1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của luật cán bộ công chức

8 873 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 76/SL quy định chế độ công chức, theo sắc lệnh này thì chỉ những: “công dâ

Trang 1

Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức.

Dàn ý

1 Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008

2.1 Luật cán bộ, công chức năm 2008, bước phát triển của pháp luật về Cán

bộ, công chức

2.2 Khái niệm cán bộ, công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 2.3 Những điểm mới của cán bộ công chức theo Luật cán bộ công chức năm

2008 so với Pháp lệnh cán bộ, công chức

3 Những điểm hợp lý và bất hợp lý của khái niệm cán bộ công chức năm 2008

Trang 2

BÀI LÀM

1 Khái quát hệ thống pháp luật Việt Nam về cán bộ, công chức.

Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một

cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Tuy nhiện một bộ máy không thể hoạt động được nếu thiếu con người- nhân tố quan trọng nhất, là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý để tác động lên

xã hội, hiện thực hóa các quy định của pháp luật thành hoạt động thực tiễn trong cuộc sống Những con người đó làm việc cho Nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách Nhà Nước, thực hiện các hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước Tùy từng giai đoạn, hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau mà nhà làm luật sử dụng các thuật ngữ pháp lý khác nhau để chỉ lớp người này Nhưng tựu chung lại đó là những cán bộ, công chức Nhà nước

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 76/SL quy định chế độ công

chức, theo sắc lệnh này thì chỉ những: “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyển bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ” mới được coi là công chức Năm 1991, đáp ứng những yêu cầu mới về sự

thay đổi hoàn cảnh kinh tế xã hội, ngày 25/5/1991 Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức Nhà nước, theo Nghị định này thì

công chức Nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung Ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp Theo pháp lệnh công chức năm 1997, sửa

đổi bổ xung năm 2000, năm 2003 thì phạm vi của cán bộ công chức được mở

Trang 3

rộng hơn, trong đó bao gồm cả cán bộ, công chức cấp xã, phường thị trấn, pháp lệnh đã liệt kê các đối tượng là cán bộ công chức

Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật về cán bộ công chức có được hình thành rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam, tuy nhiên cho từ nhưng sắc lệnh đầu tiên cho đến pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 thì một khái niệm cụ thể, rõ ràng về cán bộ, công chức là gì vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý cán bộ, công chức cũng như hiệu quả của

bộ máy Nhà nước nói chung

Luật cán bộ công chức năm 2008 ra đời được Quốc hội thông qua vào kỳ họp….chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2010 là một bước tiến mới trong lịch sử lập pháp những quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Lần đầu tiên có một văn bản luật rõ ràng qui định đầy đủ chi tiết các khoản các nội dung quan trọng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc một lớp người làm việc trong hệ thống cơ quan Nhà nước Luật cán bộ, công chức có nhiều điểm tiến

bộ so với các văn bản trước đây, đó là những thay đổi phù hợp với yêu cầu mới của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

2 Khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 và

những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo pháp lệnh cán

bộ, công chức năm 1998.

2.1 Khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008.

Lần đầu tiên, luật cán bộ, công chức năm 2008 đã đưa ra khái niệm đầy đủ

về cán bộ, công chức Đó là những ai, được hình thành từ những con đường như thế nào, họ làm việc ở đâu và được hưởng những quyền lợi gì?, có sự khác biệt

gì giữa cán bộ, công chức so với những người lao động ngoài xã hội

Trang 4

Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định như sau: “Điều 4 Cán

bộ, công chức

1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức

vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải

là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị –

xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

3 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Dựa trên quy định trên, khái niệm cán bộ, công chức được nhận thức dựa trên một số khía cạnh sau:

Trang 5

Trước hết có sự phân biệt rõ ràng thế nào là cán bộ, thế nào là công chức, sự

độc lập tương đối giữa cán bộ và công chức.

Dưới sự cách nhìn nhận của xã hội nói chung thì cán bộ và công chức đều là những cá nhân làm việc trong các cơ quan Nhà nước, được giao một nhiệm vụ cụ thể nào đó nhằm phục vụ lợi ích cho đời sống xã hội nói chung, họ không phải là nhưng người nông dân hay những cá nhân làm kinh tế lao động phục vụ cho cuộc sống của bản thân họ, cán bộ, công chức ở đây dưới cái nhìn của xã hội là những người làm việc cho Nhà nước, được hưởng lương, hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước và mang quyền lực Nhà nước trong hoạt động của mình Và không có

sự phân biệt cán bộ là gì, công chức là gì, theo từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ được

hiểu là người phụ trách một công tác của chính quyền hay đoàn thể (cán: đảm đang công việc, bô: chỗ làm việc công).

Từ góc độ pháp lý mà ở đây là quy định của luật cán bộ, công chức năm 2008

đó là tổng thể những quy định của pháp luật hiện hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức; quyền và nghĩa vụ của cán bộ công chức, cũng như tổng hợp các quy chế pháp lý nhằm quản lý đội ngũ những người làm việc cho Nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nên cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ, công chức Sự khác nhau giữa hao đối tượng này được thể hiện qua một số điểm sau:

- Trước hết về cách thức để trở thành cán bộ, công chức có sự khác nhau: Nếu Như một công dân Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định thì có thể trở thành cán bộ thông qua nhiều cách thức khác nhau như bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, nói đến cán bộ thì luôn gắn liền với các chức vụ, chức danh lãnh đạo nào

đó Trong khi đó, công dân Việt Nam để trở thành công chức chỉ thông qua hai con đường hoặc là bổ nhiệm hoặc là tuyển dụng Như vậy có thể thấy rằng, con đường hình thành cán bộ rộng hơn nhiều cách hơn so với con đường hình thành công chức, trong đó cán bộ có thể được hình thành bằng con đường bầu cử còn công

Trang 6

- Thứ hai, có thể thấy rằng, giữa cán bộ và công chức có sự khác nhau về nơi làm việc Phạm vi nơi làm việc của cán bộ chỉ có thể là cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức Chính trị- xã hội, ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện Có nghĩa là ngoài các cơ quan trên thì không có cán bộ làm việc trong các đơn vi quân đội nhân dân, công an nhân dân Trong khi đó, những người ở các

cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng thì là những công chức Nhà nước…cũng tương tự như vậy đối với các cơ quan đơn vị công an nhân dân

Bên cạnh sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức thì cả hai đối tượng này đều là những người trong biên chế Nhà nước và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, luật cán bộ, công chức 2008 đã đưa ra những dấu hiệu khái quát nhất để giải đáp câu hỏi cán bộ là gì, công chức là gì? thông qua việc chỉ ra cách thức hình thành, nơi làm việc và chế độ hưởng lương và quản lý đối tượng này, từ những dấu hiệu đó vừa giúp phân biệt giữa cán bộ với công chức, đồng thời cũng phân biệt với nhóm người mà không phải là cán bộ công chức, những người lao động ngoài xã hội, hay những cá nhân làm cho các dơn vị sự nghiệp Nhà nước, cũng được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nhưng không phải là cán bộ công chức Nhà nước

Pháp lệnh cán bộ, công chức đã đưa ra khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã

Xã, phường, thị trấn là cấp chính quyền cơ sở gần với dân nhất, những người làm việc trong bộ máy này là người trực tiếp lắng nghe, tiếp xúc các tâm tư nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp điều hành các hoạt động quản lí kinh tế, văn hóa, giáo dục trong địa phương mình Theo luật cán bộ công chức, có sự phân biệt giữa cán

bộ, công chức nói chung với cán bộ, công chức xã, có lẽ là do xuất phát từ đặc thù của chế độ làm việc tại cấp xã Theo đó, thì cán bộ, công chức cấp xã bao gồm những người được bầu cử giữ chức vụ trong Thường trực Hội động nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu Tổ chức chính trị- xã

Trang 7

hội và người nào đó được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc

Ủy ban nhân dân Những người này đều ở trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

2.2 Những điểm mới của khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 so với Pháp lệnh cán bộ, công chức.

Từ những phân tích trên, và so sánh với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi, bổ xung năm 2000 và năm 2003 thì khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức có một số điểm mới sau:

Thứ nhất, Luật cán bộ, công chức đã đưa ra một khái niệm khái quát nhất để trả lời cho câu hỏi, cán bộ, công chức là ai? Nếu như tại điều 1 pháp lệnh

cán bộ, công chức quy định: “Cán bộ, công chức là công dân VIệt Nam, trong biên chế bao gồm:… 2.Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 ĐIều này được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

và nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.”Có thể thấy rằng cách quy

định theo Pháp lệnh CBCC theo hướng liệt kê những ai là cán bộ, những ai là công chức, và hệ quả việc đó là việc cán bộ, công chức được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước…Khác hẳn với Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì có một khái niệm khái quát nhất về cán bộ, công chức với những dấu hiệu đặc trưng nhất về cách thức hình thành, nơi làm việc và chế độ hưởng lương

Thứ hai, Luật cán bộ, công chức 2008 đã phân biệt khái niệm cán bộ và

công chức Nếu như Pháp lệnh chỉ liệt kê các đối tượng là cán bộ, là công chức mà

không có sự phân biệt cụ thể giữa cán bộ và công chức Dường như với cách quy định như vậy, mà trong một một thời gian dài người ta đồng nhất cán bộ và công chức là một, hay nói đến cán bộ và công chức mà là một nhóm người giống nhau Với cách quy định rõ ràng: Cán bộ là…., công chức là…thì đã có một cơ sở pháp

Trang 8

lý rõ ràng cho việc phân biệt cán bộ và công chức theo cách thức hình thành như

đã phân tích ở trên

Thứ ba, Luật cán bộ, công chức đã đưa ra khái niệm cán bộ, công chức cấp

xã.

Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức thì có thể hiểu rằng, cán bộ công chức cấp xã

là những người được nói đến tại điểm g, h, vậy cán bộ công chức cấp xã là một bộ phận, một nhóm trong cán bộ, công chức nói chung Còn nếu theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì có thể dẫn đến cách hiểu là cán bộ công chức cấp xã là một nhóm đặc biệt đứng bên cạnh cán bộ, công chức nói chung, buộc phải có những quy định riêng về đối tượng này

3.Nhận xét về tính hợp lý trong việc thay đổi cách thức quy định khái niệm cán

bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008

Có thể nhận thấy rằng, mặc dù có sự thay đổi trong cách thức quy định khái niệm cán bộ, công chức là gì? nhưng về nội dung của nó là cơ bản không có sự thay đổi Việc thay đổi như vậy thể hiện sự hoàn thiện, phát triển kỹ thuật lập pháp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của biến đổi của đời sống kinh tế xã hội Bên cạnh đó, từ sự thay đổi khái niệm cơ bản đầu tiên về thế nào là cán bộ, công chức, luật cán bộ công chức năm 2008 làm cơ sở tiền đề cho những thay đổi những chế định tiếp theo trong luật Ví dụ như do có sự phân biệt giữa cán bộ với công chức nên tất yếu sẽ cần phải có các chế định với nội dung khác nhau để điều chỉnh hai đối tượng này

đó là tại Chương III của Luật quy định các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ, bầu cử Cán bộ ơ trung ương, câp tỉnh và cấp huyện khác với các quy định tại Chương IV về Công chức ở trung ương, cấp tỉnh và cấp xã Đồng thời do có sự phân biệt, cán bộ công chức nói chung với cán bộ, công chức cấp xã nên Luật 2008

đã đưa ra những chế định riêng để điều chỉnh đối tượng này Đây là những điểm hợp lý, cần thiết thể hiện sự hoàn thiện so với Pháp lệnh nếu như theo Pháp lệnh thì tất cả các quy chế liên quan đến cán bộ, công chức được điều chỉnh giống nhau

Ngày đăng: 29/05/2016, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w