1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoa luan tốt nghiệp quy định về thị trường liên quan

92 1,2K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 522,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thị trường liên quan, cạnh tranh

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH 6

1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh……….6

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 6

1.1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh 7

1.1.2.các hình thức cạnh tranh……… 9

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết cạnh tranh bằng chính sách cạnh tranh 13

1.3.1.1 Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh 13

1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH 14

1.2.1.Khái quát về pháp luật cạnh tranh……… 14

1.2.2 Khái quát về pháp luật chống hạn chế cạnh tranh .16

1.2.2.1 Sự cần thiết của việc ban hành pháp luật chống hạn chế cạnh tranh 17

1.2.2.2 Các đặc trưng cơ bản của pháp luật cạnh tranh 17

1.3 VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH 18

1.3.1 Khái quát về thị trường liên quan……….18

1.3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thị trường liên quan 18

1.3.1.2 Phân loại thị trường liên quan 20

1.3.2 Khái quát về vấn đề xác định thị trường liên quan……….22

1.3.2.1 Cơ sở xác định thị trường liên quan 22

1.3.2.2 Phương pháp xác định thị trường liên quan 23

1.3.2.3 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan 30

Chương 2: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA 31

Trang 2

2.1 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN

CỦA VIỆT NAM 31

2.1.1 Quy định về xác định thị trường liên quan trong pháp luật của Việt Nam31 2.1.1.1 Những quy định chung về thị trường liên quan 31

2.1.1.2 Quy trình chung để xác định thị trường liên quan 34

2.1.1.3 Yếu tố thời gian trong việc xác định thị trường liên quan 37

2.2 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 40

2.2.1 Quy định về xác định thị trường liên quan trong pháp luật của các Liên minh Châu Âu 40

2.2.1.1 Những quy định chung về thị trường liên quan 40

2.2.1.3 Các yếu tố cơ bản về việc xác định thị trường liên quan 43

2.2.1.4 Quy trình chung để xác định thị trường liên quan 44

2.2.1.5 Chứng cứ để xác định thị trường liên quan 45

2.2.1.6 Yếu tố thời gian trong việc xác định thị trường liên quan 47

2.2.2 Thực tiễn xác định thị trường liên quan của các châu Âu 47

2.2.2.1 Thực tiễn áp dụng quy định về vấn đề thị trường liên quan của các nước châu Âu 47

a Vụ United Brands Co và United Brands Continental BV v EC số 27/76 .47

b Vụ NV Nederlandsche Banden – Industrie Michelin v EC số 322/81 .55

2.2.3 Nhận xét việc xác định thị trường liên quan tại Liên minh Châu Âu 60

2.3 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA TRUNG QUỐC 62

2.3.1.Khái quát hệ thống pháp luật cạnh tranh của Trung Quốc và vấn đề thị trường liên quan 62

2 3.2 Nội dung các quy định về vấn đề thị trường liên quan của Trung Quốc 63

2.3.2.1 Định nghĩa thị trường liên quan 63

2.3.2.2 Cơ sở để xác định thị trường liên quan 64

2.3.2.3 Phương pháp xác định thị trường liên quan 65

2.3.2.4 Các yếu tố để xác định thị trường liên quan 67

Trang 3

2.3.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh và xác định thị trường liên quan tạiTrung Quốc 682.3.4 Đánh giá các quy định về xác định thị trường liên quan tại Trung Quốc 69CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ MỘT SỐKIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA VIỆTNAM 703.1 Một số điểm bất cập về vấn đề xác định thị trường liên quan tại Việt Nam 703.1.1 Những điểm bất cập liên quan đến nội dung các quy định của pháp luật vềviệc xác định thị trường liên quan 703.1.2 Những hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về thịtrường liên quan 743.2 Kinh nghiệm của các nước về vấn đề xác định thị trường liên quan và bài họcđối với Việt Nam 763.2.1 Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu về vấn đề xác định thị trường liênquan và bài học đối với Việt Nam 763.2.2 Kinh nghiệm xác định thị trường liên quan của Trung Quốc và bài học rút

ra cho Việt Nam 803.3 Một số kiến nghị về việc xác định thị trường liên quan tại Việt Nam 813.3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác định thị trường liênquan 813.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về việc xác định thị trườngliên quan 85

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về việc xác định thị trường liên quan, cầnthực hiện một số giải pháp sau đây: 85KẾT LUẬN 90DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam hay pháp luật cạnh tranh của bất kỳ quốc gianào trên thế giới đều hướng đến mục tiêu: đảm bảo một quá trình cạnh tranh hiệuquả, tăng cường phúc lợi cho xã hội, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng và tối đahóa hiệu quả sản xuất kinh doanh, phân bổ các nguồn lực xã hội Pháp luật cạnhtranh chính là công cụ để bao vệ và đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và ngườitiêu dùng Để thực hiện được mục tiêu trên, một trong những nội dung không thểthiếu đó là việc điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh cạnh, kiểm soát hành vi lạmdung vị trí trí thống lĩnh/độc quyền thị trường

Để điều tra các vụ việc cạnh tranh, xác định có hay không việc thống lĩnh hayđộc quyền của doanh nghiệp trong nền kinh tế, từ đó đưa ra những biện pháp kiểmsoát và áp dụng các chế tài xủ lý đối với các hành vi vi phạm, thì một trong nhữngbước đầu tiên, quan trọng nhất đối với các cơ quan quản lý cạnh tranh là việc xácđịnh thị trường liên quan quan Việc xác định thị trường liên quan giúp đánh giáđược sức mạnh mà doanh nghiệp có được, các đối thủ cạnh tranh và tác động củahành vi do doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thực hiện

Mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy, tuy nhiên hiện nay khuôn khổ pháp lý đểđiều chỉnh vấn đề xác định thị trường liên quan vẫn còn thiếu và xuất hiện nhiều bấtcập trong thực tiễn áp dụng Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam ra đời muộn hơnpháp luật cạnh tranh của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới nên việc kế thừa học hỏi

để hoàn thiện các các quy định của pháp luật cạnh tranh là rất cần thiết Việc nghiêncứu các quy định về xác định thị trường liên quan từ những quốc gia có bề dày kinhnghiệp trong việc xây dựng pháp luật cạnh tranh sẽ góp phần hoàn thiện và thực thi

có hiệu quả các quy định về cạnh tranh Chính vì vậy, người viết lựa chọn đề tài:

“Vấn đề thị trường liên quan: kinh nghiệm của một số nước và bài học

cho Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lí luận về xác định thị trường liên quan trong pháp luật cạnh tranh, tìm hiểu , phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng các quy

Trang 5

định về xác định thị trường liên quan của một số quốc gia bao gồm Liên minh Châu

Âu, Trung Quốc, khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thị trường liên quan của Việt Nam cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật vềvấn đề này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định về việc xác định thị trường liên quan theo pháp luật cạnh tranh

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định về thị trường liên quan theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, Liên minh Châu Âu, và Trung Quốc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nêu rõ khái niệm, phân loại thị trường liên quan, và các vấn đề lý luận về

việc xác định thị trường liên quan theo pháp luật chống hạn chế cạnh tranh

- Phân tích nội dung các quy định về xác định thị trường liên quan và thực tiễn

áp dụng các quy định về xác định thị trường liên quan của Việt Nam

- Phân tích nội dung các quy định về xác định thị trường liên quan theo pháp

luật của Liên minh Châu Âu và kinh nghiệm xác định thị trường liên quan trong một số vụ việc của Ủy ban Châu Âu

- Phân tích nội dung các quy định về xác định thị trường liên quan theo pháp

luật cạnh tranh Trung Quốc từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác

định thị trường liên quan của Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

-5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Phương pháp nghiên cứu của khóa luận bao gồm:Phương pháp thu thập, tổng hợp; Phương pháp diễn giải, quy nạp; Phương pháp đốichiếu, so sánh,

Trang 6

6 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Khái quát về cạnh tranh, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và vấn đề thịtrường liên quan

Chương 2: Quy định và thực tiễn xác định thị trường liên quan của Việt Nam và một

số quốc gia

Chương 3: Bài học kinh nghiệm của một số nước và một số kiến nghị đối với việc xác định thị trường liên quan của Việt Nam

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH

TRANH VÀ VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “cạnh tranh” cụ thể

như sau:

Theo Từ điển tiếng Anh, cạnh tranh có thể được hiểu là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối về phía mình.” [1] Đây là cách hiểu phổ thông về cạnh tranh.

Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” [2]

Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại

trong nền kinh tế thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khácnhau tùy thuộc vào hướng tiếp cận của từng nhà nghiên cứu:

Theo Từ điển kinh doanh của Anh năm 1992 thì “cạnh tranh” được hiểu là

“sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.”

Trang 7

Tương tự như vậy, Từ điển Tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông, khái niệm

“cạnh tranh” cũng được giải thích theo nghĩa kinh tế đó là hoạt động ganh đua giữa

những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trongnền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất

Như vậy, từ các khái niệm đã nêu ở trên có thể thấy khái niệm “cạnh tranh” đã

được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên có thể hiểu trong khoa họckinh tế, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thịtrường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng Cạnhtranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng và những người mua hàng nhưngcạnh tranh giữa những người bán hàng là phổ biến

Dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu cũng chưa đưa ra được một

khái niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là mục tiêu điều chỉnhcủa pháp luật Hiện nay, có rất ít quốc gia đưa ra định nghĩa về cạnh tranh Sau đây,tác giả xin được nêu ra một vài khái niệm về cạnh tranh trong pháp luật của một sốquốc gia trên thế giới như sau:

“Cạnh tranh” được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường

hàng hóa, dịch vụ để quyết định các vấn đề kinh tế độc lập (Điều 3 Luật cạnh tranhcủa Thổ Nhĩ Kỳ)

“Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp

đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc nhữngđiều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh (Điều 4 Luật Thương mại lành mạnhcủa Đài Loan)

Một số quốc gia khác trên thế giới (bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc,Bungari, Nhật Bản… và cả Việt Nam) không đưa ra khái niệm cạnh tranh trongLuật cạnh tranh nhưng đã bao gồm các quy phạm nhằm tạo lập và duy trì môitrường kinh doanh bình đẳng, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanhdiễn ra trong khuôn khổ pháp luật quy định [3]

1.1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh

Cạnh tranh có một số đặc điểm cơ bản sau:

Trang 8

Thứ nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường

để giành giật khách hàng

Trên thị trường, giữa khách hàng và nhà cung cấp luôn luôn thể hiện nhu cầu vàlợi ích khác nhau Khách hàng mong muốn mua được sản phẩm phù hợp nhất vớigiá rẻ nhất, trong khi đó, nhà cung cấp mong muốn bán được sản phẩm càng nhanhcàng tốt để đầu tư phát triển thu được lợi nhuận Sự mâu thuẫn này là nguồn gốc tạo

ra sự cạnh tranh giữa các chủ thể trên thị trường để lôi kéo khách hàng về phíamình Để ganh đua với nhau, các chủ thể kinh doanh phải sử dụng các phương thức,thủ đoạn kinh doanh được gọi là các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp Kết quảcuộc cạnh tranh trên thị trường là người chiến thắng mở rộng được thị phần, tăng lợinhuận, kẻ thua cuộc bị đào thải Quá trình cạnh tranh buộc các chủ thể kinh doanhphải sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của mình

Thứ hai, chủ thể của cạnh tranh là các tổ chức, cá nhân kinh doanh có tư cách

pháp lý độc lập

Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có sự ganh đua của ít nhất hai chủ thể trở lên và làđối thủ của nhau Nếu không có đối thủ hay nói cách khác là tồn tại tình trạng độcquyền thì hoạt động cạnh tranh sẽ không thể được diễn ra

Thứ ba, quá trình cạnh tranh giữa các đối thủ diễn ra trên thị trường

Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để mở rộngthị trường Việc cạnh tranh thường chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp có chung lợiích như cùng tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào giống nhau hoặc cùng tìm kiếmthị trường để bán những sản phẩm tương tự nhau Điều này dẫn đến việc các doanhnghiệp này trở thành đối thủ của nhau Như vậy, sự ganh đua giữa các đối thủ đượcthể hiện rõ nét trên thị trường Đặc biệt, đối với nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh, đểxác định có hành vi đó hay không thì phải xác định chủ thể thực hiện hành vi đóhoạt động trên thị trường liên quan nào và những ai là đối thủ cạnh tranh của nó

Thứ tư, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của cơ chế thị

trường

Xuất phát từ bản chất của cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường,lôi kéo khách hàng về phía mình của các chủ thể kinh doanh nên cạnh tranh chỉ có

Trang 9

thể diễn ra trong cơ chế thị trường, nơi công dân có quyền tự do kinh doanh và tìmkiếm cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh Trong thời kỳ phong kiến hay trong nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung không thể tồn tại quyền tự do kinh doanh của cánhân, do đó cạnh tranh cũng không thể tồn tại với tính chất là sự ganh đua giữa cácđối thủ trên cùng một thị trường.

1.1.1 ác hình thức cạnh tranh

Nhằm phục vụ việc nghiên cứu, xây dựng chính sách cạnh tranh, các luật gia vàcác nhà kinh tế đã đưa ra nhiều cách phân loại cạnh tranh khác nhau:

Thứ nhất, căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào đời sống

kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiếtcủa nhà nước

Cạnh tranh tự do cùng với quan điểm bàn tay vô hình do nhà kinh tế học người

Anh- Adam Smith (1723- 1790) đưa ra.là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sựcan thiệp của nhà nước Lý thuyết về cạnh tranh tự do đưa ra mô hình cạnh tranh mà

ở đó các chủ thể kinh doanh tham gia cuộc ganh đua hoàn toàn chủ động, tự do ý chítrong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch kinh doanh của mình [4]Theo Adam Smith, sự phát triển kinh tế phải tuân thủ quy luật kinh tế khách quan tựphát và luôn có sự điều tiết của bàn tay vô hình vào hoạt động của thị trường AdamSmith cho rằng sự tự do bản thân nó đã sản sinh ra hệ thống điều tiết các quan hệ vàcác lợi ích thị trường Cạnh tranh tạo ra những quyền lực cần thiết để điều tiết vàphân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó nhà nước không cần can thiệp quá sâuvào hoạt động kinh tế

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế, xã hội cho thấy các quan hệ kinh doanh ngàycàng có sự đan xen của nhiều dạng lợi ích nên quan điểm về bàn tay vô hình trongviệc điều tiết cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khó được chấp nhận.Hiện nay trên thực tế, mô hình tự do cạnh tranh không còn là mô hình lý tưởng được

áp dụng

Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp

bằng các chính sách cạnh tranh của nhà nước để điều tiết, hướng các chính sáchcạnh tranh của nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và

Trang 10

phát triển theo trật tự nhất định, đảm bảo tạo lập và duy trì môi trường kinh doanhbình đẳng.

Bên cạnh ưu thế của cạnh tranh thì quá trình cạnh tranh cũng làm nảy sinhkhông ít các hành vi làm hạn chế cạnh tranh, dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh Do đó, cần

có một quyền lực đứng trên các chủ thể kinh doanh, sử dụng các công cụ và chínhsách hữu hiệu để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường và bảo vệ cạnhtranh Hiện nay, đa số các nước đã thừa nhận tính đúng đắn của mô hình cạnh tranh

có sự điều tiết của nhà nước Nhà nước phải xác định chính xác mức độ, công cụ vàphương pháp can thiệp của mình vào môi trường cạnh tranh để vừa bảo vệ cạnhtranh, vừa khắc phục khuyết tật của cạnh tranh đồng thời không thô bạo vào thịtrường, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể

Thứ hai, căn cứ vào đặc tính, cấu trúc của thị trường (bao gồm số lượng người

mua và bán, loại hàng hóa được sản xuất, bản chất của rào cản gia nhập thị trường),các nhà kinh tế học chia cạnh tranh thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnhtranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm

Cạnh tranh hoàn hảo (còn được gọi là cạnh tranh thuần túy) là hình thức cạnh

tranh diễn ra trên thị trường có những đặc tính như: Có sự tham gia của nhiều ngườibán và nhiều người mua trên thị trường, thị phần của người bán và khả năng tiêuthụ của người mua đều nhỏ đến mức không ai có đủ sức mạnh tác động tới giá cảsản phẩm; sản phẩm do những người bán cung ứng không có sự khác biệt dẫn đếncác sản phẩm trên thị trường được bán ở cùng một mức giá Giá cả sản phẩm trên thịtrường được hình thành khách quan thông qua quan hệ cung cầu và không chịu sựtác động của các chủ thể tham gia trên thị trường; các chủ thể kinh doanh tự do gianhập và rút khỏi thị trường Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có rào cảncủa việc gia nhập cũng như rời bỏ thị trường

Loại hình cạnh tranh này là thị trường lý tưởng cho cạnh tranh Thị trường cạnhtranh hoàn hảo mang tính lý thuyết do các nhà kinh tế đưa ra dựa trên những điềukiện giả định và không tồn tại trong thực tế, chỉ có một số hình thức cạnh tranh gầnnhư hoàn hảo trên thị trường rau tươi, sữa bò tươi…

Độc quyền tồn tại trên thị trường có những đặc trưng sau: Chỉ có chủ thể duy

nhất cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không có sản phẩm thay

Trang 11

thế cùng loại gần giống với nó Trên thị trường độc quyền chỉ có chủ thể kinh doanhduy nhất tồn tại mà không có đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp độc quyền có thểđộc quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua);doanh nghiệp độc quyền là người quyết định giá sản phẩm đối với loại mặt hàngnhất định Họ có thể nâng giá hoặc hạ giá sản phẩm để thu được lợi nhuận độcquyền lớn nhất; rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các doanh nghiệp khácrất khó khăn hoặc không thể tham gia thị trường được Có rất nhiều nguyên nhândẫn đến độc quyền như: độc quyền hình thành từ quá trình cạnh tranh (độc quyền tựnhiên); độc quyền hình thành từ yêu cầu của công nghệ sản xuất hoặc yêu cầu vềquy mô tối thiểu của ngành kinh tế kỹ thuật; độc quyền hình thành từ sự bảo hộ củanhà nước (bao gồm bảo hộ bằng các quyết định hành chính cho các doanh nghiệpcủa nhà nước và bảo hộ các đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp); độc quyền do sựtích tụ tập trung kinh tế Sự tồn tại của doanh nghiệp độc quyền tạo ra những ưuđiểm đồng thời cũng gây thiệt hại cho nền kinh tế.

Cạnh tranh không hoàn hảo diễn ra trong thị trường có sự khuyết đi của một

trong các yếu tố của cạnh tranh hoàn hảo Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến trênthị trường, ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế Mỗi thành viên của thị trường đều

có sức mạnh nhất định đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm theo những mức độnhất định Kinh tế học chia cạnh tranh hoàn hảo thành hai loại: cạnh tranh mang tínhđộc quyền và độc quyền nhóm

Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh tồn tại trên thị trường

có những đặc trưng như: có số lượng lớn người bán và người mua; các sản phẩmcủa người bán về cơ bản là giống nhau và có thể thay thế cho nhau song những sảnphẩm này có sự khác biệt về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác; trên thịtrường tồn tại một số mức giá do doanh nghiệp đưa ra bởi mỗi doanh nghiệp có sứcmạnh đối với sản phẩm của mình bằng sự dị biệt hóa về sản phẩm; không có rào cảntham gia thị trường Các doanh nghiệp tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường

Độc quyền nhóm là hình thức trung gian giữa cạnh tranh mang tính độc quyền

và độc quyền

Thứ ba, căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được

chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Trang 12

Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay

thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh Cạnh tranh lành mạnh là nhữnghoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quánthương mại và đạo đức kinh doanh truyền thống như: nâng cao chất lượng sảnphẩm, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng , đổi mới phương thức giao tiếp vớikhách hàng, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sảnxuất, chi phí lưu thông, đầu tư nghiên cứu và phát triển sản xuất kinh doanh…Về cơbản, cạnh tranh lành mạnh phải đảm bảo các tiêu chí như: có mục đích thu hútkhách hàng; tuân theo quy định của pháp luật; tôn trọng truyền thống, tập quán kinhdoanh, đạo đức kinh doanh; cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của doanh nghiệp

Cạnh tranh không lành mạnh là phương thức cạnh tranh các doanh nghiệp thực

hiện bởi những cách thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranhnhư: ấn định giá bất hợp lý với khách hàng; sắp đặt mức giá thấp hơn giá thị trường

để loại bỏ đối thủ quảng cáo; khuyến mại với mục đích lôi kéo khách hàng của đốithủ; liên kết với nhau để hạn chế cạnh tranh… cạnh tranh không lành mạnh có thểđược nhằm vào những đối thủ cụ thể hay nhằm vào lợi ích của trật tự kinh tế nên cóthể làm hạn chế khả năng cạnh tranh vốn có của các đối thủ cạnh tranh, hạn chếhoặc triệt tiêu cạnh tranh Điều đó cũng có nghĩa là cạnh tranh không lành mạnhtriệt tiêu động lực phát triển kinh tế, xâm hại lợi ích của cả cộng đồng và xã hội

Thứ tư, căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi cạnh tranh gây ra đối với môi

trường cạnh tranh, pháp luật của một số nước đã chia cạnh tranh thành hành vi hạnchế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hành vi hạn chế cạnh tranh hình thành từ những thủ đoạn lũng đoạn thị trường

của các tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XIX và luônhướng tới việc hình thành sức mạnh thị trường hoặc lạm dụng sức mạnh thị trườnglàm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo Thông thường hành vi hạnchế cạnh tranh gồm 4 dạng hành vi: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị tríthống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi của doanh nghiệp nhằm

mục đích cạnh tranh trái với chuẩn mực đạo đức, đi ngược với thông lệ thiện chí,trung thực trong kinh doanh Những hành vi này phát sinh trong hoạt động kinh

Trang 13

doanh của doanh nghiệp đã đẩy cạnh tranh lên quá mức bằng những thủ đoạn tháiquá gây thiệt hại cho đối thủ hoặc bộ phận người tiêu dùng [5]

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết cạnh tranh bằng chính sách cạnh tranh

1.3.1.1 Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh

Cạnh tranh tồn tại trong cơ chế thị trường như một quy luật khách quan Cạnhtranh có những vai trò quan trọng sau:

Thứ nhất, cạnh tranh là động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội Cạnh tranh

luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút càng nhiều khách hàng nên nó buộc các nhà sảnxuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải tạo ra những sản phẩm có chất lượngngày càng cao với giá thành ngày càng giảm Cạnh tranh luôn mang đến một kết quả

đó là các doanh nghiệp có tiềm lực và chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tiếp tụcvươn lên, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường; ngược lại, doanh nghiệp nàokhông đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ bị đào thải Qua quá trình này, cạnhtranh đã góp phần tạo sức mạnh cho sự phát triển của kinh tế- xã hội

Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, cải tiến

công nghệ nhằm kinh doanh có hiệu quả Trong kinh doanh, doanh nghiệp nào cósản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường với giá cả thấp hơn các sản phẩmcùng loại trên thị trường sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường và thu lợi nhuận.Điều này đã thúc đẩy các đối thủ cạnh tranh về sản phẩm cùng loại phải luôn quantâm đến việc cải tiến về hình thức và chất lượng sản phẩm bằng cách áp dụng côngnghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật Vì chỉ có khoa học, công nghệ mới có thể trợgiúp hữu hiệu sản xuất, kinh doanh giảm giá thành sản phẩm, tăng tính năng và chấtlượng sản phẩm Như vậy, có thể thấy cạnh tranh còn là nguồn gốc, động lực đểphát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao

Thứ ba, cạnh tranh dẫn đến giá thấp hơn cho người tiêu dùng và làm thỏa mãn

nhu cầu của người tiêu dùng Thông qua quy luật cung cầu, cạnh tranh có khả năngnhanh nhạy trong việc phát hiện và đáp ứng mọi nhu cầu và thị hiếu của người tiêudùng Cạnh tranh tác động liên tục đến giá cả sản phẩm trên thị trường, buộc cácdoanh nghiệp phải chọn phương án kinh doanh với chi phí nhỏ mà chất lượng tốt đểphù hợp với mong muốn của người tiêu dùng Người tiêu dùng là trung tâm của thịtrường và quyết định sự sống còn của sản phẩm

Trang 14

Thứ tư, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp cũng như các quốc gia phải sử dụng

các nguồn lực một cách tối ưu nhất Một nhà nước văn minh trong cơ chế thị trườnghiện đại phải là nhà nước có nhiệm vụ và chức năng phát hiện, thừa nhận, bảo vệ vàkhuyến khích những thuộc tính tốt của cạnh tranh Bên cạnh đó, mỗi quốc gia cũngcần phải có chính sách cạnh tranh để điều tiết hoạt động cạnh tranh trong kinhdoanh nhằm hạn chế những khuyết tật của cạnh tranh

1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH

1.2.1 Khái quát về pháp luật cạnh tranh

Thứ nhất , về khái niệm và nguồn của pháp luật cạnh tranh Pháp luật cạnh

tranh bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa các chủthể kinh doanh trên thương trường, đồng thời bao gồm cả các quy định đảm bảothực thi luật cạnh tranh trong thực tế Đó là các quy định về tổ chức và hoạt độngcủa cơ quan nhà nước thi hành luật cạnh tranh; trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cạnhtranh; các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh Còn ở các nước có nềnkinh tế thị trường và hệ thống pháp luật phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, nguồn củapháp luật cạnh tranh còn bao gồm cả thực tiễn xét xử của tòa án, các cơ quan cạnhtranh và các báo cáo, luận chứng trong quá trình xây dựng pháp luật, các lý thuyếttrong lĩnh vực cạnh tranh được công nhận rộng rãi

Để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đằng, việc ban hành phápluật luôn được xem là công cụ hữu hiệu của nhà nước để can thiệp, điều tiết cạnhtranh một cách có hiệu quả Trong các nguồn của pháp luật cạnh tranh, luật cạnhtranh được coi là nguồn cơ bản và đồng thời cũng là công cụ quan trọng nhất củachính sách cạnh tranh, là trung tâm trong cơ chế điều tiết cạnh tranh của một sốquốc gia Hiện nay, trên thế giới có khoảng 130 quốc gia đã ban hành luật cạnhtranh và một số quốc gia khác đang trong quá trình soạn thảo luật cạnh tranh [6] Ởnhiều nước, Luật cạnh tranh bao gồm đạo luật cạnh tranh, các phán quyết của tòa án

và các quy định dưới luật để hướng dẫn thi hành luật cạnh tranh nhằm hình thành cơchế ngăn chặn hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhìn chung, Luậtcạnh tranh chủ yếu điều chỉnh nhằm kiểm soát 4 loại hành vi gây hạn chế cạnh tranh

đó là: sáp nhập, mua lại doanh nghiệp gây hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống

Trang 15

lĩnh thị trường, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Ở một sốnước, Luật cạnh tranh còn bao gồm các quy định chống lại hành vi cạnh tranh đingược lại với đạo đức kinh doanh, trái với thông lệ trung thực, thiện chí (hành vicạnh tranh không lành mạnh).

Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh Pháp luật cạnh tranh điều chỉnh những quan

hệ sau: Quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinhdoanh trên thị trường; quan hệ giữa cơ quan thi hành luật cạnh tranh với các chủ thểkinh doanh khi họ thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh

Thứ ba, về đặc trưng của pháp luật cạnh tranh. Khác với các lĩnh vực pháp luật

về kinh tế khác, pháp luật cạnh tranh có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, pháp luật cạnh tranh chỉ quy định các hành vi bị ngăn cấm trong hoạt

động cạnh tranh chứ không hướng dẫn các chủ thể kinh doanh cần làm những gìhoặc phải làm gì trong quá trình cạnh tranh trên thị trường Như vậy, pháp luật cạnhtranh chỉ khoanh vùng những hành vi bị cấm trong hoạt động cạnh tranh chứ khônghướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện những hoạt động cạnh tranh cụ thể nào.Trong khi đó, các lĩnh vực pháp luật về kinh tế khác lại quy định cụ thể quyền vànghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh

Hai là, pháp luật cạnh tranh thường đặt ra các điều khoản mở và những quy

định miễn trừ cho phép cơ quan thi hành luật cạnh tranh có thể áp dụng pháp luậtmột cách linh hoạt Cạnh tranh là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thịtrường nên rất đa dạng, phong phú Có những hành vi ở thời điểm này được xácđịnh là gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng ở thời điểm,hoàn cảnh khác thì lại không xâm hại đến lợi ích công và không bị ngăn cản Do đó,đối với hành vi hạn chế cạnh tranh quy định trong luật được điều chỉnh theo hainguyên tắc, bên cạnh một số hành vi bị cấm theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiêncấm (per se rule), nhiều hành vi khác được xem xét theo nguyên tắc lập luận hợp lý(rule of reason) tức là chỉ bị cấm trong những điều kiện cụ thể quy định trong luậtcạnh tranh Theo đó, luật cạnh tranh của một số quốc gia đều liệt kê hành vi bị cấm

vô điều kiện như lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và chủ thể thực hiệnhành vi này không được hưởng miễn trừ Bên cạnh đó, luật cạnh tranh cũng đưa ra

Trang 16

các điều kiện để xác định những hành vi nào khi thực hiện sẽ gây giảm sức ép cạnhtranh cần bị cấm và một số trường hợp miễn trừ Mặt khác, pháp luật cạnh tranh ởcác nước theo hệ thống luật Anh- Mỹ hay hệ thống luật lục địa đều thừa nhận sự tồntại hệ thống tiền lệ pháp trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh.

Ba là, ngoài các quy định về nội dung điều chỉnh hành vi cạnh tranh, pháp luật

cạnh tranh còn có các quy định để đảm bảo thực thi luật cạnh tranh Đó là các quyđịnh điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh.Khác với các lĩnh vực pháp luật khác trong kinh doanh như pháp luật về doanhnghiệp, pháp luật thương mại, pháp luật đầu tư… pháp luật cạnh tranh ngoài cácquy phạm điều chỉnh quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp còn bao gồm nhiềuquy phạm quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc thực hiện các hành vihạn chế cạnh tranh bị cấm hay các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biệnpháp xử lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh [7]

Thứ tư, về mục tiêu Pháp luật cạnh tranh không phải loại pháp luật có mục tiêu

trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như toàn bộnền kinh tế của mỗi quốc gia mà nhằm ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranhtrái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh Qua đó, pháp luật cạnh tranh cómục tiêu là thực hiện việc duy trì năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp

1.2.2 Khái quát về pháp luật chống hạn chế cạnh tranh

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là một bộ phận của pháp luật cạnh tranh.Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh điều chỉnh các hành vi cản trở, bóp méo cạnhtranh trên thị trường Thông thường pháp luật chống hạn chế cạnh tranh bao gồmnhững điều khoản điều chỉnh thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền và hành vi tập trung kinh tế của cácdoanh nghiệp Bên cạnh đó, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh còn bao gồm nhữngquy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh Pháp luật chống hạn chế cạnhtranh ra đời khi nền kinh tế thị trường phát triển và đạt đến một mức độ tập trunghóa nhất định, sự tích tụ tư bản tăng lên hình thành những doanh nghiệp có vị tríthống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền lũng đoạn thị trường Tại nhiều quốc gia,pháp luật chống hạn chế cạnh tranh còn có tên gọi là pháp luật chống độc quyền

Trang 17

(Anti-trust law) Trên thế giới, Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên ban hànhđạo luật chống độc quyền với tên gọi là đạo luật Sherman (Sherman Anti-trust Act,

do nghị sĩ Sherman của bang Ohio xây dựng) Theo thống kê của Hội nghị Liên hợpquốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), tính đến năm 2003, đã có khoảng 100quốc gia ban hành luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh Điều này càng khẳngđịnh vai trò của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh trong việc bảo vệ cơ cấu thịtrường cũng như sự tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường

1.2.2.1 Sự cần thiết của việc ban hành pháp luật chống hạn chế cạnh tranh

Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động tiêu cực đến môi trườngcạnh tranh, làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, do đó nó có hại tới

sự phát triển của nền kinh tế và làm giảm phúc lợi xã hội Vấn đề đặt ra là dựa vàocăn cứ nào để xác định hành vi của doanh nghiệp gây hạn chế cạnh tranh Khi điềutra vụ việc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền phải dựavào yếu tố như: chủ thể thực hiện hành vi, biểu hiện của hành vi vi phạm, thị trườngnơi diễn ra hành vi hạn chế cạnh tranh và khi thực hiện những hành vi ấy trên thịtrường đó có ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh hay không… Tuy nhiên, nghiên cứu vềcác căn cứ chung để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, lý thuyết về cạnh tranhdưới giác độ kinh tế và luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới đều thể hiện haivấn đề quan trọng để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh đó là: vấn đề xác định thịtrường liên quan và vấn đề xác định sức mạnh thị trường

1.2.2.2 Các đặc trưng cơ bản của pháp luật cạnh tranh

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh điều chỉnh những hành vi hạn

chế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Các hành vi này không chỉ ảnhhưởng đến sự tư do cạnh tranh của một số doanh nghiệp trên thị trường mà còn tácđộng đến cơ cấu thị trường, bóp méo tính cạnh tranh trên toàn bộ thị trường mộthàng hóa hay dịch vụ nhất định Do mức độ nguy hại của những hành vi hạn chếcạnh tranh lớn hơn hẳn hành vi cạnh tranh không lành mạnh nên pháp luật chốnghạn chế cạnh tranh thường có cách thức xử lý nghiêm khắc và kịp thời bằng những

Trang 18

biện pháp hành chính kinh tế đặc thù như đình chỉ hành vi, tuyên bố thỏa thuận vôhiệu, tái cấu trúc công ty, phạt tiền,…

Thứ hai, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh điều chỉnh các hành vi hạn chế

cạnh tranh một cách mềm dẻo Nhằm thực thi có hiệu quả các quy định của phápluật chống hạn chế cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh của nhiều quốc gia trênthế giới phải dựa vào nhiều yếu tố như chủ thể thực hiện hành vi, biểu hiện của hành

vi vi phạm, phạm vi thị trường nơi diễn ra hành vi vi phạm, tác động của hành viđến cạnh tranh trên thị trường,…Tuy nhiên, theo lý thuyết cạnh tranh dưới giác độkinh tế và luật chống hạn chế cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới, căn cứchung để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm: xác định thị trường liênquan và xác định sức mạnh thị trường Trong hai căn cứ nêu trên, xác định thịtrường liên quan là căn cứ tiền đề cho việc xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, nóicách khác thị trường liên quan cung cấp thông tin để đánh giá sức mạnh thị trườngcủa chủ thể kinh doanh (vấn đề này sẽ được nghiên cứu ở những phần sau) Xácđịnh thị trường liên quan được nhiều quốc gia trên thế giới đánh giá là cốt lõi choviệc thực thi hiệu quả các quy định của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Cáchành vi chỉ bị điều chỉnh khi có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh và tác động hạn chếcạnh tranh được định lượng hoặc định tính ở một giới hạn nhất định Một số hành vihạn chế cạnh tranh còn có thể được miễn trừ nếu có những lý do kinh tế chính đáng[8]

1.3 VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH

1.3.1 Khái quát về thị trường liên quan

1.3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thị trường liên quan

Thứ nhất, về khái niệm “thị trường liên quan”.

Trước hết, để hiểu được khái niệm “thị trường liên quan” cần phải hiểu rõ khái niệm “thị trường” Đây là một khái niệm được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau:

Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hàng hoáhoặc dịch vụ nhất định

Trang 19

Đối với người kinh doanh, thị trường là một nơi, một khu vực mà hàng hóa

được bày bán, rộng ra là nơi mà người tiêu dùng hoàn toàn nhận biết được sản phẩmcủa hãng đó và cân nhắc việc mua chúng Theo đó, thị trường có thể được phânthành thị trường địa lý nơi doanh nghiệp bán sản phẩm hoặc thị trường các chủngloại hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp

Đối với các nhà kinh tế học, theo Stigler và Sherwin thì thị trường là tập hợp

những người bán và người mua mà giao dịch giữa họ hình thành nên giá cả củahàng hóa Massey cũng nhận định thị trường là tập hợp các sản phẩm và khu vực địa

lý mà giao dịch mua bán liên kết giá cả các sản phẩm đó với nhau

Như vậy, có thể thấy theo góc độ kinh tế học, thị trường là tập hợp hàng hóa và

khu vực địa lý có mối liên hệ về giá cả Định nghĩa này đã không xét đến mức độliên quan giữa giá cả các loại hàng hóa và do đó phạm vi thị trường có thể gồm tất

cả các loại hàng hóa (do theo một mức độ nào đó, hàng hóa đều có liên quan về mặtgiá cả) [9]

“Thị trường liên quan” là một thuật ngữ được sử dụng trong pháp luật chống

hạn chế cạnh tranh

Trên thế giới, nội hàm của khái niệm này được thể hiện trong nhiều thuật ngữkhác nhau, đồng thời cũng được nhìn nhận theo nhiều quan điểm khác biệt như sau:Theo Điều 12, 13, Chương II về Độc quyền và hành vi độc quyền của Luật liên

bang về cạnh tranh kinh tế của Mexico, việc xem xét “thị trường liên quan” là xét

đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ đang được nói đến với hàng hóa,dịch vụ khác có xuất xứ nội địa hoặc từ nước ngoài

Luật về Độc quyền và thương mại công bằng của Hàn Quốc không sử dụng

thuật ngữ thị trường liên quan mà sử dụng thuật ngữ “khu vực kinh doanh xác định” (particular business area) để chỉ khu vực hoặc phạm vi mà tại đó tồn tại một quan

hệ cạnh tranh bất kỳ, có thể được nhận biết bởi sản phẩm, yếu tố địa lý và cấp độthương mại

Đạo luật về cạnh tranh và người tiêu dùng của Úc năm 2010 lại sử dụng thuật

ngữ “thị trường” (market) Theo đó, “thị trường” trong mối quan hệ với bất kỳ

hàng hóa, dịch vụ nào bao gồm một thị trường cho hàng hóa, dịch vụ đó và hànghóa, dịch vụ khác có khả năng thay thế hoặc cạnh tranh với chúng

Trang 20

Tóm lại, dựa vào các khái niệm đã nêu ở trên có thể đi đến một khái niệm

chung về thuật ngữ “thị trường liên quan” như sau: Thị trường liên quan là thị

trường được cấu thành bởi hai hay nhiều loại sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) cókhả năng thay thế lẫn nhau dưới giác độ của cầu (hay cạnh tranh được với nhau)

những sản phẩm hay dịch vụ có thể thay thế cho nhau trong khu vực địa lý riêngbiệt nhất định Trong thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh, thị trường sản phẩm liênquan thường được xác định trước khi xác định thị trường địa lý liên quan

1.3.1.2 Phân loại thị trường liên quan

Thị trường liên quan thường gồm ít nhất hai thành tố là thị trường sản phẩm liênquan và thị trường địa lý liên quan Bên cạnh đó, pháp luật của một số quốc gia còn

đề cập tới khía cạnh thời gian của thị trường liên quan Việc phân chia thị trườngliên quan thành thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan không

có nghĩa là có hai thị trường riêng biệt Ngược lại, đây là hai khía cạnh của một thịtrường liên quan: khía cạnh sản phẩm và khía cạnh địa lý

Thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan được nhìn nhậntheo nhiều quan điểm khác nhau:

Thứ nhất, đối với thị trường sản phẩm liên quan Pháp luật của nhiều nước địnhnghĩa thị trường sản phẩm liên quan theo tiêu chí về khả năng thay thế lẫn nhau về

sau:

“Thị trường sản phẩm liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm hay dịch vụ được người tiêu dùng coi là có khả năng thay thế cho nhau do các đặc tính của sản phẩ, giá cả cũng như mục đích sử dụng của chúng.”

Theo Điều 3 Chỉ dẫn về xác định thị trường liên quan trong luật cạnh tranh củaTrung Quốc, thị trường sản phẩm liên quan bao gồm một nhóm hay một danh mụccác sản phẩm mà người tiêu dùng cho là có mối quan hệ thay thế tương đối chặt chẽdựa trên các yếu tố như đặc tính, công dụng và giá cả của sản phẩm

Theo Phần II.1 trong Chỉ dẫn về đánh giá hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường, pháp luật cạnh tranh của Hàn Quốc khái quát: thị trường sản phẩm liên quangồm các hàng hóa, dịch vụ có thể bị người mua (người bán) hàng hóa, dịch vụ đó

Trang 21

thay đối để đối phó với sự tăng (giảm) đáng kể về giá của một hàng hóa/dịch vụ cụthể trong một khu vực địa lý nhất định.

Thứ hai, đối với thị trường địa lý liên quan Ủy ban châu Âu đưa ra định nghĩa

như sau:

“Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể nơi các doanh nghiệp

có liên quan tham gia bán hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ trong những điều kiện cạnh tranh tương tự và các điều kiện cạnh tranh tại khu vực này phải khác biệt đáng kể so với các điều kiện cạnh tranh tại các khu vực lân cận.”

Theo phần II.2 Chỉ dẫn về đánh giá hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngtrong luật cạnh tranh của Hàn Quốc, thị trường địa lý liên quan là một khu vực kinhdoanh xác định tại đó người mua (bán) có thể thay đổi hành vi mua (bán) của mình

để ứng phó với sự tăng (giảm) đáng kể về giá cả trong một khoảng thời gian tươngđối với điều kiện giá cả những khu vực khác là không đổi

Cũng tương tự cách tiếp cận như trên, phần 4 Chỉ dẫn về xác định thị trườngliên quan của Ủy ban cạnh tranh Singapore trong luật cạnh tranh của Singapore địnhnghĩa: thị trường địa lý liên quan là khu vực tại đó tồn tại sự thay thế lẫn nhau củasản phẩm Cụ thể hơn, nếu người mua đến một khu vực xa hơn để mua sản phẩm dogiá sản phẩm ở địa phương tăng thì thị trường liên quan sẽ mở rộng đến khu vực đó

và ngược lại; và nếu nhà cung cấp ở nơi xa hơn đến một địa phương để bán sảnphẩm do giá sản phẩm ở địa phương tăng thì thị trường liên quan sẽ rộng hơn

Như vậy, có thể thấy, các cách thức định nghĩa về thị trường địa lý nêu trên đều

chỉ ra khả năng thay thế lẫn nhau (theo quan điểm của người mua hoặc người bán)của sản phẩm dựa trên nguồn gốc xuất xứ của chúng (khu vực bán sản phẩm đó)

Thứ ba, thị trường liên quan về mặt thời gian Không phải pháp luật chống hạn

chế cạnh tranh của quốc gia nào cũng đề cập tới khía cạnh thời gian của thị trườngliên quan Tuy nhiên chỉ có thể đánh giá chính xác tính hạn chế cạnh tranh của hành

vi của một chủ thể trên thị trường khi xác định được phạm vi thị trường liên quanvào thời điểm chủ thể đó có hành vi hạn chế cạnh tranh Dưới góc độ thời gian,nhiều loại hàng hóa chỉ tồn tại theo chu kỳ hoặc quan hệ cạnh tranh chỉ tồn tại khi

có sự kiện đặc biệt, bên cạnh đó phạm vi thị trường và vị trí của doanh nghiệp trênthị trường cũng luôn thay đổi theo thời gian Do đó, pháp luật cạnh tranh của một số

Trang 22

nước đã đưa ra những một số nhân tố liên quan đến khía cạnh thời gian của sảnphẩm để đánh giá phạm vi thị trường liên quan trong từng vụ việc cụ thể một cáchchính xác hơn

1.3.2 Khái quát về vấn đề xác định thị trường liên quan

1.3.2.1 Cơ sở xác định thị trường liên quan

Cơ sở để xác định hai sản phẩm có khả năng thay thế lẫn nhau dựa vào lý thuyếtcung cầu và lý thuyết về giá trị của hàng hóa

Thứ nhất, lý thuyết cung cầu Lý thuyết cung cầu mô tả quan hệ giữa người sản

xuất và người tiêu dùng trên thị trường nhằm xác định giá cả và sản lượng trao đổitrên thị trường Lý thuyết cung cầu lý giải khả năng thay thế lẫn nhau của hai sảnphẩm về cầu và về cung dựa trên hệ số co dãn của cầu theo giá chéo và hệ số co dãncủa cung theo giá

Một là, hệ số co dãn của cầu theo giá chéo là một đại lượng kinh tế học đánh giá

khả năng thay thế hoặc bổ sung lẫn nhau của hai sản phẩm bất kỳ Hệ số này đo sựthay đổi của lượng cầu sản phẩm Y bất kỳ khi có sự thay đổi của giá cả sản phẩm Xbất kỳ Hệ số được tính bằng phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho phần trămthay đồi của giá hàng hóa thay thế hoặc bổ sung Nếu hai sản phẩm X và Y có khảnăng thay thế lẫn nhau, hệ số sẽ có giá trị dương do mối quan hệ giữa giá sản phẩmthay thế và lượng cầu sản phẩm đang xét đến là mối quan hệ tỷ lệ thuận

Hai là, hệ số co dãn của cung theo giá một đại lượng kinh tế học đo lường sự

thay đổi của lượng cung sản phẩm X khi có sự thay đối của giá cả sản phẩm X Nếu

hệ số này có giá trị lớn hơn 1 tức là cung co dãn theo giá, điều này có nghĩa là nhàsản xuất có thể dễ dàng chuyển sang cung một loại sản phẩm nào đó khi giá cả sảnphẩm này tăng Các sản phẩm thay thế được cho nhau thì dễ khiến nhà sản xuất cóthể chuyển từ việc sản xuất một loại sản phẩm này sang một loại sản phẩm khác vàkhiến hệ số co dãn cung theo giá càng lớn

Thứ hai, lý thuyết giá trị của hàng hóa Lý thuyết giá trị của hàng hóa lý giải

khả năng thay thế lẫn nhau của hàng hóa dựa trên giá trị sử dụng và giá trị của hànghóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhucầu nào đó của con người Hai loại hàng hóa có khả năng thay thế lẫn nhau khi

Trang 23

chúng cùng thỏa mãn một hay một số nhu cầu của người tiêu dùng Công dụng củasản phẩm phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên của vật chất tạo thành sản phẩm Nhữngthuộc tính đó là đặc tính lý, hóa, kỹ thuật của sản phẩm, chất lượng sản phẩm giúpchung có được một hoặc một số công dụng nhất định

Giá trị của hàng hóa bắt nguồn từ giá trị trao đổi của hàng hóa Giá trị trao đổicủa hàng hóa là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sửdụng khác Sản phẩm có thể được trao đổi với nhau là do hao phí lao động sản xuất

ra chúng tương đương nhau Giá trị chính là lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa.Giá trị của hai sản phẩm có cùng đặc tính và công dụng có thể khác nhau nếu lượnghao phí lao động kết tinh trong hai sản phẩm này khác nhau Điều này dẫn đến giá

cả giữa chúng có thể khác nhau và khả năng thay thế được cho nhau của hai sảnphẩm này có thể thấp

1.3.2.2 Phương pháp xác định thị trường liên quan

a Phương pháp xác định thị trường liên quan bẳng thử nghiệm SSNIP

Để xác định thị trường sản phẩm liên quan, pháp luật của nhiều nước như Hoa

là thử nghiệm SSNIP ( Small but Significant and Non-transitory Increase in Price)hay còn gọi là thử nghiệm doanh nghiệp độc quyền giả định hay thử nghiệm 5-10%.Hoa Kỳ là nước đầu tiên áp dụng thử nghiệm này Tên thử nghiệm do các nhànghiên cứu đặt tên nhưng nội dung của thử nghiệm được quy định rộng rãi trongvăn bản luật cạnh tranh của nhiều nước, ví dụ: Hướng dẫn về sáp nhập theo chiềungang của Bộ tư pháp và Ủy ban thương mại Liên bang của Hoa Kỳ năm 1992, sửađổi năm 2010; hướng dẫn luật cạnh tranh của cộng đồng về xác định thị trường liênquan (12/1997) của Ủy ban châu Âu Mục đích của thử nghiệm này là tìm ra thịtrường liên quan nhỏ nhất có thể trên đó một hoặc nhóm doanh nghiệp độc quyền cóthể tăng giá lên một cách đáng kể mà vẫn thu được lợi nhuận Thị trường liên quankhi đó sẽ bao gồm một nhóm các sản phẩm được người tiêu dùng coi là có khả năngthay thế cho nhau Thực tế cho thấy rất hiếm khi tồn tại một thị trường mà các sảnphẩm lại có thể thay thế hoàn toàn cho nhau Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách

để dị biệt hoá sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng của khách hàng Kinh tếhọc lý giải về tính dị biệt hoá của sản phẩm trên thị trường từ góc độ của cạnh tranh

Trang 24

và độc quyền Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Edward H Chamberlin, trong kinh doanh, mỗi sản phẩm mang lại tính độc đáo bằng đặc điểm riêng có của nó trong việc hình thành như thương hiệu, khác biệt về chất lượng, cung cách phục vụ… điều này thể hiện khía cạnh độc quyền của nó Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranh của sản phẩm khác Việc dị biệt hoá đã làm cho cả độc quyền và cạnh tranh cùng

có mặt.” [10]

Để tìm ra các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau, người ta giả định rằngnếu giá của sản phẩm đang bị điều tra tăng lên, người tiêu dùng vẫn có thể chuyểnsang mua các sản phẩm khác có khả năng thay thế sản phẩm đó Đây được gọi làkhả năng thay thế về cầu Cách thức tiến hành thử nghiệm này như sau:

Đầu tiên, cơ quan cạnh tranh thường đưa ra một thị trường sản phẩm liên quanhẹp nhất có thể (tức là chỉ bao gồm sản phẩm hay nhóm sản phẩm đang bị điều tra)gọi là sản phẩm A Sau đó cơ quan cạnh tranh sẽ tìm hiểu một doanh nghiệp độcquyền kinh doanh sản phẩm A có thể duy trì giá của sản phẩm đó trên mức giá cạnhtranh (tức là mức gia đạt được trong một thị trường có sự cạnh tranh) trong một giaiđoạn đáng kể mà vẫn thu được lợi nhuận hay không Khi thực nghiệm thử nghiệmcần lưu ý rằng mức tăng này chỉ ở mức vừa phải, tức là vừa đủ lớn để những ngườimua sản phẩm đó có khả năng thay đổi nhu cầu nhưng cũng không được lớn đếnmức việc tăng giá nhất định sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn về cầu và dẫn đến việc thịtrường được xác định quá rộng đến mức thị phần không còn phản ánh đứng sứcmạnh thị trường của doanh nghiệp đang bị điều tra nữa) Pháp luật các nước có thể

có quy định khác nhau về mức tăng này nhưng nhìn chung đều trên 5% (cụ thể làcác nước Anh và Hoa Kỳ) Mức tăng cụ thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào tính chấtcủa từng vụ việc Khoảng thời gian thường được sử dụng cho giả định tăng giá này

là một năm (tuy nhiên, khoảng thời gian này cũng có thể ngắn hơn một năm phụthuộc vào từng lĩnh vực, ngành cụ thể trong từng vụ việc cụ thể) Nếu việc tăng giásản phẩm A lên 5-10% trong khoảng thời gian một năm không dẫn đến việc kháchhàng chuyển sang hoặc có ý định chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác hiện có,việc thử nghiệm sẽ kết thúc và thị trường sản phẩm liên quan được xác định là thịtrường sản phẩm A

Trang 25

Ngược lại, nếu việc tăng giá sản phẩm A dẫn đến việc khách hàng chuyểnsang hoặc có ý định chuyển sang sử dụng sản phẩm khác hiện có (gọi là sản phẩmB), việc tăng giá này sẽ không mang lại lợi nhuận cho nhà sản xuất sản phẩm A do

bị mất doanh thu, khi đó, thị trường liên quan sẽ bao gồm ít nhất sản phẩm A và sảnphẩm B Thử nghiệm sẽ được tiếp tục vòng hai với cách thức tương tự, cơ quancạnh tranh sẽ giả định liệu một doanh nghiệp độc quyền cung cấp cả hai sản phẩm A

và B có thể tăng giá (một hoặc cả hai) sản phẩm đó trên mức giá cạnh tranh trongmột giai đoạn đáng kể mà vẫn thu được lợi nhuận hay không Quy trình thử nghiệm

sẽ được tiếp tục cho đến khi một nhóm sản phẩm được xác định là có thể bị tăng giátrong một giai đoạn đáng kể mà không kéo theo sự thay đổi lớn về cầu, tức là mộtdoanh nghiệp độc quyền (giả định) kinh doanh nhóm sản phẩm ấy có thể tăng giámột hoặc tất cả các sản phẩm trong nhóm ấy mà vẫn thu được lợi nhuận

Khi áp dụng thử nghiệm SSNIP có một số điều cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, không phải tất cả hay đại đa số khách hàng đều chuyển sang sử

dụng sản phẩm thay thế khi có sự tăng giá (và điều này cũng không cần thiết), vấn

đề đặt ra là là liệu số lượng khách hàng có ý định thay đổi nhu cầu có đủ lớn để đạidiện cho nhu cầu của thị trường hay không;

Thứ hai, số lượng khách hàng cần lưu tâm tới là những khách hàng có khả

năng thay đổi nhu cầu nhất chứ không phải những khách hàng “đại diện” hay “đặcthù” Điều quan trọng là có bao nhiêu khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩmthay thế chứ không phải việc có một nhóm khách hàng “đặc thù” không thể làm nhưvậy Việc tập trung vào nhóm khách hàng không có khả năng thay đổi về cầu sẽ dẫnđến việc xác định thị trường liên quan không còn chính xác

Thứ ba, trong một số trường hợp, đặc biệt là trong các vụ sáp nhập thì mức

giá cạnh tranh được cơ quan điều tra áp dụng chính là mức giá hiện tại của sảnphẩm đang được điều tra Tuy vậy, trong những trường hợp khác (đặc biệt trong các

vụ việc về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường), mức giá hiện hành về sản phẩm cóthể sẽ không còn phù hợp do rất có thể bản thân mức giá này đã cao hơn mức giácạnh tranh, khi đó, việc tiếp tục tăng giá thêm 5-10% sẽ không còn mang lại lợinhuận cho doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua các sản phẩm khác

và sẽ là sai lầm khi kết luận rằng các sản phẩm này tạo ra sức ép cạnh tranh đối với

Trang 26

sản phẩm đang bị điều tra và đưa chúng vào phạm vi của thị trường liên quan Đểtránh sai lầm này, cơ quan cạnh tranh phải đặc biệt chú ý tới những bằng chứng haydấu hiệu cho thấy điều kiện cạnh tranh trên thị trường đang bị ảnh hưởng xấu do sựtồn tại của sức mạnh thị trường (ví dụ như siêu lợi nhuận hay những thay đổi về giátrước đây…).

Mặc dù được sử dụng khá rộng rãi, bản thân thử nghiệm SSNIP cũng có những hạn chế nhất định như: thử nghiệm SSNIP chỉ giải quyết vấn đề cạnh tranh

về giá giữa các sản phẩm mà không tính đến các khía cạnh cạnh tranh khác như chấtlượng, tính năng… của sản phẩm Ngoài ra, thử nghiệm này cũng không thực sựphù hợp đối với thị trường nơi các sản phẩm có sự khác biệt về đặc tính (như nhãnhiệu, vị trí, chất lượng,…) Do đó, thử nghiệm này cũng không thể được coi là công

cụ hoàn hảo để xác định thị trường liên quan mà cần được áp dụng kết hợp với việcphần tích các yếu tố khác như:

Một là, chi phí thay đổi nhà cung cấp Đây là chi phí mà người mua sẽ phải

chịu khi thay đổi nhà cung cấp; nói chung, chi phí này càng cao thì khả năng thaythế về cầu càng thấp và thị trường liên quan sẽ càng hẹp

Hai là, xu hướng thay đổi về giá cả Nếu hai sản phẩm có cùng xu hướng

tăng giá hay giảm giá mà không liên quan đến sự thay đổi chi phí sản xuất hay lạmphát nói chung thì rất có thể hai sản phẩm này có khả năng thay thế cho nhau vàcùng nằm trong một thị trường liên quan

Ba là, độ dãn của cầu và độ dãn chéo của cầu Độ dãn của cầu phản ánh sự

thay đổi theo tỉ lệ phần trăm về cầu của sản phẩm khi giá của một sản phẩm khác(sản phẩm đang cạnh tranh với sản phẩm bị điều tra) thay đổi Nếu cầu đối với mộtsản phẩm không mấy thay đổi khi có sự thay đổi về giá của chính sản phẩm đó haysản phẩm đang cạnh tranh với sản phẩm đó, thì điều này chứng tỏ khả năng thay thế

về cầu đối với sản phẩm này là không đáng kể, tức là thị trường liên quan sẽ bị thuhẹp lại

Bốn là, đặc tính và mục đích sử dụng của sản phẩm Những thông tin này sẽ

đặc biệt hữu ích trong trường hợp khả năng thay thế về cầu chịu ảnh hưởng lớn từđặc tính và mục đích sử dụng của sản phẩm Khi các sản phẩm có đặc tính và mụcđích sử dụng rất giống nhau thì rất có thể chúng có khả năng thay thế cho nhau

Trang 27

Năm là, mối tương quan giữa giá cả và mức độ tập trung của sản phẩm Mối

tương quan này phản ánh sự thay đổi về giả của một sản phẩm trong mối tươngquan với số lượng hay thị phần của các sản phẩm khác trong cùng mọt khu vực địa

lý Nếu việc phân tích giá cả trong nhiều khu vực khác nhau cho thấy việc có hai sảnphẩm được bán trong cùng khu vực khiến cho giá cả tại đó thấp hơn đáng kể so vớicác khu vực khác nơi hai sản phẩm đó không được bán cùng nhau, thì điều này cóthể có nghĩa là hai sản phẩm đó có khả năng thay thế cho nhau

Cuối cùng, cần lưu ý rằng trong nhiều trường hợp thị trường liên quan có thể

đã được xác định trong một vụ việc cạnh tranh trước đó (do cùng liên quan đến mộthoặc một nhóm sản phẩm hoặc khu vực) Mặc dù các nghiên cứu và phân tích trongcác vụ việc cạnh tranh trước rất hữu ích cho việc xử lý các vụ việc cạnh tranh saunhưng điều này không có nghĩa là việc xác định thị trường liên quan trong vụ việccạnh tranh sau phải luôn phù hợp với vụ việc cạnh tranh trước đó bởi lẽ các điềukiện cạnh tranh trên thị trường có thể thay đổi theo thời gian hoặc do hành vi củadoanh nghiệp nắm sức mạnh thị trường (ví dụ trước đây thị trường liên quan đượcxác định tương đối rộng do khả năng thay thế về cung lớn, doanh nghiệp với vị tríthống lĩnh trên thị trường đó có thể loại bỏ một số khả năng thay thế về cung, khi

đó, thị trường liên quan có thể đã bị thu hẹp lại)

Khi giá cả của một loại sản phẩm tăng lên, các doanh nghiệp hiện không sảnxuất loại sản phẩm đó rất có thể chuyển sang sản xuất sản phẩm đó trong thời gianngắn mà không có sự tăng lên đáng kể về chi phí Điều này có thể ngăn cản mộtdoanh nghiệp độc quyền (giả định) duy trì mức giá 5-10% trên mức cạnh tranh màvẫn thu được lợi nhuận Khả năng thay thế này được thực hiện bởi các nhà cung cấp

và được gọi là khả ngăn thay thế về cung Trong trường hợp khả năng thay thế vềcung là nhanh chóng (thường là dưới 12 tháng) và dễ dàng (các nhà sản xuất khônggặp phải vấn đề lớn về năng lực sản xuất hay chi phí không thể thu hồi được) vàhiệu quả (tức là với số lượng đủ lớn để có thể tác động tới giá cả trên thị trường),người ta có thể xác định được thị trường sản phẩm liên quan dựa trên tính tươngđồng về phương pháp sản xuất các loại sản phẩm đó

Hiện nay vẫn còn sự tranh luận về thời điểm xem xét khả năng thay thế về cungtrong quá trình phân tích vụ việc cạnh tranh, cụ thể là có nên xem xét khả năng thay

Trang 28

thế về cung để xác định thị trường liên quan hay chỉ xem xét yếu tố này sau khi thịtrường liên quan đã được xác định Cách tiếp cận của Hoa Kỳ là chỉ xác định thịtrường liên quan dựa trên khả năng thay thế về cầu, sau đó sẽ xem xét khả năng thaythế về cung khi tính toán thị phần Ngược lại, cách tiếp cận của Liên Minh châu Âu

là sẽ xem xét khả năng thay thế về cung khi xác định thị trường liên quan nếu khảnăng thay thế về cung cũng có những tác động tương tự như khả năng thay thế vềcầu xét trên khía cạnh hiệu quả và tính kịp thời, tức là khi có bằng chứng rõ ràngcho thấy sự thay thế về cung sẽ diễn ra rất nhanh chóng và dễ dàng Dù là cách tiếpcận nào thì khả năng thay thế về cung sẽ luôn được nghiên cứu và phải mang lại kếtluận chính xác về sức mạnh thị trường Kết quả phân tích sẽ không chính xác trongtrường hợp cơ quan cạnh tranh xác định thị trường liên quan mà không xem xét khảnăng thay thế về cung rồi suy luận một cách máy móc về sức mạnh thị trường củadoanh nghiệp bị điều tra chỉ dựa trên thị phần của doanh nghiệp đó

Quá trình xác định thị trường địa lý liên quan diễn ra tương tự như quá trình xácđịnh thị trường sản phẩm liên quan với cùng thông tin, dữ liệu và cách thức tiếnhành nhưng đặc biệt tập trung vào ba yếu tố là khả năng thay thế về cầu, khả năngthay thế về cung và hàng nhập khẩu Thị trường địa lý liên quan có thể là thị trườngđịa phương (một tỉnh, thành phố), một quốc gia, một khu vực hoặc toàn cầu Ví dụ,trong vụ sáp nhập Labroy/ Dubai năm 2007 (vụ sáp nhập giữa hai công ty đóng tàubiển), Ủy ban cạnh tranh Singapore nhận thấy địa điểm của các bãi đóng tàu khôngphải là yếu tố quan trọng trong dịch vụ đống tàu, do đó, Ủy ban xác định thị trườngđịa lý trong trường hợp này là thị trường toàn cầu

Cũng tương tự như đối với xác định thị trường sản phẩm liên quan, để xác địnhthị trường địa lý liên quan người ta thường dùng thử nghiệm SSNIP Quá trình thửnghiệm bắt đầu với việc chọn ra một khu vực tương đối hẹp, có thể là khu vực địa lýnơi các bên trong một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đang bị điều tra đang cung cấpsản phẩm hay dịch vụ, khi đó, cơ quan cạnh tranh sẽ đặt câu hỏi liệu một doanhnghiệp độc quyền giả định trong khu vực đó có thể tăng giá lên 5-10% mà vẫn thuđược lợi nhuận hay không Nếu câu trả lời là không (vì khi giá tăng thì các sảnphẩm thay thế sẽ nhanh chóng được chuyên chở từ khu vực địa lý khác đến), khuvực địa lý liên quan sẽ tiếp tục được mở rộng với câu hỏi tương tự cho đến khi xác

Trang 29

định được khu vực địa lý đủ rộng nơi doanh nghiệp độc quyền giả định trong khuvực có thể duy trì mức giá độc quyền của mình mà vẫn thu được lợi nhuận

b Phương pháp xác định thị trường liên quan dựa vào việc xác định nhóm các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau

Thị trường sản phẩm bổ trợ là thị trường của các sản phẩm bổ trợ cho sản phẩmkhác, nghĩa là sản phẩm bổ trợ chỉ được tiêu thụ sau khi khách hàng mua sản phẩm

chính Ví dụ, khách hàng chỉ mua khay đựng mực in (sản phẩm bổ trợ) sau khi mua

sản phẩm chính là máy in Đối với các thị trường sản phẩm bổ trợ, có ba khả năngxác định thị trường liên quan như sau:

Khả năng thứ nhất: Có một thị trường liên quan thống nhất bao gồm cả sản

phẩm chính và sản phẩm bổ trợ

Khả năng thứ hai: Có một thị trường cho sản phẩm chính và nhiều thị trường

khác nhau cho các loại sản phẩm bổ trợ khác nhau

Khả năng thứ ba: Có một thị trường cho sản phẩm chính và một thị trường khác

cho tất cả các sản phẩm bổ trợ

Ví dụ: trong vụ Kodak, Tòa án nhân dân tối cao Hoa Kỳ đã phân biệt sự khác

nhau giữa thị trường thiết bị máy photocopy và các thị trường sản phẩm bổ trợ làlinh kiện của máy và dịch vụ bảo dưỡng

c Phương pháp xác định thị trường liên quan dựa trên sự phân biệt giá cả

và chuỗi sản phẩm thay thế

Thứ nhất, sự phân biệt giá cả Trong nhiều trường hợp, một doanh nghiệp độc

quyền giả định có thể áp dụng mức giá cao hơn đối với nhóm khách hàng này so vớinhóm khách hàng khác mà sự khác biệt này không liên quan gì đến sự khác nhau vềchi phí cung cấp, điều này được gọi là sự phân biệt về giá cả (price discrimination)

Sự phân biệt về giá cả chỉ có thể tồn tại nếu các nhóm khách hàng không thể tự domua đi bán lại sản phẩm ấy Nếu có sự phân biệt về giá cả một cách đáng kể giữacác nhóm khách hàng như vậy thì bản thân mỗi nhóm khách hàng có thể là một thịtrường riêng biệt Ngược lại, nếu một doanh nghiệp không thể duy trì sự phân biệt

về giá cả giữa các nhóm khách hàng khác nhau, điều này có nghĩa là thị trường liênquan cần phải xác định rộng hơn

Trang 30

Thứ hai, chuỗi sản phầm thay thế Đôi khi sản phẩm đang bị điều tra có thể

nằm trong một chuỗi dài liên tục các sản phẩm dường như có thể thay thế cho nhau,điều này không có nghĩa là toàn bộ chuỗi sẽ tạo thành thị trường sản phẩm liênquan

Các nguyên tắc được áp dụng trong việc xác định thị trường sản phẩm liên quan(như vấn đề phân biệt giá cả và chuỗi địa lý thay thế cũng sẽ được áp dụng tương tựtrong việc xác định thị trường liên quan Cần phải chú ý tới mối tương quan giữa giátrị của sản phẩm đang bị điều tra với chi phí tìm kiếm và chi phí vận chuyển các sảnphẩm thay thế vì đây là những yếu tố quan trọng giúp xác định thị trường địa lý liênquan Khi giá trị của sản phẩm càng cao, khả năng khách hàng sẽ tìm kiếm sảnphầm thay thế tại một khu vực khác càng lớn Tuy vậy, khả năng này sẽ bị hạn chếnếu chi phí tìm kiếm và chi phí vận chuyển các sản phẩm thay thế cao [11]

Như vậy, việc xác định thị trường liên quan là bước đầu tiên trong việc đánh giácác hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc xác định các sảnphẩm thuộc cùng một thị trường liên quan là rất khó khăn do không thể chỉ nhìn bềngoài hoặc căn cứ vào công dụng để xác định hai sản phẩm bất kỳ có khả năng thaythế lẫn nhau Vì vậy, cần có các phương pháp có tính thống kê và định lượng dựatrên những nguyên lý kinh tế học để xác định thị trường liên quan trong vụ việccạnh tranh cụ thể

1.3.2.3 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan

Như đã trình bày ở trên, dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi người mua vàngười bán thực hiện các giao dịch trao đổi hàng hóa và dịch vụ Trong lĩnh vực luật

cạnh tranh, thuật ngữ “thị trường liên quan” được sử dụng và có nội dung khác với nội dung của thuật ngữ “thị trường” trong các lĩnh vực khác Ví dụ, các doanh

nghiệp thường dùng thuật ngữ thị trường để chỉ khu vực địa lý nơi doanh nghiệp đócung cấp sản phẩm hoặc rộng hơn là để chỉ ngành hoặc lĩnh vực mà doanh nghiệp

đó đang kinh doanh Trong lĩnh vực cạnh tranh, xác định thị trường liên quan đượchiểu là xác định ranh giới nơi diễn ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việc xácđịnh thị trường liên quan là công cụ để xác định một cách có hệ thống những áp lựccạnh tranh mà các doanh nghiệp có liên quan đang phải đương đầu [12] Kinhnghiệm thực thi pháp luật của các nước cho thấy việc điều tra và xác định thị trường

Trang 31

liên quan một cách chính xác là công việc rất phức tạp và tốn kém, đòi hỏi nhữngnghiên cứu và phân tích kinh tế kỹ lưỡng, nếu không có thể cơ quan điều tra sẽ xácđịnh sai thị trường liên quan dẫn đến toàn bộ những phân tích tiếp theo trong vụviệc cạnh tranh trở nên không chính xác.

Có thể nói việc xác định thị trường liên quan đóng vai trò trung tâm trong việc

áp dụng luật cạnh tranh Ủy ban châu Âu còn cho rằng việc xác định thị trường liênquan đôi khi đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá một vụ việc cạnh tranh.Hầu hết các cuộc điều tra vụ việc cạnh tranh trên thế giới đều bao gồm hai bước cơbản trong đó bước đầu tiên chính là xác định thị trường liên quan nhằm chỉ ra tất cảcác sản phẩm hay dịch vụ được coi là có khả năng thay thể cho sản phẩm hay dịch

vụ đang bị điều tra Việc xác định thị trường liên quan sẽ giúp cơ quan cạnh tranhtiến hành bước tiếp theo trong quá trình điều tra, đó là tiến hành các phân tích về thịphần và mức độ tập trung của thị trường, rào cản gia nhập thị trường, rào cản gianhập thị trường, rào cản mở rộng sản xuất trên thị trường đó… [13]

Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng việc xác định thị trường liên quan chỉ có ý nghĩatrong việc điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh (kể cả các thỏa thuận thông đồngtrong đấu thầu và các thỏa thuận cạnh tranh theo chiều dọc) Còn đối với hành vicạnh tranh không lành mạnh thì vấn đề xác định thị trường liên quan không đặt rabởi đối tượng bị tác động của hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường là mộthoặc một số doanh nghiệp cụ thể (ví dụ, đối tượng bị tác động của hành vi xâmphạm bí mật kinh doanh là doanh nghiệp sở hữu bí mật kinh doanh), trong khi đó,đối tượng bị tác động của hành vi hạn chế cạnh tranh là cạnh tranh trên một thịtrường nhất định, do vậy, phải xác định được ranh giới nơi diễn ra sự cạnh tranh đó

Chương 2: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN

QUAN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA

2.1 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA VIỆT NAM

2.1.1 Quy định về xác định thị trường liên quan trong pháp luật của Việt Nam

2.1.1.1 Những quy định chung về thị trường liên quan

a Định nghĩa thị trường liên quan

Trang 32

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh thì có thể thấy thị trường liên quan baogồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó, thịtrường sản phẩm lien quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thếcho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả còn thị trường địa lý liên quan làkhu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thể cho nhauvới các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lâncận.

Mặc dù khoản 6 Điều 4 nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm

2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh (sau đây gọi tắt là Nghị định 116/2005/NĐ-CP) có quy định về hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh có thể xét thêm yếu tố “thời gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng đột biến về cầu” và “thời gian sử dụng của hàng hóa, dịch vụ” nhưng việc

xem xét hai yếu tố này không mang tính chất bắt buộc đối với tất cả các vụ việccạnh tranh mà chỉ được thực hiện khi phương pháp xác định thuộc tính có thể thaythế cho nhau của hàng hóa, dịch vụ cho kết quả chưa đủ, để kết luận thuộc tính cóthể thay thế cho nhau của hàng hóa, dịch vụ Đây là điểm thiếu sót bởi lẽ yếu tố thờiđiểm cũng là khía cạnh quan trọng cần phải xem xét khi xác định thị trường liênquan

Như vậy, về cơ bản cách thức xác định thị trường liên quan theo Luật cạnh

tranh của Việt Nam là thống nhất với cách tiếp cận của các nước khác trên thế giớitrừ việc còn thiếu quy định về phân tích yếu tố thời điểm trong việc xác định thịtrường liên quan

b Các yếu tố cơ bản về việc xác định thị trường liên quan

Xác định thị trường liên quan là xác định số lượng doanh nghiệp là đối thủ cạnh

tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị trường nhất định Kinh

nghiệm thực thi pháp luật của các nước đã cho thấy, việc điều tra và xác định thịtrường liên quan là việc làm không đơn giản, có rất nhiều nội dung cần làm rõ.Trong đó, tập trung vào những vấn đề sau:

Thứ nhất, trong xác định thị trường sản phẩm liên quan

Khả năng thay thế cho nhau phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩmkhác nhau Bởi lẽ, khi các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, tức là chúng cùng đáp

Trang 33

ứng cho một nhu cầu của thị trường Trong thị trường hiện đại, sự đa dạng của nhucầu thị trường đã kéo theo sự phân hoá, dị biệt hoá các sản phẩm, các dòng sảnphẩm Kế thừa những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Luật cạnh tranh

và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cạnh tranh đã đưa ra hai căn cứ để xác địnhkhả năng thay thế của sản phẩm bao gồm: tính chất của sản phẩm thể hiện thông quatiêu chí về đặc tính, mục đích sử dụng của sản phẩm; và phản ứng của người tiêudùng khi có sự thay đổi giá cả của các sản phẩm có liên quan

Về tính chất của sản phẩm được thể hiện bằng việc phân tích các đặc tính lý hoá và mục đích sử dụng Theo đó, “các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều tính chất vật lý, tính chất hoá học, tác động phụ đối với người sử dụng giống nhau” [11] Các sản phẩm, cho dù khác nhau nhưng nếu có chung một mục đích sử

dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau Do đó, khi phân tíchdấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền cần phải nhìn nhận hiện tượng dưới góc độcủa người sử dụng hàng hoá, dịch vụ, thay vì với vai trò của cơ quan quản lý nhà

nước Việc xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các

yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụđối với người sử dụng… Bởi lẽ, các sản phẩm không tương đồng nhau về nhữngyếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau Có thể nói, việc xác định sự tương đồng

về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quan trọng hàng đầu trong việcđiều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn đề này, cơ quan điều tra mới

có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thị trường vàthực hiện các bước điều tra tiếp theo

Về việc xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của sản phẩm Việc xác định khả năng thay thế về tính chất của sản phẩm nhằm mục

đích tìm kiếm sự tương tự nhau giữa các sản phẩm khác nhau, từ đó khẳng địnhchúng đều đáp ứng cho cùng một nhu cầu sử dụng Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng làphạm trù diễn tả thái độ của khách hàng (đại diện cho nhu cầu của thị trường) đốivới sản phẩm Do đó, việc điều tra về khả năng có thể thay thế giữa các sản phẩmcần phải được kiểm chứng từ phản ứng của thị trường thông qua thái độ của kháchhàng đối với các sản phẩm khi có sự thay đổi giá cả của chúng trên thị trường

Trang 34

Thứ hai, trong xác định thị trường địa lý liên quan.

Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểmcủa người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩm được sảnxuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu người đang sử dụng sảnphẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sảnphẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong mộtthời gian đủ dài, khi đó, hai địa điểm được xem xét nằm trong khu vực địa lý mà cácsản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác là chúng có cùng thị trường địa lýliên quan và ngược lại Khu vực địa lý là những vùng thị trường được đo bằngkhoảng cách không gian, bao gồm các địa điểm mà tại đó những sản phẩm có thểthay thế cho nhau được phân phối cho khách hàng, có thể là một quận, một thànhphố, hoặc trong phạm vi cả nước… Các điều kiện cạnh tranh được xem xét để xácđịnh bao gồm chi phí vận chuyển, thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trongcùng một khu vực thị trường hoặc giữa vùng thị trường này với vùng thị trườngkhác; sự tồn tại của các rào cản gia nhập vùng thị trường được xem xét

2.1.1.2 Quy trình chung để xác định thị trường liên quan

Tại tất cả các nước, việc xác định thị trường liên quan có ý nghĩa hết sức quantrọng trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh Trong bối cảnh của Việt Nam, việcxác định thị trường liên quan đóng vai trò đặc biệt quan trong khi mà luật cạnh tranhthường sử dụng tiêu chí thị phần làm cơ sở để áp dụng các quy định cấm Theo cácquy định tại khoản 2 Điều 9, Điều 11, Điều 18 và Điều 19 của Luật cạnh tranh, thịphần là cơ sở để xác định liệu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnhtranh có bị cấm thực hiện thỏa thuận đó hay không, xác định vị trí thống lĩnh thịtrường của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp, xác định trường hợp tập trungkinh tế cần phải thông báo cho Cục quản lí cạnh tranh trước khi tiến hành Để xácđịnh thị phần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh thì việc đầu tiên cơquan quản lí cạnh tranh phải thực hiện chính xác định thị trường liên quan

Thứ nhất, xác định thị trường sản phẩm liên quan.

Khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh quy định thị trường sản phẩm liên quan là thịtrường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích

sử dụng và giá cả Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và

Trang 35

thị trường địa lý liên quan Trong đó, “Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường

của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích

sử dụng và giá cả; thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó

có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận” Đặc tính của hàng

hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ như tính chất vật lí, tínhchất hóa học, tính năng kĩ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả nănghấp thụ Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mụcđích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó còn giá cả của hàng hóa, dịch

vụ là giá ghi trong hóa đơn bán lẻ theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Nghị định 116/2005/NĐ-CP thì hàng hóa, dịch vụ được coi

là có thể thay thế cho nhau nếu chúng có cùng đặc tính hoặc có cùng mục đích sử

dụng hoặc “nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ

đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp.”

Như vậy, pháp luật cạnh tranh của Việt nam đã ứng dụng thử nghiệm SSNIPvào việc xác định thị trường sản phẩm liên quan, dù phiên bản SSNIP của Việt namrất khác so với cách áp dụng SSNIP thông thường Như đã phân tích ở trên, ở cácnước như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu, việc tăng giá giả định trong trong thửnghiệm SSNIP thường dao động từ 5% - 10% và thời gian tăng giá là một năm.Đây được coi là mức tăng giá và khoảng thời gian tăng giá hợp lí để xác định khảnăng thay đổi nhu cầu thị trương Với phiên bản SSNIP của Việt Nam, tác giả Mark

Furse bình luận rằng: “… Việc sử dụng một cuộc điều tra kiểu như vậy khó có khả năng đem lại kết quả chính xác và có một sự luận quẩn trong quá trình áp dụng khi

mà thị trường địa lí liên quan phải được xác định thị trường sản phẩm liên quan.”

[ ]

Trên thế giới, mặc dù phương pháp SSNIP được áp dụng rất phổ biến trongviệc phân tích các vụ việc cạnh tranh, bản thân phương pháp này cũng có nhữngnhược điểm nhất định Do đó, tiếp thu kinh nghiệm của luật cạnh tranh các nước,Luật cạnh tranh Việt nam cũng quy định về việc cơ quan cạnh tranh có thể xem xét

Trang 36

them các yếu tố như: tỉ lệ thay đổi của cầu đối với hàng hóa, dịch vụ khi có sự thayđổi về giá của hàng hóa dịch vụ khác (phương pháp tính độ co dãn chéo của cầu);thời gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng đột biến vềcầu; thời gian sử dụng của hang hóa dịch vụ và khả năng thay thế về cung Khảnăng thay thế về cũng được hiểu là khả năng của doanh nghiệp đang sản xuất, phânphối một hàng hóa, dịch vụ chuyển sang sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ kháctrong khoảng thời gian ngắn và không có sự tăng lên đáng kể về chi phí trong bốicảnh có sự tăng lên về giá của hang hóa, dịch vụ khác trong đó Như vậy, Việt Namtiếp thu mô hình của châu Âu trong việc đưa các phân tích về khả năng thay thế vềcung vào việc xác định thị trường sản phẩm liên quan Tiếc là việc phân tích nhữngyếu tố nói trên không mang tính chất bắt buộc mà chỉ được thực hiện trong trường

hợp phương pháp xác định thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hóa,

dịch vụ theo đặc tính, mục đích sử dụng và thử nghiệm SSNIP cho kết quả chưa đủ

để kết luận thuộc tính “có thể thay thế cho nhau”.

Ngoài quy định về khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung ,pháp luật cạnh tranh của Việt Nam còn có quy định về vấn đề thị trường sản phẩm

bổ trợ cho nhau như sau:

Sản phẩm được coi là sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm liên quan nếu giá của sảnphẩm này tăng hoặc giảm thì cầu đối với sản phẩm liên quan sẽ giảm hoặc tăngtương ứng

Nhìn chung, quy định này hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận của Liên minhchâu Âu Khi đó, thị trường sản phẩm liên quan có thể xác định là thị trường củamột loại sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấu trúc thị trường và tập quán người tiêudung

1.2.2.2 Thị trường địa lí liên quan

Khoản 1 Điều 3 Luật cạnh tranh quy định thị trường địa lí liên quan là một khuvực địa lí cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau vớicác điều kiện cạnh tranh trương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lâncận Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định 5 căn cứ để xác định ranh giới của khuvực địa lí đó bao gồm khu vực địa lí có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham giaphân phối sản phẩm liên quan; cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên

Trang 37

khu vực địa lí lân cận đủ gần với khu vực địa lí đang xem xét để có thể tham giaphân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lí đó; chi phí vận chuyển trong khuvực địa lí đang xem xét; thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong khuvực địa lí đang xem xét; thời gian vân chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong khuvực địa lí đang xem xét; rào cản gia nhập thị trường Như vậy, pháp luật Việt Namxem xét thị trường địa lí liên quan dựa trên cả hai yếu tố là khả năng thay thế về cầu

và khả năng thay thế về cung Để xác định thị trường địa lí liên quan, thử nghiệmSSNIP tiếp tục được áp dụng Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam thiếu quy định vềkhoảng thời gian tăng giá Theo đó, khu vực địa lí liên quan đucợ coi là có điều kiệncạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vực địa lí lân cận nếu chi phívận chuyển làm giá bán lẻ hàng hóa tăng không quá 10%

Bên cạnh đó, thị trường địa lí liên quan còn được xác định dựa trên sự hiệndiện của các rào cản gia nhập thị trường bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểudáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí theo quy định của pháp luật về sở hữucông nghiệp; các rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tư vào sản xuất phân phốixúc tiến thương mại hoặc khả năng tiếp cận với các nguồn cung tài chính; quyếtđịnh hành chính của cơ quan quản lí nhà nước; các quy định về điều kiện kinhdoanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ; các chuẩn mực nghề nghiệp; thuế nhập khẩu vàhạn ngạch nhập khẩu; tập quán của người tiêu dùng và các rào cản gia nhập thịtrường khác

Như vậy, việc lấy yếu tố rào cản gia nhập thị trường làm cơ sở để xác định thị

trường địa lí liên quan là sự khác biệt trong cách tiếp cận của Việt Nam so với cácnước khác Như đã phân tích ở trên, luật cạnh tranh các nước thường xác định thịtrường địa lí liên quan dựa trên khả năng thay thế về cầu, khả năng thay thế về cung

và hàng nhập khẩu Yếu tố rào cản gia nhập thị trường thường được sử dụng đểphân tích sức mạnh thị trường hơn là để xác định thị trường điạ lí liên quan (rào cảngia nhập thị trường phản ánh mức độ cạnh tranh tiềm tàng mà doanh nghiệp phảiđương đầu, do đó, doanh nghiệp với thị phần lớn hoạt động trên thị trường có ràocản cao rất dễ bị suy đoán là đang nắm giữ sức mạnh thị trường)

Trang 38

2.1.1.3 Yếu tố thời gian trong việc xác định thị trường liên quan

(tr91 giáo trình) phần này sẽ bổ sung sau nhé

Tóm lại, qua việc trình bày các quy định của pháp luật Việt Nam về thị trường

liên quan ở trên có thể thấy mặc dù pháp luật cạnh tranh đã quy định khá chi tiết vàđầy đủ về các tiêu chí xác định thị trường liên quan đặt trong tác động của thịtrường nhưng vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể cho việc xác định thị trường liênquan Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về thị trường sản phẩm liên quan, thịtrường địa lý liên quan và vấn đề thời điểm trong xác định thị trường liên quan còntồn tại nhiều bất cập, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với quy định về thị trường sản phẩm liên quan Phương pháp

xác định khả năng thay thế của sản phẩm theo giá cả được quy định trong Nghị định

số 116/2005/NĐ-CP chưa thật chính xác Điểm c Khoản 5 Điều 4 của Nghị định số116/2005/NĐ-CP đã đánh giá yếu tố này dựa trên việc định lượng phản ứng củangười tiêu dùng khi có sự thay đổi về giá cả của sản phẩm Phương pháp được đưa

ra là tăng giá giả định và đo lường phản ứng của người tiêu dùng trên thị trườngthực tế Như vậy, trong phương pháp này, việc tăng giá chỉ là giả định qua mức tănggiá và phản ứng của khách hàng, khả năng thay thế về giá cả của sản phẩm được xácđịnh Trong khi đó, việc xác định khoảng tăng giá giả định dựa trên lý luận rằngmức tăng giá giả định phải hợp lý, do đó, cần phải xác định mức tối đa và tối thiểubởi nếu mức tăng quá cao có thể kéo theo sự sụt giảm của nhu cầu hoặc sự thay đổiquá lớn trong nhu cầu tiêu dùng, và điều đó sẽ là bất hợp lý với doanh nghiệp,ngược lại, nếu mức tăng quá thấp thì sự phản ứng yếu ớt của người tiêu dùng không

đủ làm căn cứ cho thấy sự thay đổi nhu cầu của thị trường Do đó, việc xác địnhmức tăng giá giả định là trên 10% theo quy định của pháp luật cạnh tranh của ViệtNam có thể khiến kết quả điều tra thực tế về khả năng thay thế của sản phẩm theogiá cả thiếu chính xác

Thứ hai, đối với quy định về thị trường địa lý liên quan Mặc dù quy định về

rào cản gia nhập thị trường của Luật cạnh tranh Việt Nam là quy định mở, quy địnhnày mới chỉ mang tính chất liệt kê mà thiếu đi tính khái quát về bản chất của rào cảngia nhập thị trường là tất cả các yếu tố cản trở các doanh nghiệp tiêm năng tham gia

Trang 39

cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên một thị trường khi giả của hàng hóa hay dịch vụ đótăng Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn thiếu quy định về rào cản mở rộng sản xuấtquan trọng không kém gì rào cản gia nhập thị trường bởi lẽ ngay cả khi việc gianhập thị trường là khó khăn đối với các doanh nghiệp mới, điều đó cũng không cónghĩa là các doanh nghiệp hiện tại sẽ gặp khó khăn khi mở rộng sản xuất một sảnphẩm nếu có sự tăng giá sản phẩm đó trên thị trường, nếu rào cản mở rộng sản xuất

là thấp, điều này có thể tác động tới khả năng thay thế về cung và phạm vi của thịtrường địa lí liên quan Cuối cùng, Luật cạnh tranh Việt Nam quy định về rào cảngia nhập thị trường để xác định thị trường địa lí liên quan nhưng lại không có quyđịnh tương tự khi xác định thị trường sản phẩm liên quan, đây thực sự là điểm thiếuhoàn thiện của pháp luật bởi vì rào cản gia nhập thị trường cũng có thể tác dộng tớikhả năng thay thế về cung và phạm vi của thị trường sản phẩm liên quan

Thứ ba, đối với vấn đề thời điểm xác định thị trường liên quan Các quy định

về việc xác định thị trường liên quan trong Nghị định số 116/2005/NĐ-CP chưa đềcập đến yếu tố thời gian.Đây là một việc làm hết sức cần thiết bởi lẽ phạm vi của thịtrường liên quan và thị phần của từng doanh nghiệp trên thị trường liên quan luônthay đổi theo thời gian và theo những biến động trên thị trường Do đó, tại thời điểmhành vi lạm dụng được thực hiện thì phạm vi thị trường liên quan có thể khác (hẹphơn hoặc rộng hơn) với thời điểm tiến hành điều tra sau đó Như vậy, mặc dù yếu tốthời gian chỉ là một khía cạnh của thị trường sản phẩm liên quan nhưng yếu tố nàylại tác động rất lớn đến phạm vi thị trường liên quan trong một vụ việc cụ thể và ảnhhưởng đến việc tính toán thị phần cũng như đánh giá sức mạnh thị trường của doanhnghiệp Việc không đề cập tới yếu tố thời gian khi xác định thị trường liên quan cóthể khiến cơ quan cạnh tranh đưa ra nhận định sai về hành vi của doanh nghiệptrong một vụ việc cụ thể và áp đặt những chế tài bất hợp lý cho hành vi đó

Trang 40

2.2 QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU

2.2.1 Quy định về xác định thị trường liên quan trong pháp luật của Liên minh Châu Âu

2.2.1.1 Những quy định chung về thị trường liên quan

Liên minh Châu Âu không có những quy định về thị trường liên quan đượcban hành trong các văn bản pháp lý như hiệp ước hoặc quy chế, sắc lệnh Địnhnghĩa và cách thức xác định thị trường liên quan được Ủy ban Châu Âu đưa ra khiđiều tra vụ việc về hạn chế cạnh tranh, và được ghi nhận trong các phán quyết củaTòa án Liên minh Kể từ khi các quy định của pháp luật cạnh tranh được ban hànhtrong Hiệp định Rome năm 1957, các thực tiễn tư pháp là nguồn luật quan trọngtrong việc đưa ra cách thức xác định thị trường liên quan Qua các vụ việc về hành

vi hạn chế cạnh tranh được phân xử tại Tòa, các thẩm phán của Liên minh Châu Âu

đã đưa ra những định nghĩa về thị trường liên quan Và cách thức xác định thịtrường liên quan cũng được Ủy ban Châu Âu hoàn thiện qua các vụ điều tra về hạnchế cạnh tranh

Trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu, Ủyban Châu Âu đã cho ban hành Thông báo về việc xác định thị trường liên quannhằm thực thi pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu (Commission Notice onthe Difinition of the Relevant Market for the Purposes of Community CompetitionLaw) đăng trên Công báo của Liên minh ngày 09/12/1997 Mục đích của văn bảnnày là nhằm chỉ dẫn về cách thức Ủy ban Châu Âu áp dụng các khái niệm về thịtrường sản phẩm và thị trường địa lý liên quan trong việc thực thi pháp luật cạnhtranh Theo đó thông báo này giúp xác định rõ phương pháp mà Ủy ban đã áp dụng

để xác định thị trường liên quan và cũng là nhằm tăng cường tính minh bạch trongviệc áp dụng pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu Thông báo của Ủy banChâu Âu nói trên chỉ có tính chất là luật mềm tuy nhiên đây là bước tiến của Ủy bantrong việc hoàn thiện khung pháp lý về thị trường liên quan Thông báo ra đời đãgiúp minh bạch hóa quy trình xác định thị trường liên quan của Ủy ban Châu Âu vàgiúp định hướng cho phương thức xác định thị trường của Ủy ban trong các vụ việc

Ngày đăng: 29/05/2016, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w