6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu khác, luận văn thể hiện một số điểm mới sau: 6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu khác, luận văn thể hiện một số điểm mới sau: Thứ nhất, luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu và phân tích pháp luật hộ kinh doanh trong bối cảnh Luật doanh nghiệp 2014 đã đi vào thực tế và hiện tại Nhà nước đang tích cực xây dựng chương trình, chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện môi trường kinh doanh. Thứ hai, luận văn đưa ra nghiên cứu tương đối đầy đủ về hệ thống pháp luật hộ kinh doanh tại Việt Nam qua các thời kỳ, về quan niệm của pháp luật một số nước trên thế giới về hộ kinh doanh, các điểm bất cập của pháp luật hộ kinh doanh hiện hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh. Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau: Chương 1. Những vấn đề lí luận về hộ kinh doanh và pháp luật điều chỉnh hộ kinh doanh; Chương 2. Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam; Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
HỌC VIÊN CAO HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỘ KINH DOANH 4
1.1 Tổng quan về hộ kinh doanh 4
1.1.1 Quan niệm về hộ kinh doanh 4
1.1.2 Cơ sở hình thành hộ kinh doanh ở Việt Nam 8
1.1.3 Quá trình phát triển hộ kinh doanh 11
1.1.4 Vai trò của hộ kinh doanh 13
1.2 Pháp luật về hộ kinh doanh 15
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về hộ kinh doanh 15
1.2.2 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về hộ kinh doanh của một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 21
2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật về hộ kinh doanh 21
2.1.1 Quy định về thành lập, đăng kí, hình thức tổ chức 21
2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ 24
2.1.3 Quy định về trách nhiệm trả nợ của hộ kinh doanh 27
2.1.4 Quy định về tạm ngừng, chấm dứt, chuyển đổi 28
2.2 Đánh giá pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay 31
2.2.1 Những kết quả đạt được 31
2.2.2 Những hạn chế, bất cập 32
CHƯƠNG 3 MÔT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 41
3.1 Quan điểm hoàn thiện 41
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam .41 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh 44
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật trên quan điểm khuyến khích hộ kinh doanh phát triển .45
3.2 Một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật 46
3.2.1 Hoàn thiện chế định về hộ kinh doanh theo Luật doanh nghiệp 47
3.2.2 Xây dựng và ban hành quy chế pháp lý về hỗ trợ hộ kinh doanh 52
3.3 Một số giải pháp về tổ chức thực hiện 53
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 4MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Sau gần 30 năm đổi mới, hệ thống pháp luật kinh doanh ở Việt Nam ngày cànghoàn thiện và có những bước tiến quan trọng Sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm
2014, Luật đầu tư năm 2014 và văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuấtkinh doanh, Việt Nam đã có một khung pháp lý áp dụng tương đối thống nhất chocác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Cũng giống như các doanh nghiệp,
hộ kinh doanh cũng là đơn vị kinh doanh, có vai trò quan trọng trong lịch sử pháttriển nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên khoảng 4,5 triệu hộ kinh doanh ở Việt Namhiện nay chưa có một quy chế pháp lý rõ ràng, thống nhất Pháp luật doanh nghiệpđiều chỉnh và xây dựng cơ chế hỗ trợ cho khoảng 1 triệu doanh nghiệp vừa và nhỏnhưng lại “phớt lờ” với khoảng 4,5 triệu hộ kinh doanh Thực trạng pháp luật ở ViệtNam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về hoạt động kinh doanh và nhu cầu pháttriển của các hộ kinh doanh, đồng thời cũng không đảm bảo được nguyên tắc hiếnđịnh về quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng kinh doanh giữa các thành phầnkinh tế Nếu có một hệ thống pháp luật phù hợp điều chỉnh toàn diện về hoạt độngkinh doanh và khuyến khích hộ kinh doanh phát triển thì 4,5 triệu hộ kinh doanhnày sẽ phát huy được tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, mở rộng được quy mô sản xuất,kinh doanh, từ đó tạo “đòn bẩy” cho sự thay đổi của nền kinh tế đất nước Vì những
lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam làm
luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Tại Việt Nam hiện nay có khá nhiều nghiên cứu về pháp luật hộ kinh doanh.Các công trình khoa học tiêu biểu về đề tài này có thể kể đến: Tổng cục thống kê
(2015), Kết quả điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 2014, Hà Nội; Hoàng Minh Sơn (2012), Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ
luật học, Khoa Luật -Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Vũ Thị Ngọc Anh (2014),
Địa vị pháp lý của hộ kinh doanh- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc
sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội; TS Ngô Huy Cương (2009), Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các điểm bất cập”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học, số 25; Hoàng Minh Sơn (2015), Một số vấn đề pháp lý
về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và một số kiến nghị, Tạp chí Phát
Trang 5luật & Phát triển, Hội luật gia Việt Nam; Trần Ngọc Dũng (2014), Hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Phát luật, Số 9/2014, tr.42-29; Đặng Thị Thùy Trang (2015), Hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật -Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Khuất Thị Thu Hà, Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các hộ kinh daonh trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, Luận văn thạc sĩ luật học,
Đại học Luật Hà Nội…
Nhìn chung, các công trình khoa học pháp lý nêu trên đã nghiên cứu khá cụthể, chi tiết các khía cạnh pháp lý về hộ kinh doanh cũng như thực tiễn áp dụngpháp luật về hộ kinh doanh Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nào nghiêncứu đầy đủ, toàn diện về hộ kinh doanh trong bối cảnh có sự thay đổi lớn về Luậtdoanh nghiệp năm 2014 và các chương trình, chính sách ưu đãi khuyến khích doanhnghiệp phát triển của Nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật hộ kinh doanhmột cách đầy đủ, sâu sắc trên cơ sở phân tích pháp luật của từng thời kỳ, so sánhvới pháp luật thực tại và đánh giá những yếu tố kinh tế và hội nhập quốc tế là rấtcần thiết Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm khuyến khích các hộ kinhdoanh phát triển
3.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lýluận về hộ kinh doanh, nội dung quy định pháp luật hiện hành về hộ kinh doanh, từ đótìm ra các điểm bất cập, hạn chế của pháp luật về hộ kinh doanh và đề xuất phương
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh;
Nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành về hộ kinh doanh và tìm ra các điểm bấtcập của pháp luật về hộ kinh doanh hiện nay; Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiệnpháp luật về hộ kinh doanh để thúc đẩy hộ kinh doanh phát triển
4 ĐỐI TƯƠNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy định của pháp luật về hộ
kinh doanh, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quy định của Luật doanh nghiệp
2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về hộ kinh doanh
Trang 6Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nội dung các quy định của pháp luậthiện hành về hộ kinh doanh hiện nay, từ đó tìm ra các điểm bất cập, hạn chế củapháp luật và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp vớiđiều kiện bối cảnh kinh tế của Việt Nam hiện nay Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứuquan điểm điều chỉnh pháp luật về hộ kinh doanh của một số quốc gia từ đó đưa raliên hệ, so sánh để làm bài học cho việc hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như phương pháp tổng hợp và phântích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu
lý luận…Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảngcủa đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu khác, luận văn thể hiện một số điểm mới sau:
Thứ nhất, luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu và phân tích pháp luật hộ
kinh doanh trong bối cảnh Luật doanh nghiệp 2014 đã đi vào thực tế và hiện tại Nhànước đang tích cực xây dựng chương trình, chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ, cải thiện môi trường kinh doanh
Thứ hai, luận văn đưa ra nghiên cứu tương đối đầy đủ về hệ thống pháp luật hộ
kinh doanh tại Việt Nam qua các thời kỳ, về quan niệm của pháp luật một số nướctrên thế giới về hộ kinh doanh, các điểm bất cập của pháp luật hộ kinh doanh hiệnhành và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương như sau: Chương 1 Những vấn đề lí luận về hộ kinh doanh và phápluật điều chỉnh hộ kinh doanh; Chương 2 Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh ởViệt Nam; Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh
ở Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH VÀ
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỘ KINH DOANH 1.1 Tổng quan về hộ kinh doanh
1.1.1 Quan niệm về hộ kinh doanh
a) Khái niệm hộ kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền hiến định của mọi công dântrong xã hội Pháp luật tạo ra khuôn khổ pháp lý để hướng dẫn các cá nhân lựa chọn
mô hình tổ chức phù hợp với ý tưởng và điều kiện kinh doanh của họ Một nhóm cánhân hợp tác kinh doanh với nhau có thể lựa chọn hình thức thành lập doanhnghiệp, hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, tuy nhiên một bộ phận khác là các cá nhân đơn
lẻ, các hộ gia đình lại lựa chọn hình thức đơn giản hơn để hoạt động kinh đoanh đó
là “hộ kinh doanh” hoặc “doanh nghiệp tư nhân” Cùng với sự phát triển của nềnkinh tế xã hội, pháp luật từng thời kỳ ghi nhận mô hình kinh doanh của các cá nhânđơn lẻ hoặc hộ gia đình với các tên gọi khác nhau như hộ cá thể, hộ kinh doanh cáthể hoặc hộ kinh doanh
Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng bộ trường ngày 09/3/1988 ban hành
“Bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thẻ, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải” là văn bản đầu tiên quy định về các
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh Nghị định này thừa nhận định ba hình thức
tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa
hàng) và xí nghiệp tư doanh Trong đó hộ cá thể được giải thích: “Hộ cá thể: Tư liệu sản xuất và các vốn là sở hữu của người chủ đứng tên đăng ký kinh doanh; Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của chủ đăng ký kinh doanh,có thể thuê mướn thêm lao động thời vụ; Thu nhập sau khi đã đóng thuế thuộc sở hữu của chủ hộ” Quan niệm về hộ cá
thể theo Nghị định này được hiểu là các cá nhân tự kinh doanh, thương nhân, thểnhân thực hiện hoạt động kinh doanh và là người lao động cho chính mình
Nghị định số 66/HĐBT ngày 03/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về cá nhân vànhóm kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định được quy định tại Nghị định
Trang 8số 221-HĐBT ngày 23/7/1991 hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp tư nhân năm
1990 quy định “Người kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định được quy định của Luật doanh nghiệp tư nhân bao gồm cá nhân kinh doanh, nhóm kinh doanh, nhóm kinh doanh phải có ít nhất hai người trở lên” Nghị định 66/HĐBT
không có tên gọi cụ thể cho nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện hoạt động kinhdoanh nhỏ lẻ
Khái niệm hộ kinh doanh cá thể xuất hiện lần đầu tiên tại Điều 123 Luật doanh
nghiệp năm 1999: “Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn đang hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 02 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng chuyển thành doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Luật này” Điều 17 Nghị định số
02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định
cụ thể về khái niệm hộ kinh doanh cá thể: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Điều 24 Nghị định 109/2004/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 02/4/2004 về đăng ký kinh doanh tiếp tục ghi nhận khái niệm hộkinh doanh cá thể theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP
Luật doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định tên gọi thống nhất “hộ kinh doanh”
để chỉ cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện hoạt động kinh doanh Nghị
định 88/2006/NĐ-CP đưa ra khái niệm đầy đủ, toàn diện về hộ kinh doanh: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một
hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”
Khoản 2 Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2015 quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ”. Nghị định
Trang 978/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ hướng dẫn về đăng ký doanhnghiệp giữ nguyên khái niệm về hộ kinh doanh theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP Theo pháp luật hiện hành, hộ kinh doanh được chia thành ba loại gồm hộ kinhdoanh do một cá nhân làm chủ, hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ và hộkinh doanh do hộ gia đình làm chủ:
- Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ bản chất là thương nhân thể nhân,đây chính là hình thức hộ cá thể theo quy định của Nghị định Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/3/1988 Điều kiện để cá nhân thành lập hộ kinh doanh là công dânViệt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập, hình thức này tương ứng vớinhóm kinh doanh theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 03/2/1991
- Hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập Việc quy định hộ gia đình đượcquyền thành lập hộ kinh doanh xuất phát từ việc công nhận hộ gia đình là chủ thểcủa quan hệ pháp luật dân sự theo Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm
về hộ kinh doanh cá thể, hộ cá thể Điểm chung của pháp luật Việt Nam qua cácthời kỳ đều coi hộ kinh doanh là mô hình tổ chức hoạt động kinh doanh có quy mônhỏ hơn doanh nghiệp, không có con dấu, không có tư cách pháp nhân và phải chịutrách nhiệm vô hạn về hoạt động kinh doanh Sự phân biệt giữa hộ kinh doanh vàdoanh nghiệp là một đặc thù của hệ thống pháp luật Việt Nam so với các nước khác
Bộ luật Dân sự Nga 1994 xem doanh nghiệp là một tổ hợp tài sản sử dụng cho mộthoặc một số hoạt động thương mại nhất định Pháp luật của các nước theo CivilLaw có quan niệm tương tự Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng để
Trang 10chỉ toàn bộ các thực thể kinh doanh không kể tới quy mô và phạm vi của chúng[26].
b) Đặc điểm của hộ kinh doanh
Giống như doanh nghiệp, hộ kinh doanh có bản chất là một đơn vị kinh tế cóđăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Hộkinh doanh có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh có quy mô rất nhỏ Quy mô
kinh doanh thể hiện trên các các phương diện: số lượng lao động, số lượng địa điểmkinh doanh, vốn đầu tư, doanh thu….Đây cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt hộkinh doanh đối với doanh nghiệp Trên thực tế, hộ kinh doanh được thành lập bởimột cá nhân, hoặc hộ gia đình thực hiện kinh doanh chủ yếu ở nông thôn trong cáclĩnh vực nông, lâm, thủy sản, quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư thấp Sản xuất của
hộ kinh doanh đơn giản, chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ laođộng truyền thống, năng suất lao động thấp Nghị định 66/HĐBT phân biệt việckinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân bằng mứcvốn pháp định, theo đó người kinh doanh có mức vốn thấp hơn mức mức vốn phápđịnh quy định cho doanh nghiệp tư nhân [12] Hiện nay, tiêu chí vốn pháp địnhkhông còn là cơ sở phân biệt hộ kinh doanh hay doanh nghiệp theo pháp luật hiệnhành bởi vì chỉ có doanh nghiệp tư nhân, công ty hoạt động trong các ngành nghềkinh doanh có điều kiện mới phải tuân thủ quy định về mức vốn pháp định Khoản 2
Điều 212 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Hộ kịnh doanh sử dụng thường xuyên
từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ Luật doanh nghiệp năm 2014
phân biệt hộ kinh doanh và doanh nghiệp qua quy mô sử dụng lao động, nếu hộkinh doanh sử dụng thường xuyên mười lao động thì phải đăng ký thành lập doanhnghiệp, đây là quy định bắt buộc đối với hộ kinh doanh
Thứ hai, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có các điều kiện: “Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
Trang 11chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân
bởi vì hộ kinh doanh không có tài sản độc lập với người thành lập Hộ kinh doanh
do một cá nhân làm thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, mọi tài sản của hộkinh doanh cũng đồng thời là tài sản của cá nhân tạo lập hộ kinh doanh Sau khihoàn thành các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật, cánhân tạo lập hộ kinh doanh được hưởng toàn bộ lợi nhuận đồng thời cũng phải gánhchịu mọi nghĩa vụ và rủi ro Hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập có bản chất là
hộ gia đình kinh doanh Tài sản của hộ gia đình thống nhất với hộ kinh doanh Hộkinh doanh được tạo lập bởi một nhóm cá nhân không có tư cách pháp nhân Thựchiện hoạt động sản xuất kinh doanh, loại hình này tương đồng với công ty hợp danh
do một cá nhân làm chủ thì cá nhân đó phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản
nợ của hộ kinh doanh, trách nhiệm trả nợ của hộ kinh doanh đồng nhất với tráchnhiệm của cá nhân thành lập hộ Nếu hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ thì hộgia đình phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của hộ gia đình Theo quy địnhcủa Bộ luật dân sự, hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ, nếu tàisản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu tráchnhiệm liên đới bằng tài sản của mình Về nguyên tắc, nhóm cá nhân thành lập hộphải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ của hộ kinh doanh Nghĩa vụ của họ lànghĩa vụ liên đới, tuy nhiên hiện nay Nghị định 78/2015/NĐ-CP cũng như Bộ luậtdân sự chưa có quy định cụ thể về vấn đề này
1.1.2 Cơ sở hình thành hộ kinh doanh ở Việt Nam
Cơ sở hình thành và phát triển các hộ kinh doanh ở Việt Nam dựa trên nhữngđiều kiện kinh tế, xã hội và pháp lý cụ thể sau:
Về kinh tế- xã hội, thời kỳ phong kiến, pháp luật thương mại không được biết
đến, kinh doanh buôn bán không phát triển do chính sách nông nghiệp, bế quan tỏa
Trang 12cảng và ảnh hưởng của Khổng giáo và chế độ đại gia đình gia trưởng Do vậy, thời
kỳ này các hình thức kinh doanh không được chủ ý, nếu như có quan hệ mua bánthương mại thì hộ gia đình là thành phần lấn át Đến thời kỳ Pháp thuộc, Bộ luậtthương mại Pháp được áp dụng ở Nam Kỳ năm 1864 và Bắc Kỳ năm 1988 Thời kỳnày xuất hiện các thương nhân đơn lẻ, hình thành và hoạt động theo chế định củaLuật thương mại Pháp Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêubao cấp, với chế độ công hữu hóa về tư liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân không
có cơ hội phát triển thậm chí bị dập tắt Xã hội thời kỳ này chỉ còn một số ngườichay chợ lo cơm ăn hàng ngày, người bán hàng rong và một số người kinh doanhnhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan đến tiêu dùng hoặc thành phần đang trong cảitạo xã hội chủ nghĩa Sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, việc cảitạo công thương nghiệp để xây dựng nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêubao cấp đã dần đến nhiều hệ luy và nan giải về kinh tế Nhân dân túng thiếu, đóikém, kinh tế trị trệ, lạc hậu Việc xây dựng nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã đingược lại quy luật phát triển, không đảm bảo được nguyên tắc tự nguyên, cùng cólợi và quản lý dân chủ, thủ tiêu quyền tài sản thiêng liêng của mỗi công dân, làmmất đi động lực phát triển kinh tế xã hội Sai lầm về đường lối làm cho nền kinh têsuy kiệt, hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông rối ren, nhân dân đóikém Đứng trước tình hình đó, Đảng đã phân tích nguyên nhân và xây dựng đườnglối, chính sách khắc phục Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra giải pháp:
“Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình Sử dụng khả năng tích cực của kinh tế tiểu
tư sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiệt trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ Sử dụng kinh tế tư bán tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành, nghề,
đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức tư bản Nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân Mở rộng nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi” [19]
Thi hành đường lối của Đại hội VI, tại Hội ghị lần thứ hai của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VI, trong lời khai mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nói:
Trang 13“Không phải ngẫu nhiên mà đề tài trung tâm của Hội nghị Trung ương lần thứ hai là vấn đề phân phối, lưu thông Từ năm 1981 đến nay, đã nhiều lần Trung ương bàn bạc và quyết định, nhưng tình hình chẳng những không được cải thiện, mà ngày càng trầm trọng hơn Hiện nay, nó đang là vấn đề cấp bách và cơ bản, là tụ điểm của những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế nước ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã giao cho Ban chấp hành Trung ương mới tập trung sức giải quyết vấn đề này Trách nhiệm của chúng ta, của mỗi ủy viên trung ương và toàn thể Ban chấp hành Trung ương là phải trả lời thẳng vào những vấn đề bức xúc nói trên của cuộc sống, đáp ứng được lòng mong đợi nóng bỏng và chính đáng của nhân dân” [20]
Tiếp đó Báo cáo của Bộ Chính trị về giải quyết những vấn đề cấp bách về phânphối, lưu thông đã kiến nghị như sau:
“Ban hành văn bản thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI để họ an tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh… Đối với các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp (tập thể, gia đình, cá thể, và
tư bản tư nhân), Nhà nước bán vật tư, mua sản phẩm theo giá thỏa thuận thông qua hợp đồng kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng” [21] Hội nghị đã ra Nghị quyết chỉ đạo: “Thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng để mọi người yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh Theo hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành phố qui định những ngành nghề và phạm vi hoạt động của các thành phần kinh tế nói trên Khuyến khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đến cao và các hình thức liên kết với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”[22]
Về pháp lý, để đáp ứng nhu cầu bức bách của toàn xã hội, ngay sau Hội nghị,
Hội đồng Bộ trưởng lúc đó đã ra Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988 ban hànhBản qui định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công
nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải “Để thể chế hóa các chủ trương mới
đã nêu trong Nghị quyết Đại lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với kinh tế cá thể, kinh
tế tư doanh sản xuất cong nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; Để giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụ sản xuất phục
vụ đời sống và phục vụ xuất khẩu; Để phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kết
Trang 14hợp chặt chẽ kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể” [13] Nghị định này đưa ra các tuyên ngôn có tính cách mạng rằng: (i) Công
nhận sự tồn tại và các tác dụng lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tưdoanh; (ii) Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này hoạt động vàphát triển; (iii) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền thừa kế tài sản
và thu nhập hợp pháp của các đơn vị kinh tế và của công dân thuộc thành phần kinh
tế này; và (iv) “Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của các đơn vị kinh tế thuộccác thành phần kinh tế này trong xã hội” [13] Theo Bản qui định ban hành kèmtheo Nghị định 27- HĐBT, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh được xem làcác đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọivấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi Các đơn vị kinh
tế này được tổ chức theo những hình thức: (i) Hộ cá thể; (ii) hộ tiểu công nghiệp; và(ii) xí nghiệp tư doanh Từ các hình thức này dần dà tiến tới hộ kinh doanh, doanhnghiệp tư nhân và các công ti ngày nay ở Việt Nam Theo Bản qui định này, hộ cáthể có các điều kiện sau: (i) Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữucủa người đứng tên đăng ký kinh doanh; (ii) chủ đăng ký kinh doanh phải là ngườilao động trực tiếp; (iii) những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, conhoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người đứng tênđăng ký kinh doanh; (iiii) thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ
hộ Có thể hiểu đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiếnhành hoạt động kinh doanh cho chính mình Dấu ấn gia đình Việt Nam và dấu ấnquan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn còn đó Và thậm chí chođến ngày nay, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là “hộ kinh doanh” Văn bản nàychính nền tàng, cơ sở pháp lý đầu tiên để hình thành, phát triển hộ kinh doanh ởViệt Nam
1.1.3 Quá trình phát triển hộ kinh doanh
Kể từ khi Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 5/4/1988 về
“đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” với mục đích giải phóng sức sản xuất trongnông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và cá tư liệu sản xuất khác cho hộnông dân quản ý và sử dụng lâu dài thì các hộ nông dân đã trở thành các đơn vị tựchủ trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế Từ
Trang 15đó, hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điềuhành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêuthụ sản phẩm của họ làm ra Sau 28 năm thừa nhận, quá trình phát triển hộ kinhdoanh đạt được các kết quả sau:
Một là, số lượng hộ kinh doanh cá thể tại khu vực nông thôn tăng nhanh, tốc
độ tăng của giai đoạn sau (2006-2011) cao hơn giai đoạn trước (2001-2005) tươngứng 11,5% so với 5,38% [29] Tính đến năm 2014, cả nước có tổng cộng 4.658 triệu
hộ kinh doanh cá thể [35] Sự gia tăng các hộ kinh doanh diễn ra khá đồng đều trênphạm vi cả nước, trong đó cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (26.74%), thấp nhất ởvùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ (8.31%) [29]
Hai là, cơ cấu hộ kinh doanh có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng hiện đại.Điều này thể hiện ở sự giảm xuống khá nhanh về số lượng và tỷ trọng của nhóm hộnông, lâm nghiệp, thủy sản, và sự tăng lên của nhóm hộ công nghiệp, xây dựng.Trong nội bộ ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, sự chuyển dịch cơ cấu hộdiễn ra theo chiều hướng tích cực So sánh năm 2011 với 2001, số hộ thuần nônggiảm 2,6% về tỷ trọng và 6,2% về số hộ, tương ứng hộ lâm nghiệp tăng 0,3% và10,5%; hộ thủy sản tăng 2,3% và 38,8% [29]
Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của các hộ kinh doanh ngày càng đa dạng, nhờ đó
cơ cấu thu nhập của hộ có sự thay đổi theo hướng bền vững hơn Ngoài nhữngngành nghề truyền thống, các hộ kinh doanh đã chủ động chuyển đổi ngành nghề,thay đổi cơ cấu kinh tế tạo nguồn thu nhập cao và ổn định hơn Nguồn thu nhập củacác hộ kinh doanh thu từ nông nghiệp giảm và nguồn thu chủ yếu từng hoạt độngphi nông nghiệp tăng lên Từ đó cho thấy các hộ kinh doanh ngày càng thoát khỏi
sự lệ thuộc và tự nhiên, giảm bớt được rủi ro trong sản xuất
Thứ tư, nhiều hộ kinh doanh có quy mô sản xuất khá lớn, với lượng vốn kinhdoanh lên tới hàng trăm triệu động, thậm chí chục tỷ đồng, trong đó một bộ phậnđáng kể hộ kinh doanh đã thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một bộ phậnkhác thành lâp các tổ hợp tác và hợp tác xã Sự liên kết, mở rộng quy mô, tăng hiệuquả sản xuất, kinh doanh của các hộ đã thể hiện xu hướng phát triển của nền sảnxuất theo hướng hiện đại
Trang 16Thứ năm, ngày càng xuất hiện nhiều hộ kinh doanh khẳng định được vị trítrong nền kinh tế thị trường và tác động đến sự nghiệp xóa đói giảm nghèo bềnvững của địa phương Các hộ kinh doanh lớn tạo công ăn việc làm cho người dânđịa phương, hướng dẫn phổ biến kinh nghiệm sản xuất cho các hộ kinh doanh vàcác cá nhân trong xã hội
Mặc dù hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh có phát triển đáng kể, tuynhiên hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế Quy mô sản xuất kinh doanh của hộ kinhdoanh còn manh mún nhỏ lẻ, khó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Cơ cấu ngànhnghề kinh doanh còn lạc hậu, hộ kinh doanh vẫn hoạt động kinh doanh nông nghiệp
là chủ yếu nên rủi rõ rất dễ gặp phải, đời sống của các hộ kinh doành còn nhiều bấpbênh Thị trường sản phẩm bị hạn hẹp, bị động Các hộ kinh doanh nông nghiệpphải đối mặt với thực tế sản phẩm làm ra khó tiêu thụ Tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ mà
hộ kinh doanh cung ứng ra thị trường thường không không qua hợp đồng mà chỉbằng lời nói, dễ gặp rủi ro và bị ép giá hoặc thanh toán chậm trễ
1.1.4 Vai trò của hộ kinh doanh
Với nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa củanước ta hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều được Đảng và Nhà nước khuyến khíchphát triển Trong những năm qua, hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam cónhiều thuận lời từ thủ tục thành lập đơn vị kinh doanh đến cải cách quản lý thuế đốitượng này theo hình thức thuế khoản, không cần tập hợp hóa đơn, ghi chép sổ sách
đã tạo điều kiện cho hộ kinh doanh phát triển mạnh mẽ, ngày càng khẳng định vaitrò to lớn trong nền kinh tế xã hội
Thứ nhất, hoạt động của hộ kinh doanh góp phần khơi dậy một phận quan
trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển kinh tế quốcdân Kinh tế hộ kinh doanh xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển Sự biến đổi của quan hệ sản xuất kéo theo sự biến đổi của quan
hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với lựclượng sản xuất vốn còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, các ngành trong
cả nước Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinhnghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc vào công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa
Trang 17Thứ hai, hoạt động của các hộ kinh doanh góp phần quan trọng thu hút vốn
nhàn rỗi của các nhân, hộ gia đinh trong xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực củađịa phương Điều này tạo điều kiện, cơ hội cho đông đảo tầng lớp nhân dân có thểtham gia đầu tư Mặt khác, trong quá trình hoạt động, hộ kinh doanh có thể dễ dànghuy động vốn vay dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè Chính vì vậy, đẩy mạnh hoạtđộng của hộ kinh doanh là phương tiện tối ưu trong việc huy động vốn, sử dụng cáckhoản tiền đang phân tán, nằm im trong khu dân cư thành khoản vốn kinh doanh.Những điều kiện khách quan từ môi trường và truyền thống của nền văn hóa ViệtNam tạo điệu kiện thuận lợi cho kinh tế hộ kinh doanh phát triển nhờ tận dung đượccác bị quyết sản xuất truyền thống và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ Điềunày cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra sản phẩm độc đáophục vụ cho nhu cầu của xã hội
Thứ ba, hộ kinh doanh đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà
nước Từ trước đến nay, khu vực kinh tế nhà nước là khu vực có tỷ trọng đóng gópcao nhất trong GDP Tuy nhiên, Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2014), nếunhư kinh tế Nhà nước đóng góp 32.2% vào GDP thì kinh tế ngoài Nhà nước đónggóp tới 48,3% vào GDP trong đó riêng kinh tế hộ kinh doanh đóng góp 32,3%, kinh
tế tư nhân 10,9%, kinh tế tập thể 5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19.5% [35].Như vậy, trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, kinh tế cá thể, hộ kinh doanh có tỷtrọng đóng góp cao nhất trong GDP (xấp xỉ 33%) cao hơn khu vực kinh tế Nhànước và hơn hẳn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ tư, hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh góp phần thu hút một phận
lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động Lợithế nổi bật của hoạt động kinh doanh hộ gia định là có thể thu hút một lực lượngđông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từ lao độngthủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng, miền đất nước, ở tất cả mọitầng lớp dân cư…Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2014, cảnước có tổng cộng 4.658 triệu hộ kinh doanh cá thể với số lượng lao động gần là7.950.000 người, chiếm 41,15 % lực lượng lao động toàn xã hội [35] Việc sử dụng
số lượng lớn lao động hộ gia đình ở các địa phương, tạo ra các chủng loại sản phẩmhàng hóa dịch vụ đa dạng, phong phút, các hộ kinh doanh cá thể không những giải
Trang 18quyết việc làm, tăng thu nhập…mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về nhữngvùng xa, vùng khó khăn mà các loại hình kinh doanh khác không đáp ứng được.Đây là kênh phân phối và lưu thông hàng hóa quan trọng, giúp cân đối thương mại
và phát triển kinh tế địa phương
Thứ năm, hoạt động của hộ kinh doanh có đóng góp quan trọng vào việc
thúc đây tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân Sự phát triểnnhanh của hoạt động kinh doanh hộ gia đình góp phần không nhỏ và thúc đẩy tăngtrưởng của cả nước Trên thế giới cũng như Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nướcthường được ưu tiên xây dựng thành các cụm công nghiệp, dịch vụ tổng hợp và cácvùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Điều đó dẫn đến tình trạng mất cân đốinghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nôngthôn, giữa các vùng của quốc gia Chính hoạt động phát triển của hộ kinh doanh gópphần tạo lập sự cân đổi trong phát triển giữa các vùng, giúp các vùng sâu, vùng xa,các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để pháttriển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàrút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng miền.Ngoài ra, các hộ kinh doanh có lợi thế quy mô nhỏ nên có tình năng độ, linh hoạt,sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, góp phần làm năng động nền kinh tế
1.2 Pháp luật về hộ kinh doanh
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về hộ kinh doanh
Năm 1988, nhằm thể chế hóa các chủ trương đã nêu trong Nghị quyết Đại hộithứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấphành Trung Ương Đảng đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất côngnghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng và vận tải, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hànhNghị định số 27-HĐBT Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định mô hình kinh tế
cá thể, ghi nhận hình thức hộ kinh doanh ở Việt Nam Bản quy định về chính sáchđối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp,xây dựng, vận tải ban hành kèm theo Nghị định số 27-HĐBT đã quy định cácnguyên tắc, chính sách cơ bản về kinh tế cá thể như khái niệm, nguyên tắc thành lập
và hoạt động, ngành nghề kinh doanh, các chính sách của Nhà nước về vật tư, tiêuthụ sản phẩm, tài chính, tín dụng, khoa học kỹ thuật, lao động và xã hội đối với kinh
Trang 19tế cá thể, các quyền, nghĩa vụ của kinh tế cá thể Sự ra đời của văn bản đã giảiphóng mọi lực lượng sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tảiđồng thời giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy khả năng của mọi thành phầnkinh tế, huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụsản xuất phục vụ xuất khẩu
Nghị định số 66-HĐBT là văn bản tiếp theo quy định về hộ kinh doanh Nghịđịnh này điều chỉnh về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp địnhcủa doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Nghị định số 221-HĐBT Trình tự,thủ tục xin phép kinh doanh và cấp giấy phép kinh doanh đối với hộ kinh doanh đãđược quy định cụ thể trong Nghị định số 66-HĐBT Ngoài ra Nghị định cũng quyđịnh các vấn đề về thay đổi nội dung, tạm ngưng và chấm dứt hoạt động kinh doanhcủa hộ kinh doanh, về quyền nghĩa vụ của hộ kinh doanh cũng như việc kiểm tra,
xử lý vi phạm của cơ quan Nhà nước đối với hộ kinh doanh
Sau khi Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời, Chính phủ tiếp tục ban hành 02Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày2/4/2004 về đăng ký kinh doanh Tên gọi "hộ kinh doanh" được hai nghị định nàyđổi thành "hộ kinh doanh cá thể" Hai nghị định này tiếp tục kế thừa các quy định
về hộ kinh doanh của các văn bản pháp luật trước đây và hoàn thiện các quy địnhkhác về đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể Khái niệm hộ kinh doanh
cá thể đã được ghi nhận tại Điều 17 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP: “Hộ kinh doanh
cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Việc đăng ký kinh
doanh đối với hộ kinh doanh cá thể được quy định trong Nghị định về đăng ký kinhdoanh áp dụng chung với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Hai Nghị định này cũngquy định cụ thể về quyền đăng ký kinh doanh, về trình tự thủ tục đăng ký kinhdoanh, về thời điểm kinh doanh và việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinhdoanh Việc phân biệt hộ kinh doanh và doanh nghiệp ở pháp luật thời kỳ này dựa
trên khoản 2 Điều 123 của Luật doanh nghiệp năm 1999: “Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện để hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn đang hoạt động theo Nghị định
Trang 20số 66 ngày 02 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng chuyển thành doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Luật này”.
Khoản 4 Điều 170 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này” Khái niệm hộ kinh doanh chính thức được ghi
nhận trong văn bản luật Không giống như Luật doanh nghiệp năm 1999, Nhà nước
có quy định tùy nghi “hướng dẫn và tạo điều kiện” cho hộ kinh doanh có quy môlớn thành lập doanh nghiệp, thì Luật doanh nghiệp 2005 đã quy định bắt buộc các
hộ kinh doanh có quy mô lớn phải thành lập doanh nghiệp, nội hàm quy mô lớn đãđược thể hiện rõ là hộ kinh doanh sử dụng 10 lao động trở lên Cụ thể hóa Luậtdoanh nghiệp 2005, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CPquy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh và quản lý Nhànước về đăng ký hộ kinh doanh Luật doanh nghiệp năm 2014, Nghị định78/2015/NĐ-CP tiếp tục kế thừa các quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005,Nghị định 43/2010/NĐ-CP về hộ kinh doanh
Tóm lại, pháp luật về hộ kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật doNhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhànước quản lý tổ chức, hoạt động của hộ kinh doanh, các quan hệ về tổ chức, hoạtđộng của hộ kinh doanh và các quan hệ giữa hộ kinh doanh với các chủ thể khác.Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của pháp luật hộ kinh doanh chính là các hộkinh doanh Hộ kinh doanh là đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ, có mô hình tổ chứcđơn giản do cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thành lập, không có tư cách phápnhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình trong hoạt động kinhdoanh Đây là điểm cơ bản nhất để phân biệt pháp luật hộ kinh doanh đối với cácchế định pháp luật khác
Thứ hai, pháp luật hộ kinh doanh có liên hệ chặt chẽ và là một bộ phần cấuthành của pháp luật doanh nghiệp Mặc dù các văn bản Luật doanh nghiệp qua cácthời kỳ đều không ghi nhận hộ kinh doanh có tư cách giống như doanh nghiệp,nhưng với quan niệm hộ kinh doanh là một đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ hơn doanh
Trang 21nghiệp, Luật doanh nghiệp luôn đưa ra các quy định tùy nghi, thậm chí bắt buộc về
sự chuyển đổi của hộ kinh doanh thành doanh nghiệp Trên cơ sở Luật doanhnghiệp, các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật doanh nghiệp luôn quy định cácvấn đề về thành lập, đăng ký, tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của hộ kinhdoanh
Thứ ba, pháp luật của hộ kinh doanh chịu sự chi phối, tác động từ lịch sử,chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Khi Đảng có chính sách đổi mớinăm 1986, khi Luật doanh nghiệp tư nhân chưa ra đời, pháp luật về hộ kinh doanh
đã tạo nền tàng, cơ sở để thúc đẩy, giải phóng năng lực kinh doanh cho các thànhphần kinh tế trong xã hội Khi nền kinh tế phát triển, pháp luật doanh nghiệp hoànthiện hơn, vai trò của các doanh nghiệp được khẳng định và nâng cao, pháp luật về
hộ kinh doanh tiếp tục hoàn thiện các quy định và trở thành một bộ phận cấu thànhcủa pháp luật doanh nghiệp
1.2.2 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về hộ kinh doanh của một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
Pháp luật Anh quan niệm Thương nhân đơn lẻ (sole trader) là một người tựtiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạtđộng; có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh, vốn gópban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiện hoặc vay mượn cá nhân [25] Thươngnhân đơn lẻ phải chịu trách nhiệm về khoản nợ kinh doanh của chính mình, phảigiữ hóa đơn, chứng tử về bán hàng- chi phí, gửi tờ khai thuế thu nhập tự đánh giáhàng năm, nộp thuế thu nhập, đăng ký thuế giá trị gia tăng khi đến ngưỡng chịuthuế,…[55] Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship)
là một hình thức đơn giản và phổ biến nhất để bắt đầu kinh doanh Đó là mô hìnhkinh doanh không có tư cách pháp nhân, được sở hữu và điều hành bởi một cá nhân,không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu Người thành lập doanhnghiệp cá thể được hưởng toàn bộ lợi nhuận và chịu trách nhiệm đối với mọi khoản
nợ, thua lỗ từ hoạt động kinh doanh [56] Bộ luật thương mại Pháp năm 1807 quyđịnh thương nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại
và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình Cá nhân trở thành thươngnhân theo pháp luật Pháp được xác định bởi Tòa án Nếu tên một cá nhân xuất hiện
Trang 22trong Sổ đăng ký thương mại tại Tòa án thương mại, thì người đó được xem làthương nhân, trừ khi có chứng cứ ngược lại [25] Bộ luật Dân sự Nga 1994 xemdoanh nghiệp là một tổ hợp tài sản sử dụng cho một hoặc một số hoạt động thươngmại nhất định [26]
Điều 2 Luật doanh nghiệp cá thể Trung Quốc quy định: “doanh nghiệp cá thể là đơn vị kinh tế được thành lập tại Trung Quốc với khoản vốn được đóng góp bởi một
cá nhân và tài sản thuôc sở hữu của cá nhân đó, người này phải chịu trách nhiệm
vô hạn về tài sản của mình về hoạt động kinh doanh”[57].
Như vậy, hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều phân biệt hai nhómthương nhân là thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân, không có sự phânbiệt giữa về quy mô kinh doanh giữa các thương nhân Thương nhân thể nhân theođược coi là hình thức, mô hình kinh doanh đơn giản do một cá nhân tự thành lập, tựchịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của mình, tài sản của doanh nghiệp
cá thể chính là tài sản của người thành lập doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam có đặcthù và quan niệm riêng về hộ kinh doanh, hộ kinh doanh không được coi là doanhnghiệp, hộ kinh doanh có thể được thành lập bởi hộ gia đình, cá nhân hoặc nhóm cánhân Pháp luật Việt Nam phân biệt hộ kinh doanh và doanh nghiệp bằng quy môkinh doanh, cho rằng các hộ kinh doanh là một đơn vị kinh tế có quy mô rất nhỏ.Điều này gây nên sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, vì vậy pháp luậtViệt Nam cần hoàn thiện thay đổi góc đọ, quan niệm về hộ kinh doanh, không nênphân biệt đối xử các đơn vị kinh tế chỉ vì quy mô hoạt động kinh doanh của chúng,nên sửa đổi theo hướng công nhận các loại hình kinh tế, cùng có cơ chế điều chỉnhgiống nhau, theo quy định của Luật doanh nghiệp
Kết luận chương 1
1 Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm ngườihoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụngkhông quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình đối với hoạt động kinh doanh Hộ kinh doanh bản chất là một đơn vịkinh tế có quy mô rất nhỏ, không có tư cách pháp nhân, chủ hộ kinh doanh phảichịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Trang 232 Từ khi xuất hiện đến nay, hộ kinh doanh luôn khẳng định được vai trò to lớncủa mình trong nền kinh tế xã hội Hoạt động của hộ kinh doanh góp phần khơi dậymột phận quan trọng tiềm năng của đất nước, góp phần quan trọng thu hút vốn nhànrỗi của các nhân, sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương, đóng góp đáng kểvào nguồn thu ngân sách Nhà nước, thúc đây tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấunền kinh tế quốc dân
3 Pháp luật về hộ kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nướcquản lý tổ chức, hoạt động của hộ kinh doanh, các quan hệ về tổ chức, hoạt độngcủa hộ kinh doanh và các quan hệ giữa hộ kinh doanh với các chủ thể khác Phápluật về hộ kinh doanh chịu chi phối từ chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước theotừng thời kỳ và là một bộ phần cấu thành và có liên kết chặt chẽ với pháp luật doanhnghiệp
4 Pháp luật một số nước trên thế giới không quan niệm hộ kinh doanh là mộtchủ thể kinh doanh khác biệt với doanh nghiệp mà coi hộ kinh doanh bản chất làmột hình thức kinh doanh đơn giản nhất để các cá nhân tự tiến hành kinh doanh Cánhân đó được hưởng toàn bộ lợi nhuận và chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ,thua lỗ từ hoạt động kinh doanh
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở
VIỆT NAM 2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật về hộ kinh doanh
2.1.1 Quy định về thành lập, đăng kí, hình thức tổ chức
a) Điều kiện thành lập hộ kinh doanh
Luật doanh nghiệp 2014 không có quy định về việc thành lập, đăng ký hộ kinhdoanh Điều 183, Điều 212 dẫn chiếu đến hộ kinh doanh trong trong mối liên hệ,chuyển đổi thành doanh nghiệp Tuy nhiên, Nghị định số Nghị định số 78/2015/NĐ-
Trang 24CP hướng dẫn Luật doanh nghiệp quy định chi tiết về việc các điều kiện thành lập,thủ tục đăng ký hộ kinh doanh Điều 67 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định:
“Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký
hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này” Theo quy định này, có hai nhóm chủ
thể có quyền thành lập hộ kinh doanh tại Việt Nam là cá nhân và hộ gia đình
sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại Như vậy, pháp luật đã loại trừ quyềnthành lập hộ kinh doanh tại Việt Nam của người nước ngoài, chủ doanh nghiệp tưnhân, thành viên hợp danh và các đối tượng bị cấm kinh doanh Trường hợp hộ kinhdoanh được thành lập bởi một nhóm cá nhân thì từng cá nhân cũng đáp ứng cácđiều kiện nêu trên
Hộ gia đình
Việc quy định hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh là một đặc điểmriêng của pháp luật Việt Nam Quy định này đồng nghĩa với việc thừa nhận hộ giađình là một chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế Cơ sở của quy định này bắt nguồn
từ việc công nhận hộ gia đình là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự theo Bộluật dân sự 1999, Bộ luật dân sự 2005 Pháp luật công nhận quyền thành lập hộ kinhdoanh cho hộ gia đình một cách đương nhiên mà không phải tuân thủ các điều kiện
nào, ngoài trừ hạn chế “…hộ gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc” Tuy nhiên, cơ sở xác định là
hộ gia đình vẫn còn chưa rõ ràng Điều 106 Bộ luật dân sự 2005 đưa ra khái nhiệm
về hộ gia đình: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lậm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thủ tham
Trang 25gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” Theo đó, hộ gia đình theo Bộ luật dân
sự được xác định dựa trên căn cứ là tập hợp các thành viên có tài sản chung, đónggóp công sức chung để hoạt động kinh doanh Vậy yếu tố gia đình như quan hệ nuôidưỡng, quan hệ huyết thông, quan hệ hôn nhân có bắt buộc cấu thành hộ gia đìnhkhông Việc công nhận quyền thành lập hộ kinh doanh cho gia đình nhưng khôngxác định rõ các yếu tố, đặc điểm pháp lý của hộ gia đình sẽ phát sinh nhiều vướngmắc trong thực thi pháp luật
Cá nhân, hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký
hộ kinh doanh trừ trường hợp: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương” (Khoảng 2 Điều 66)
b) Đăng ký hộ kinh doanh
Nguyên tắc áp dụng trong đăng ký hộ kinh doanh
Việc đăng ký hộ kinh doanh phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau: (i) hộ kinhdoanh, người thành lập hộ kinh doanh tự khai khai hồ sơ và tự chịu trách nhiệm vềtính trung thực, tính hợp pháp của các thông tin trong hồ sơ; (ii) cơ quan đăng kýkinh doanh cấp huyện chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinhdoanh, không chịu trách nhiệm về các vi phạm pháp luật của hộ kinh doanh, ngườithành lập hộ kinh doanh; (iii) cơ quan đăng ký kinh doanh không giải quyết tranhchấp giữa các cá nhân trong hộ kinh doanh hoặc với các tổ chức, cá nhân khác Cácnguyên tắc trên tương đồng với các nguyên tắc khi giải quyết các thủ tục thành lậpdoanh nghiệp Đây điểm mới của Nghị định 78/2015/NĐ-CP so với Nghị định số43/2010/NĐ-CP, tạo ra cơ chế bình đẳng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp
Thủ tục tiến hành đăng ký hộ kinh doanh
Bước 1 Chuẩn bị hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh: Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanhgồm có Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh và chứng minh nhân thân của ngườithành lập hộ kinh doanh Đối với cá nhân, nhóm cá nhân thành lập hộ kinh doanhcần có chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực Đối với hộ gia đình cần có
Trang 26chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người đại diện hộ gia đình Giấy đề nghịđăng ký hộ kinh doanh được thực hiện theo mẫu biểu số….của Thông tư20/2015/TT-BKHĐT
Bước 2.Người thành lập hộ kinh doanh hoặc người được ủy quyền hợp phápnộp 01 bộ hồ sơ tại Phòng tài chính kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Bước 3 Tiếp nhận và kiêm tra hồ sơ: Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyệntiếp nhận hồ sơ trao giấy biên nhận và thẩm định hồ sơ trong 03 ngày làm việc kể từngày nhận hồ sơ
Bước 4 Nhận kết quả Hồ sơ đáp ứng đủ 03 điều kiện: (i) Ngành, nghề kinhdoanh không thuộc danh mục ngành nghề cấm kinh doanh; (ii) Tên hộ kinh doanhđăng ký phù hợp với quy định; (iii) Nộp đủ lệ phí theo quy định thì được cơ quanđăng ký kinh doanh cấp huyện cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh Trườnghợp không đầy đủ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện ra Thông báo yêu cầusửa đổi, bổ sung các nội dung cho người thành lập hộ kinh doanh
c) Hình thức tổ chức hộ kinh doanh
Pháp luật doanh nghiệp hiện nay không có quy định về hình thức tổ chức hộkinh doanh Điều này khác biệt hoàn toàn với các loại hình doanh nghiệp, khi màpháp luật điều chỉnh tương đối chặt chẽ vấn đề tổ chức, quản lý doanh nghiệp Đốivới hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập, việc quản trị hộ kinh doanh được thựcthi theo các nguyên tắc của Bộ luật dân sự Điều 107, 108, 109, 110 của Bộ luật dân
sự trao quyền rất lớn cho chủ hộ gia đình, theo đó chủ hộ là người đại diện cho cả
hộ gia đình thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ, giao dịch dân sự
do chủ hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền,nghĩa vụ của cả hộ gia đình
Nếu như hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập thì đương nhiên pháp luậtkhông cần điều chỉnh vấn đề tổ chức Tuy nhiên, đối với trường hợp hộ kinh doanhđược thành lập bởi một nhóm cá nhân thì buộc phải có các quy tắc điều chỉnh mốiquan hệ giữa các cá nhân này Tuy nhiên, Nghị định 43/2010/NĐ-CP, Nghị định78/2015/NĐ-CP đều bỏ ngỏ vấn đề này Pháp luật hiện nay chỉ quan tâm tới ngườiđại diện cho nhóm cá nhân không cần biết biết đến từng cá nhân, cũng như các thỏa
Trang 27thuận giữa họ với nhau về địa vị, tư cách quản lý, quyền lợi, trách nhiệm khi phátsinh nghĩa vụ của hộ kinh doanh Chế độ quản trị như vậy không đảm bảo đượcquyền bình đẳng, quyền lợi giữa các cá nhân thành lập hộ kinh doanh
2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ
Nghị đinh 27/HĐBT, Nghị định 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trường là các vănbản pháp luật đầu tiên ghi nhận các quyền, nghĩa vụ cơ bản của hộ kinh doanh.Nghị định 27/HĐBT ghi nhận các quyền và nghĩa vụ chung của hộ kinh doanh baogồm quyền thành và tổ chức sản xuất kinh doanh; quyền được công nhận sự tồn tại,được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu, thừa kế và các quyền và nghĩa vụ của hộ kinhdoanh trên các lĩnh vực cụ thể về vật tư, tiêu thụ sản phẩm, về xuất nhập khẩu, vềtài chính tín dụng, về chính sách khoa học kỹ thuật, về chính sách lao động xã hội Điều 16, Điều 17 Nghị định 66/HĐBT quy định về quyền và nghĩa vụ của hộkinh doanh như sau:
- Điều 16: Người kinh doanh có quyền:
+ Lựa chọn ngành, nghề, mặt hàng, hình thức kinh doanh phù hợp với khảnăng và điều kiện kinh doanh theo pháp luật;
+ Được Nhà nước bảo hộ hoạt động kinh doanh hợp pháp
+ Sử dụng phần thu nhập hợp pháp từ hoạt động kinh doanh
- Điều 17: Người kinh doanh có nghĩa vụ
+ Phải xin phép kinh doanh và khai báo đúng sự thật theo quy định của Nghịđịnh này
+ Kinh doanh theo đúng nội dung được phép
+ Niêm yết bản chính giấy phép kind doanh tại nơi kinh doanh; không đượccho thuê, cho mượn, mua bán, tự sửa chữa giấy phép kinh doanh
+ Ghi chép sổ sách, kế toán và sử dubnjg chứng từ hóa đơn mua, bán hàng hóahoặc dịch vụ theo quy định của Nhà nước
+ Đăng ký và nộp thuế theo đúng các Luật thuế hiện hành
Trang 28+ Tuân thủ các quy định của Nhà nước về thuê mướn sử dụng lao động, vềđảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, đăng ký, vệ sinh, phòng dịch bảo vệ môitrường, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và trật tự an toàn xã hội
Theo thời gian, các văn bản pháp luật về doanh nghiệp hoàn thiện hơn Mặc dùquyền và nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp được quy định đầy đủ chi tiếttrong Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướngdẫn Tuy nhiên đến nay chưa có một văn bản nào quy định đầy đủ, cụ thể về quyền,nghĩa vụ của hộ kinh doanh Việc xác định quyền và nghiã vụ của hộ kinh doanhhiện nay dựa trên một số văn bản pháp lý quan trọng sau:
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận các quyền cơ bản của hộ kinh doanh: Điều 33
về Quyền tự do kinh doanh “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm”; Điều 51 về Quyền bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế “các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nênkinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác vàcạnh tranh theo luật, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanhnghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vữngcác ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổchức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữuhóa” Điều 32: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp phá, của cải đểdành, nhà ở, tư liệu, sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệphoặc trong các tổ chức kinh tế khác; 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kếđược pháp luật bảo hộ”
Tổng hợp các văn bản pháp luật có liên quan, hộ kinh doanh hiện nay có cácquyền và nghĩa vụ cơ bản như sau:
+ Quyền tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành nghề mà pháp luậtkhông cấm, quyền thành lập hộ kinh doanh, lựa chọn địa bàn, hình thức kinhdoanh;
+ Được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi, tham giasản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích;
+ Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của hộ kinh doanh
Trang 29+ Quyền tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo nhu cầu kinh doanh
+ Quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng, trực tiếp giao dịch, ký kếthợp đồng với khách hàng để thu mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, phục vụ chonhu cầu sản của hộ kinh doanh;
+ Quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vàongành nghề đăng ký kinh doanh (Điều 3 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chínhphủ ngày 23/01/2006 về quy định chi tiết thi hành Luật thương mại)
+Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng choquyền sử dụng đất, thế chếp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Luật đấtđai)
+ Quyền chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệuquả kinh doanh và khả năng cạnh tranh
+ Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định+ Lựa chọn hình thức và cách thức vay vốn
Các nghĩa vụ của hộ kinh doanh gồm:
+ Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứngnhận đăng ký hộ kinh doanh, đối với những ngành, nghề phải có chứng chỉ hànhnghề hoặc phải có vốn pháp định thì phải đảm bảo các điều kiện kinh doanh theođúng quy định của pháp luật
+ Đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thựchiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
+ Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ do hộ kinhdoanh sản xuất ra theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố
+ Tuân thủ các quy định về quốc phòng, anh ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo
vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnhNgoài các quyền và nghĩa vụ trên, khi hộ kinh doanh tham giao vào các giaodịch kinh tế thì hộ kinh doanh có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch kinh
Trang 30tế với các chủ thể khác theo hợp đồng, hoặc các quyền và nghĩa vụ phát sinh từquan hệ quản lý hành chính Nhà nước: nộp thuế, đăng ký thay đổi kinh doanh
2.1.3 Quy định về trách nhiệm trả nợ của hộ kinh doanh
Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa hộ kinh doanh: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ,
chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Quy
định này đã nêu và giải quyết trách nhiệm trả nợ đối với hộ kinh doanh Theo quyđịnh này, hộ kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh thì phải chịu trách nhiệmbằng chính tài sản của mình Nhà làm luật sử dụng đại từ “mình” để chỉ rõ chủ thểchịu trách nhiệm, đại từ mình thay thế cho từ hộ kinh doanh Với cách hiểu như vậythì trách nhiệm trả nợ của hộ kinh doanh không khác gì với các loại hình doanhnghiệp, bởi vì bất kỳ thương nhân nào khi đã thực hiện hoạt động kinh doanh thìđương nhiên phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của họ Cụ thể hơn, dù làCông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp
tư nhân đều phải bỏ toàn bộ tài sản của mình ra để trả nợ Quy định như vậy không
có cơ sở để phân định trách nhiệm của hộ kinh doanh với chủ hộ kinh doanh, nhóm
cá nhân thành lập hộ kinh doanh hoặc hộ gia đình Về bản chất pháp lý, chủ hộ kinhdoanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh Nhưvậy, nếu hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập thì cá nhân đó phải chịu tráchnhiệm bằng tất cả các tài sản của mình Nếu hộ kinh doanh do một nhóm cá nhânthành lập thì mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của hộ kinhdoanh Nếu hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ trách nhiệm trả nợ được xác định
theo Điều 110 Bộ luật dân sự 2005: “Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình
1.Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình 2.Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của họ, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình” Như vậy, hộ kinh doanh do hộ
gia đình làm chủ phải trả nợ bằng tài sản chung của hộ gia đình Tài sản chung của
Trang 31hộ gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản
do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tăng cho chung, đượcthừa kế chung hoặc các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung.Nếu các tài sản trên không đủ để trả nợ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liênđới bằng tài sản riêng của mình Nói cách khác, khi tài sản chung của hộ không đủ
để trả nợ, thì tất cả các thành viên đều cùng phải trả nợ, bên có quyền có thể yêu cầubất kỳ thành viên nào phải trả toàn bộ số nợ của hộ kinh doanh
2.1.4 Quy định về tạm ngừng, chấm dứt, chuyển đổi
a) Quy định về tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh có quyền tạm ngừng hoạt động kinh doanh theo nhu cầu, điềukiện của chính mình hoặc bị tạm ngừng hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của cơquan đăng ký kinh doanh Khi hộ kinh doanh ngành nghề có điều kiện nhưng khôngđáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì cơ quan đăng ký kinh doanhcấp huyện ra thông báo yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh, ngành, nghềkinh doanh có điều kiện (Điều 74 Nghị định 78/2015/NĐ-CP)
Khi tạm ngừng kinh doanh từ 30 ngày trở lên, hộ kinh doanh phải thông báovới cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký kinh doanh và cơ quanthuế trực tiếp quản lý ít nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh (Điều 76Nghị định 78/2016/NĐ-CP) Thủ tục này tương tự như thủ tục tạm ngưng hoạt độngcủa doanh nghiệp Hộ kinh doanh phải gửi thông báo bằng văn bản cho cơ quanđăng ký kinh doanh ít nhất 15 ngày trước khi tạm ngưng Cơ quan đăng ký kinhdoanh tiếp nhận hồ sơ và xử lý hồ sơ trong vòng 03 ngày làm việc Nếu hồ sơ hợp
lệ, hộ kinh doanh được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp Giấy xác nhận
về việc hộ kinh doanh đăng ký tạm ngừng kinh doanh cho hộ kinh doanh
b) Quy định về chấm dứt hoạt động của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:
(i) Khi cá nhân thành lập hộ kinh doanh chết: Trường hợp hộ kinh doanh domột cá nhân thành lập thì thì cá nhân đó chết đương nhiên hộ kinh doanh chấm dứttồn tại Tuy nhiên, nếu hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập thì nếu một cá
Trang 32nhân chết thì hộ kinh doanh chưa thể chấm dứt tồn tại vì còn cá cá nhân khác cóquyền, nghĩa vụ thực hiện hoạt động kinh doanh Vấn đề này pháp luật còn bỏ ngỏ (ii) Chấm dứt theo ý chí của người thành lập hộ kinh doanh: Nếu cá nhân,nhóm cá nhân tạo lập hộ kinh doanh thỏa thuận chấm dứt hoạt động của hộ kinhdoanh thì việc chấm dứt phải tuân theo nguyên tắc đa số hay chỉ phụ thuộc và ý chícủa người đại diện, chủ hộ kinh doanh Vấn đề này pháp luật hiện nay cũng chưađiều chỉnh
(iii) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh Điều 78 Nghị định78/2015/NĐ-CP quy định sáu trường hợp hộ kinh doanh bị thu hồi Giấy chứng nhậnđăng ký hộ kinh doanh bao gồm:
a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo;
b) Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh
c) Ngừng hoạt động kinh doanh quá 06 tháng liên tục mà không thôngbáo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đăng ký;
Trang 33nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quyết định của Tòa
án còn hộ kinh doanh thì không
c) Quy định về chuyển đổi hộ kinh doanh
Khoản 2 Điều 212 Luật doanh nghiệp quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên 10 lao động trở lệ phải đăng ký thành lập doanh nghiệp và hoạt động theo quy định của luật này Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ” Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy
định đầy đủ, chi tiết việc chuyển đổi giữa các loại hình doanh nghiệp, tuy nhiênkhông quy định việc chuyển đổi hộ kinh doanh sang hình thức doanh nghiệp nhưthứ nào Bản chất hộ kinh doanh cũng là một chủ thể trong hoạt động thương mại và
có quyền bình đẳng với các thương nhân khác Khi quy mô không còn phù hợp, sửdụng nhiều hơn 10 lao động thì pháp luật bắt buộc hộ kinh doanh phải đăng kýthành lập doanh nghiệp nhưng không có quy định về chuyển đổi Vậy các quyền,nghĩa vụ pháp lý; các vấn đề kinh tế, thương hiệu, hệ thống khách hàng, nhân sự, uytín kinh doanh,… trước đó của hộ kinh doanh sẽ được xử lý và giải quyết như thếnào Pháp luật bỏ ngỏ vấn đề này Theo quy định hiện nay thì hộ kinh doanh muốnthành lập doanh nghiệp thì phải đăng ký, rõ ràng doanh nghiệp mới được thành lập
là chủ thể độc lập, không có ràng buộc pháp lý gì với hộ kinh doanh
2.2 Đánh giá pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Những kết quả đạt được
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và yêu cầu của hội nhậpquốc tế, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về hộ kinh doanh nói riêng ngàycàng hoàn thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của điêu kiện kinh tế, xã hội,góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của hàng triệu hộ kinh doanh tại Việt Nam.Một số kết quả mà pháp luật hộ kinh doanh đã đạt được bao gồm:
Thứ nhất, pháp luật hộ kinh doanh tạo khung pháp lý cơ bản điều chỉnh việcđăng ký, thành lập, quyền, nghĩa vụ, chấm dứt,…của hộ kinh doanh Từ Nghị đinh27/HĐBT ngày 09/3/1988 đến Nghị định số 78/2015/NĐ-CP là bước hoàn thiện lớn
về pháp luật điều chỉnh hộ kinh doanh Các quy định về hộ kinh doanh cụ thể, minh