chúc phải luôn luôn hướng tới phong tục, tập quán, truyền thống nhânbản vàtinh thầntươngthân tươngái của cộngđồng gia đình cũngnhưcộngđồngdân

6 Khoản5 Điều630 Bộluậtdânsự năm2015

7 Khoản1 Điều630 BộluậtDânsự năm2015

8 Hoàng Thị Loan (2021),Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng

tảitrênẤnphẩmTạpchíNghiêncứuLậpphápsố10(434), tháng5/2021.

Trang 7

tộc”9 Vìvậy,việclậpdichúc ngoàituânthủquyđịnhcủapháp

luật,nộidungcủadichúccònkhôngđượctráiđạođứcxãhội

2.4 Nộidungcụthể củadichúc

Theo khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra 4 loại nội dung của dichúc như nội dung về thời gian lập di chúc, nội dung về người để lại di sản, nội dung vềngười hưởng di sản và nội dung về di sản Trong quá trình xây dựng điều luật cho thấyđây vẫn là các nội dung bắt buộc của di chúc và khoản 2 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm2015củngcố nhận địnhvừa nêuvìcó nộidungnhưsau“Ngoàicác nộidungquyđịnhtạikhoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác” Ở đây khoản 2 theo hướng cácnội dung khác “có thể có” nên chúng ta

đã được phép suy luận rằng nội dung trong khoản1 khôngthuộc

trườnghợp“cóthểcó”màthuộctrườnghợp “phảicó”10

Ngoàinhữngđiềukhoảnđượcnêutrên,điềukhoảnvềphânđịnhdisảnthừakếtrong di chúc không được liệt kê trong khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015nhưngđây là điềukhoảnrất quan trọng.Nótạo

rõ ràngkhác biệtvới trìnhtựphân

chiadisảnthừakế theophápluật.Vềnguyêntắc,hưởngdisảnthừakếtheophápluật là hưởng

bằng nhau Hưởng di sản thừa kế theo di chúc là khác nhau vì tuỳthuộc vào ý chí của người để lại di sản

Chính vì vậy, dù là định đoạt bằng nhauhayđịnhđoạtkhác nhauthìdichúc

cầnphảicóđiềukhoảnphân địnhphần giátrịdisảnmàmỗingười thừakế đượchưởngđể

định hướngphânchia cụthể11

CHƯƠNGII:CÁCHÌNHTHỨCTHỪAKẾDISẢN

1 Thừakế theodichúc

1.1 Ngườithừakếtheodichúc

Thừakế disản theodichúc làsựthểhiệnýchínguyệnvọngcủa ngườiđể lạidisản chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Người nhận di sản thừa kế lànhữngngườicóquyền nhận di sản dongười chết để lại theosựđịnh đoạttrongdi chúc

Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế hoặc cơ quan,

tổchứcvàkểcảNhànước.NhữngngườithừakếcầnphảicócácđiềukiệnđượcquyđịnhởĐiều

613BộluậtDânsựnăm2015,cụthểlà:Ngườithừakế làcá nhânphảicòn sống

9 Phạm Văn Tuyết (2003),Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ luật học,

TrườngĐạihọcLuậtHàNội, tr.94

10Đỗ Văn Đại (2019),Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án(tái bản lần 4), Nxb, Hồng Đức-Hội

luậtgiaViệtNam, HàNội,tập1,tr.355

11Hoàng Thị Loan (2021),Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bài viết được đăng

tảitrênẤnphẩmTạpchíNghiêncứuLậpphápsố10(434), tháng5/2021.

Trang 8

vàothời điểmmởthừakế, ngườisinhravàcònsốngsauthờiđiểmmởthừakếnhưngđãthành thai trước khi người để lại di sản chết thì họ vẫn là người thừa kế theo di chúc củangười để lại di chúc Trong trường hợp người thừa kế là pháp nhân thì phải còn tồn tạivào thời điểm mở thừa kế, vì nếu pháp nhân chấm nhất hoạt động đồng nghĩa với việcphápnhânkhôngcòntưcáchhưởngdisản

1.2 Ngườithừakế khôngphụthuộcvàonộidungcủadichúc

Liên quan đến quyền định đoạt của người lập di chúc Trước khi chết, người lập dichúc có quyềnđịnhđoạt phần tàisản riêngcủa mìnhtrongdi chúc theoý chíđơnphươngcủa họ nhưng không hoàn toàn tự do trong việc định đoạt vì một trong những giới hạn đểhạn chế quyền tự do định đoạt của người lập di chúc là chế định “người thừa kế khôngphụ thuộcvàonộidungdichúc”

a) Chủ thể thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội

dungcủa dichúc

TheoĐiều644BộluậtDân sựnăm2015, ngườiđược hưởngthừa kếkhôngphụthuộc vào nội dung của di chúc chỉ bao gồm “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng”và“conđãthành

niênmàkhôngcókhảnănglaođộng”

b) Điềukiệnhưởngthừakếbắtbuộc

Theo điều khoản trên, không phải chủ thể nào là con chưa thành niên hoặc đãthànhniênnhưngmấtkhả nănglaođộng,cha,mẹ,vợhoặcchồngcũngđềuđươngnhiênthuộc diện thừa kế này, mà còn phải kèm thêm điều kiện là họ không được người lập dichúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó; trừ khihọ thuộc

diệnkhôngcóquyềnhưởngdisảnhoặctừchốinhậndi sản

Nhưvậy,khôngphảiaitronghàngthừakếthứnhấtcũngđượchưởngthừakếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chỉ có một số người thuộc hàng thừa kếthứnhấtđượcbảovệbởichếđịnh này

Có thể coi Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 là sự can thiệp của các nhà

làmluật, nên giữa việc xem xét chủ thể thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung của dichúchaycòn gọilàngườithuộcdiệnthừa

kếbắtbuộcvớichủthểthuộcdiệnhưởngthừakếtheophápluậtcónhữngnéttươngđồngnhất định.12

2 Thừakế theophápluật

12Vũ Hùng Đức (2015), Hướng sửa đổi quy định về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong BộLuậtDânsự2005, Tạpchíkhoahọcpháplý5(90)/2015.

Trang 9

Thừakếtheophápluậtcủadichúclà“thừakếtheohàngthừakế,điềukiệnvàtrìnhtựthừak ếdophápluật quy định“(Điều 649 Bộ luật Dân sựnăm2015)

2.2 Hìnhthứcthừakếtheohàngthừakếđượcápdụngtrongnhữngtrườnghợp(khoản

1Điều650 BộluậtDân sự năm2015

a) Khôngcódi chúc.

Đâylàtrườnghợpngườiquácố chếtmà khôngđểlạidichúc và trườnghợpnàyrấtphổbiến

b) Dichúckhônghợppháp

Khi người quá cố có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp thì đây cũng làtrường hợp thừa kế theo pháp luật Theo một tài liệu, “khi di chúc không đáp ứng đượcđầy đủ các điều kiện theo quy định của Điều 630 BLDS và những điều kiện chung củamộtgiao

dịchdânsựtheoĐiều117BLDSsẽbịcoi là dichúckhônghợp pháp”13

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm

vớingườilậpdichúc;cơ quan,tổchức được hưởngthừakế theodichúckhôngcòn tồntạivàothờiđiểmmởthừakế

Trong thực tế có xảy ra trường hợp người quá cố để lại di chúc và di chúc

nàyhợp pháp (không vi phạm quy định) nhưng di sản có thể được chia theo pháp luật

Đó làtrườnghợpngườithừakế (có thểlàcá nhân,tổ chức) khôngcòn tồntạivào

thờiđiểmmởthừakế

d) Nhữngngườiđược

chỉđịnhlàmngườithừakếtheodichúcmàkhôngcóquyềnhưởngdisảnhoặc từ

chốinhận disản

Ở điều khoản này thì điểm c khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015

thì“Thừakếtheophápluậtđược ápdụngđốivớiphầndisảnsauđây:“Phầndisảncóliênquan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từchối nhậndisản”

2.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng với các phần di sản (khoản 2 Điều 650 Bộluật Dânsựnăm2015)

* Xác địnhphầndi sảnthừakếtheophápluật

● Toànbộdisản

Thừakế theopháp luậtcó thểđược áp dụngcho toànbộtàisản củangườiquá cố

quacáctrườnghợpsauđây:

13NguyễnVăn CừvàTrầnThịHuệ(chủbiên):Sđd,tr.1001

Trang 10

- Trườnghợp1,ngườiquá cố khôngđể lạidichúc hay cóđể lạidichúc

nhưngtoànbộdichúckhônghợppháp

- Trườnghợp2,cũngcóthểlàtrườnghợptoànbộnhữngngườithừakế theodichúc chếttrước hoặc chết

cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởngthừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Được quy định tạiđiểmckhoản1 Điều650Bộ

luậtDânsựnăm2015)

- Trường hợp 3,là trường hợp mà toàn bộ những người được chỉ định làm người thừa

kếtheo di chúc mà không có quyền hưởng di sản và từ chối nhận di sản (được quy định tạiđiểmdkhoản1Điều650 Bộluật Dânsự năm2015)

● Mộtphầndisản

Thừa kế theo pháp luật có thể áp dụng đối với một phần di sản của người quá cố theokhoản2 Điều650 Bộ luậtDânsự năm2015 đượctrình bàyởtrên

- Trường hợp một người có thể vừa được hưởng di sản theo di chúc, vừa được hưởng disản theo pháp luật cũng có nghĩa một phần di sản của của người quá cố được chia theophápluật vàmột phầncủadisảnđượcchiatheodi chúc

CHƯƠNGIII: PHÂNCHIADISẢNTHEODICHÚC

1 Phươngthức phânchiadisảntheodichúc

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế là quyền của cá nhân là người lập dichúc có đầy đủ năng lực hành vi Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗingườikhôngnhấtthiếtphảingangnhaulàkhôngcầnphảinêulýdo.Nếukhôngphânđịnhdi

sảntrongdi chúcthìdi sảnđượcchỉđịnh trongdichúc.14

Disản được phân chia sẽápdụngmộthoặc cả haiphươngthứcsau đây:

-Phươngthức phân chiatheo hiệnvật

Phương thức dùng tài sản làm hiện vật tồn tại hiện hữu để chia cho những ngườithừa kế, họ sẽ trở thành chủ sở hữu đối với phần tài sản được chia Đây là phương thứcđượcápdụngkhitàisảnđượcđịnhđoạttrongdichúcvàngườilậpdichúcchỉđịnhcụthểđượcngườ inhậnhiệnvậtđóhoặcnhữngngườithừakếđãthoảthuậnđược

vớinhauhoặcTòaánchỉđịnhnhậnhiệnvật

Đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hiện vật thuộc về người được phân chia hiệnvật đó hoặc phải gánh chịu giá trị giảm sút tính tới thời điểm phân chia di sản mà khôngđượcyêucầunhữngngườithừakếkhácđềnbùphầngiátrịgiảmsútdó.Trườnghợpngười

14Giáo trìnhLuậtDânSựViệtNamtập1, NxbCônganNhândân HàNội-2019, tr.309

Ngày đăng: 16/03/2022, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w