Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay. Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về hiệu lực của di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về hiệu lực của di chúc. Bài viết đưa ra cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về nội dung đề tài, để rồi từ đó đưa ra những đề xuất hợp lí nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành xung quanh vấn đề hiệu lực của di chúc.
Trang 1Đặt vấn đề
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh càng nhiều tranh chấp
Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 có quy định về hiệu lực của di chúc nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc trên thực tế vẫn còn tồn tại khá nhiều bất cập Những khó khăn ấy thường được thể hiện trong việc xác định thời điểm di chúc có hiệu lực, những trường hợp di chúc vô hiệu Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về hiệu lực của di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về hiệu lực của di chúc
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm rõ về hiệu lực của di chúc cũng như thấy được những bất cập còn tồn đọng trong thực tiễn xã hội, tôi quyết định tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015” với mong muốn có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về nội dung đề tài, để rồi từ đó đưa ra những đề xuất hợp lí nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành xung quanh vấn đề hiệu lực của di chúc
Trang 2Nội dung chính
I Một số vấn đề lí luận chung
1 Khái niệm “di chúc”
Từ cổ chí kim đến nay, di chúc là một thuật ngữ đã quá quen thuộc với mỗi người bởi những tên gọi đa dạng, như: lời dặn, chúc thư, di ngôn, của người chết thể hiện ý chí tự nguyện của mình để lại tài sản cho người sống và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Theo đó:
- Về mặt ngữ nghĩa, theo giải thích của Từ điển tiếng Việt, “di chúc”
được hiểu là lời dặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm
và nên làm, hay là văn bản chính thức, ghi những ý muốn cuối cùng của một người, đặc biệt về việc xử lý các tài sản của mình sau khi chết Từ đó, xét về mặt ngữ nghĩa, di chúc có thể được hiểu là ý nguyện của cá nhân khi còn sống muốn người khác thực hiện ý nguyện của mình sau khi chết
- Về góc độ khoa học pháp lý: Khái niệm di chúc cũng được hình thành
từ rất sớm, ở pháp luật mỗi thời kì, mỗi quốc gia thì khái niệm này được định nghĩa khác nhau Ở Việt Nam, theo một số nhà khoa học pháp lý, di chúc là sự thể hiện ý chí của một người khi còn sống nhằm định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình cho người khác sau khi chết Và theo pháp luật thực định, di chúc là giao dịch dân sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, được quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”
Từ những khái niệm trên, di chúc có thể hiểu đầy đủ là: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của một người khi còn sống nhằm định đoạt toàn bộ hay một phần tài sản của mình cho cá nhân, cơ quan tổ chức sau khi chết một cách tự nguyện,
Trang 3theo đúng hình thức, thể thức luật định và chỉ phát sinh hiệu lực khi người để lại di chúc chết” 1
Từ khái niệm nêu trên có thể thấy, di chúc có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, tự nguyện của cá
nhân Đây là một giao dịch dân sự chỉ có thể lập bởi cá nhân, ngoài cá nhân pháp luật không thừa nhận quyền lập di chúc của bất cứ một chủ thể nào khác
Thứ hai, mục đích của di chúc phải nhằm dịch chuyển tài sản của người
lập di chúc cho người khác sau khi chết Mặc dù nội dung di chúc có thể gồm nhiều nội dung khác nhau như lời dặn, lời yêu thương, nhưng nhất định phải
có nội dung thể hiện mục đích chuyển dịch tài sản của người để lại di chúc cho con cháu hay những người khác, nếu không di chúc sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Việc định đoạt tài sản ở đây phải là định đoạt tài sản sau khi người để lại di chúc chết, vì di chúc chỉ có hiệu lực và được thực thi khi người để lại di chúc chết Đây là đặc trưng quan trọng thể hiện bản chất của di chúc và phân biệt giữa di chúc với các hợp đồng tặng tài sản
Thứ ba, về nguyên tắc, di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để
lại di sản thừa kế chết Tuy di chúc là một giao dịch dân sự nhưng có hiệu lực pháp luật khác các giao dịch dân sự khác, cụ thể khi người lập di chúc chết đi thì di chúc có hiệu lực pháp luật (theo khoản 1 Điều 643, khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015)
2 Khái niệm “thừa kế theo di chúc”
Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành Điều 609 Bộ Luật Dân sự năm 2015
quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Theo đó, thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế mà
1Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1) Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội, tr 262
Trang 4việc dịch chuyển tài sản của người chết để lại cho người thừa kế theo ý chí của người để lại di sản được thể hiện trong di chúc Đối tượng hưởng thừa kế theo
di chúc có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức được người để lại di sản chỉ định cho hưởng thừa kế trong di chúc Như vậy, thừa kế theo di chúc là cách thức giúp cá nhân trước khi chết để lại tài sản của mình cho người khác hoàn toàn theo ý muốn của mình
3 Khái niệm “thừa kế theo pháp luật”
Một người trước khi chết có quyền lập di chúc để định đoạt toàn bộ tài sản của mình cho người khác sau khi người đó chết Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào một người trước khi chết cũng lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, hoặc tuy có lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà di chúc đó vô hiệu hoặc không có giá trị Do vậy, để định đoạt di sản của người quá cố, các nhà làm luật đã đưa ra các quy định để thay người chết định đoạt di sản của người này để lại cho những người thừa kế của họ Hình thức thừa kế này được gọi là thừa kế theo pháp luật, dựa trên ý chí của các nhà làm luật, được xem là “sự phỏng đoán” ý chí của người để lại di sản Theo pháp luật thực định của Việt Nam, khái niệm thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình
tự thừa kế theo pháp luật quy định” Đối với thừa kế theo pháp luật, người thừa
kế chỉ có thể là cá nhân và cá nhân này phải thuộc diện thừa kế
Trang 5II Hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
Hiệu lực pháp luật của di chúc là giá trị pháp lí của di chúc làm phát sinh quyền thừa kế của cá nhân, cơ quan, tổ chức được chỉ định trong di chúc hoặc làm chấm dứt quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật Nội dung hiệu lực pháp luật của di chúc bao gồm:
1 Thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật
Thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật, quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế được chỉ định trong di chúc sẽ phát sinh Theo quy định tại
khoản 1 Điều 643 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: “Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế” Vậy, thời điểm mở thừa kế là khi nào? Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này” Từ đó thấy rằng, thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật được xác
định trong hai trường hợp:
- Trường hợp một người chết về mặt sinh học (chết thực tế) thì thời điểm mở thừa kế đối với tài sản do người đó để lại là thời điểm người
đó chết
- Trường hợp một người chết về mặt pháp lý (bị tuyên bố là đã chết) thì thời điểm mở thừa kế đối với tài sản do người đó để lại là ngày chết của người đó được Tòa án có thẩm quyền xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố người đó đã chết
Như vậy, việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng, là căn cứ để xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc do người chết để lại, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, dù là thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật
Trang 62 Các trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật
Mặc dù lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết là quyền của mỗi cá nhân trong xã hội, thế nhưng không phải di chúc nào cũng có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Do vậy, có các trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật như sau:
2.1 Di chúc vô hiệu
Trong đời sống pháp luật, để di chúc làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo di chúc thì di chúc phải tuân thủ theo các điều kiện của pháp luật, hay di chúc phải hợp pháp Những điều kiện đó được quy định tại Điều
630 Bộ luật dân sự năm 2015 làm căn cứ xác định rằng trường hợp di chúc vi phạm một trong các điều kiện để xác định tính hợp pháp thì di chúc vô hiệu Từ
đó, có thể hiểu rằng: Di chúc vô hiệu là di chúc vi phạm một trong các điều kiện
để một di chúc được xem là hợp pháp và do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người chỉ định trong di chúc và những nội dung khác của di chúc
Vậy, để biết khi nào di chúc vô hiệu, trước hết chúng ta cần tìm hiểu:
“Thế nào là di chúc hợp pháp và các điều kiện để di chúc hợp pháp?”
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương, do ý chí tự nguyện của bên có tài sản định đoạt tài sản của mình sau khi chết Do vậy, đây là một loại giao dịch dân sự đặc thù Theo đó, di chúc hợp pháp là di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định tại Điều 630 Bộ Luật Dân sự năm 2015 Di chúc hợp pháp được xác định là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về năng lực chủ thể, ý chí của người lập di chúc, về nội dung và hình thức của di chúc Từ
đó có thể thấy di chúc vô hiệu trong các trường hợp sau:
- Người lập di chúc không có năng lực chủ thể
Đó là trường hợp một người lập di chúc khi người đó mất năng lực hành
vi dân sự; người lập di chúc khi chưa đủ mười lăm tuổi; người từ đủ mười lăm
Trang 7tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự lập di chúc khi chưa có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của những người này
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là yếu tố mang tính chủ quan, phản ánh khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mình tiến hành (thực hiện) các hành vi tạo nên quyền và nghĩa vụ dân sự Theo Điều 19 Bộ luật dân sự năm
2015 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.” Lập di
chúc để định đoạt tài sản của mình là quyền của mỗi cá nhân, tuy nhiên không phải cá nhân nào cũng có thể thực hiện được quyền này mà đòi hỏi cá nhân đó phải có năng lực chủ thể, cụ thể là năng lực hành vi dân sự
o Một người lập di chúc khi người đó mất năng lực hành vi dân sự sẽ làm di chúc vô hiệu, không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc
Họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự nếu có quyết định của Tòa án nhân dân có thẩm quyền tuyên bố họ bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trên cơ
sở yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan Điều đó làm cho di chúc vô hiệu, bởi theo pháp luật chủ thể có toàn quyền trong lập di chúc khi người đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Khoản
1 Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người thành niên
có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình” Theo
quy định tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và khi đó họ được suy đoán là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Và tại điểm a khoản
1 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định chủ thể lập di chúc phải trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
Trang 8không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép thì mới có quyền lập di chúc.
Do vậy, một người mất năng lực hành vi không có quyền lập di chúc, nếu có lập di chúc thì di chúc vô hiệu
o Người lập di chúc khi chưa đủ mười lăm tuổi; người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự lập di chúc khi chưa có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của những người này là một trường hợp làm di chúc
vô hiệu
Bởi lẽ, những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi là những người chưa thành niên, họ bắt đầu có sự nhận thức về hành vi của mình, tuy nhiên sự nhận thức này vẫn có những hạn chế nhất định Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập giao dịch dân sự (trường hợp này là di chúc) phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi, đó là những giao dịch có giá trị không lớn, nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh hoạt vui chơi trong một giới hạn tài sản nhất định Đối với người từ đủ mười lăm tuổi dưới mười tám tuổi, bản thân họ có thể tham gia lao động để
có thu nhập, do vậy pháp luật cho phép họ có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định khác Và theo quy định tại khoản 2 Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập
di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập
di chúc” Kèm theo đó, tại khoản 2 Điều 630 Bộ luật dân sự năm
2015 quy định: “Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha,
mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.” Như vậy,
Trang 9người lập di chúc khi chưa đủ mười lăm tuổi; người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự lập di chúc phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp, nếu không sẽ là một trường hợp làm di chúc vô hiệu
- Ý chí của người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép,
Di chúc được lập thể hiện mong muốn dịch chuyển tài sản của họ sau khi chết, do đó, tự nguyện về ý chí là điều quan trọng khi lập di chúc Theo đó, người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện trong việc lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa và cưỡng ép Và để ý chí của người lập di chúc là ý chí đích thực của họ thì đòi hỏi sự thể hiện ý chí của người lập di chúc phải được kiểm soát bởi lý trí của họ Do vậy, di chúc được lập vào thời điểm người lập di chúc không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình như di chúc được lập khi người lập di chúc đã già yếu, lú lẫn hoặc mất khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi do bị bệnh tâm thần, do say rượu, bia, đang lên cơn nghiện
ma túy hoặc các chất kích thích khác, Khi đó, người lập di chúc được xem là trong tình trạng không minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Và như thế, di chúc được xem là vô hiệu
Ví dụ: Bà Hoà có tài sản tiết kiệm 500 triệu đồng trong ngân hàng Lợi
dụng việc bà tuổi cao, không còn minh mẫn, ông Hùng (con trai bà Hòa) đã lừa dối, cưỡng ép, đe dọa bà kí vào di chúc để lại toàn bộ tài sản cho mình (di chúc
do ông Hùng ghi sẵn) Xét theo điều kiện ý chí của người lập di chúc, di chúc được kí khi bà Hòa không còn minh mẫn, bị con trai lừa dối, cưỡng ép, đe dọa
và không do bà tự nguyện lập nên, vì thế, di chúc trên vô hiệu do vi phạm về ý chí của người lập di chúc
- Di chúc có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Trang 10Nội dung của di chúc thường thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời cho những người thừa kế còn sống được chỉ định trong di chúc Điều đó thể hiện ý chí độc lập, tự nguyện của người lập di chúc, do vậy pháp luật không can thiệp sâu vào sự tự do ý chí đó, song sự tự do ý chí đó phải trong một chừng mực nhất định, phải trên cơ sở tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác Điều cấm của luật là “những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Đạo đức xã hội là “những chuẩn mực ứng
xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” (Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015) Vì vậy, điểm b Điều
630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội ” Thông thường di chúc cần thể
hiện những nội dung cơ bản được quy định tại Điều 631 Bộ luật dân sự năm
2015 như sau:
1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2 Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.