1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật Việt Nam về hành nghề luật sư

105 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 185,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, pháp luật Việt Nam về HNLS đang tồn tại một số khái niệm chưa được làm rõ hoàn toàn như: Khái niệm HNLS, khái niệm cung cấp DVPL. Vì vậy khái niệm HNLS theo pháp luật Việt Nam hiện nay thường được bao trùm trong khái niệm cung cấp DVPL. Trên cơ sở phân biệt các khái niệm đã nêu và cố gắng làm rõ khái niệm về cung cấp DVPL, Luận văn tập trung giải quyết vấn đề pháp lý của giao dịch cung cấp DVPL. Đây là hoạt động thương mại của tổ chức HNLS, thuộc phạm vi nghiên cứu trong mã nghành luật kinh tế. Việc Luận văn đôi chỗ đề cập đến vấn đề quy chế hành nghề, quy tắc nghề nghiệp chỉ với mục đích đơn thuần là làm rõ thêm thực trạng về pháp luật luật sư ở Việt Nam.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sự vận động, phát triển của xã hội văn minh, tiến bộ đang ngày càngkhẳng định và đề cao vao trò, vị trí của nghề luật sư với sứ mệnh bảo vệ công lý,đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

Có thể nói, đây là thời điểm mà xã hội Việt Nam đã dần nhìn nhận sát gầnhơn đối với vai trò của nghề luật sư theo đúng chỗ đứng mà nghề này xứng đáng

có được Người dân ngày càng tìm đến luật sư như một nhu cầu thiết thân, sốlượng luật sư, tổ chức hành nghề luật sư ngày một phát triển, nền tư pháp nướcnhà đã tạo điều kiện nhiều hơn để luật sư thể hiện tầm quan trọng của mình.Phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, vữngvàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầucải cách tư pháp và hội nhập quốc tế là một trong những chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước ta Trong những năm qua, tổ chức và hoạt động luật sư ởnước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng, lãnh đạo, chỉ đạo và tạođiều kiện hoạt động và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng

Trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020 và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thầnNghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ươngkhoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh vàbền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, đồngthời để thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/03/2009 của Ban Bí thư về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 1072/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lượcphát triển nghề luật sư đến năm 2020” với những chủ trương, chính sách lớn,các giải pháp cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm định hướng và hỗ trợ cho việc

Trang 2

phát triển nghề luật sư ở Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2020, tạo nền tảng vữngchắc cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo.

Cùng với đó là quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về nghề luật sưnhằm thể chế chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước làm hành lang pháp

lý phát triển đội ngũ luật sư, nghề luật sư ở Việt Nam phục vụ tốt hơn yêu cầucủa công cuộc cải cách tư pháp, phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế Trong đó nhiệm vụtrọng tâm và trước mắt là sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật cònkhiếm khuyết theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ luậtsư; tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề của luật sư và các

tổ chức HNLS; tăng cường vai trò đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư Tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệpluật sư trong công tác quản lý luật sư và HNLS, đảm bảo tuân thủ pháp luật,tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Tăng cường giao lưu,hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về tổ chức, hoạt động và HNLS theohướng tiếp thu, học hỏi có chọn lọc để phát triển phù hợp với các điều kiện hiệnnay ở Việt Nam Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội, để nghềluật sư ở Việt Nam phát triển ngang tầm với nghề luật sư trên thế giới, việc hoànthiện hệ thống pháp luật về nghề luật sư trở nên đặc biệt quan trọng, cấp thiết vàthực tế là không hề dễ dàng

Xuất phát từ tầm quan trọng đó và yêu cầu bức thiết của xã hội, tôi chọn đề

tài “Pháp luật về HNLS ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính vì vai trò quan trọng của luật sư trong xã hội và sự phát triển khánhanh của nghề luật sư nên đã có nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu về vấn đềnày Có thể kể ra một số đề tài đã được nghiên cứu như:

1) Luận án Tiến sĩ “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư

ở Việt nam hiện nay” của Luật sư Phan Trung Hoài

2) Đề tài “Bàn về khái niệm và đặc điểm nghề luật sư” do Luật sư PhanTrung Hoài – ĐLS Thành phố Hồ Chí Minh – thực hiện;

Trang 3

3) Đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật

về tổ chức luật sư và HNLS trong điều kiện mới ở Việt Nam”, Chủ nhiệm đề tài:Nguyễn Văn Thảo – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp;

4) Đề tài “Vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại hànhchính hiện nay”, Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Nguyễn Sỹ Giao – Viện Khoa họcthanh tra;

5) Chuyên đề “Pháp luật về luật sư nước ngoài và tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam - thực trạng và kiến nghị” do Viện nghiên cứu lập pháp thuộc

Ủy ban thường vụ Quốc Hội thực hiện;

6) Đề tài khoa học cấp cơ sở “Giải pháp đào tạo luật sư phục vụ hội nhậpkinh tế quốc tế” do Học viện Tư pháp tiến hành

Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí, như:

- Bài viết “Vai trò của Luật sư trong tố tụng hành chính” của luật sưNguyễn Thành Vĩnh

- Bài viết “Chiến lược phát triển nghề luật sư còn thiếu sót” của luật sưNgô Ngọc Trai

- Bài viết “Xóa bỏ rào cản với nghề Luật sư” của Vạn Bảo

- Bài viết “Chuyện về chiếc thẻ luật sư” của Luật sư Phan Trung Hoài Tuy nhiên các đề tài, chuyên đề và bài viết nêu trên mới chỉ cụ thể hóamột khía cạnh về HNLS ở Việt Nam Chưa có đề tài nào khái quát chungđược vấn đề “Pháp luật về HNLS ở Việt Nam”

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của luận văn là làm rõ đượccác quy chế về nghề luật sư và HNLS, hệ thống được các quy định pháp luật vềHNLS ở Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập đồng thời đề xuất hướng hoànthiện pháp luật

3.2 Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục đích cuối cùng của luận văn, cầnphải hoàn thành các mục tiêu cụ thể sau:

- Khái quát một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về luật sư và HNLS ;

- Nắm bắt được thực trạng pháp luật về vấn đề này;

Trang 4

- Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật để thấy được những bất cập củapháp luật;

- Đề ra hướng hoàn thiện pháp luật

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

4.1 Tính mới của đề tài : Vấn đề HNLS đang nhận được rất sự quan tâmcủa nhiều tổ chức, cá nhân trong xã hội hiện nay Chính vì thế đã có khá nhiều

đề tài khoa học và các bài viết về vấn đề này Tuy nhiên các công trình nghiêncứu đó chỉ đề cập đến một lĩnh vực, một khía cạnh của vấn đề HNLS Chưa cómột công trình nào khái quát được vấn đề pháp lý của các lĩnh vực, các khíacạnh nêu trên Đề tài “Pháp luật về HNLS ở Việt Nam” nghiên cứu một cáchtoàn diện, có tính hệ thống về luật sư và HNLS, các quy định pháp luật liên quanđến mọi khía cạnh của HNLS ở Việt Nam Đề tài có tính mới, và tính khái quátcao hơn các đề tài đã được thực hiện

4.2 Những đóng góp của đề tài: Đề tài giúp người nghiên cứu và nhữngngười đọc có được sự hiểu biết bao quát về HNLS ở Việt Nam cùng với nhữngquy định của pháp luật về vấn đề này Bên cạnh đó, đề tài còn mang đến cái nhìnthực tế trong thực trạng HNLS ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật tronglĩnh vực này Từ kết quả nghiên cứu vận dụng đưa ra kiến nghị xây dựng phápluật nhằm điều chỉnh một cách toàn diện những quan hệ của nghề luật sư hướngtới phục vụ tốt nhu cầu trợ giúp pháp lý của các cá nhân, tổ chức trong quá trìnhhội nhập khu vực và quốc tế

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, pháp luật Việt Nam về HNLS đang tồn tại một số khái niệmchưa được làm rõ hoàn toàn như: Khái niệm HNLS, khái niệm cung cấp DVPL

Vì vậy khái niệm HNLS theo pháp luật Việt Nam hiện nay thường được baotrùm trong khái niệm cung cấp DVPL Trên cơ sở phân biệt các khái niệm đã nêu

và cố gắng làm rõ khái niệm về cung cấp DVPL, Luận văn tập trung giải quyết vấn

đề pháp lý của giao dịch cung cấp DVPL Đây là hoạt động thương mại của tổchức HNLS, thuộc phạm vi nghiên cứu trong mã nghành luật kinh tế Việc Luận

Trang 5

văn đôi chỗ đề cập đến vấn đề quy chế hành nghề, quy tắc nghề nghiệp chỉ với mụcđích đơn thuần là làm rõ thêm thực trạng về pháp luật luật sư ở Việt Nam

6 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các nội dung sau: Những vấn đề lý luận về HNLS;Thực trạng pháp luật về HNLS ở Việt Nam; Định hướng và các giải pháp hoànthiện pháp luật HNLS ở Việt Nam Các phương pháp nghiên cứu của Luận vănđược xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt

Các phương pháp mà luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân tíchquy phạm, phân tích vụ việc, và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp, thông

kê, tập hợp các thông tin, số liệu và vụ việc; phương pháp điển hình hoá, môhình hóa các quan hệ xã hội; phương pháp hệ thống hóa các quy phạm pháp luật;phương pháp so sánh pháp luật; và phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật

Với phương pháp phân tích quy phạm, luận văn đã phân tích các quyđịnh của pháp luật hiện hành về HNLS, qua đó chỉ ra các khiếm khuyết, bấtcập Khi phân tích vụ việc, luận văn đã chỉ ra khiếm khuyết trong thực tiễn

áp dụng pháp luật Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phươngpháp phân tích Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, Luận văn

sử dụng phương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhậnthức về vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh Kết quả tổng hợp đượcthể hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh với pháp luật nước ngoài

để chỉ ra ưu nhược điểm, sự tiến bộ hay lạc hậu… hoặc so sánh giữa pháp luậthiện hành với các văn bản đã hết hiệu lực

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Các vấn đề lý luận của pháp luật vềHNLS Chương 2: Thực trạng pháp luật về HNLS ở Việt Nam Chương 3: Địnhhướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về HNLS ở Việt Nam

Trang 6

Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HNLS

1.1 Khái niệm, đặc điểm của nghề luật sư

1.1.1 Khái niệm nghề luật sư

Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nghề luật trên thế giới và ở ViệtNam có thể thấy nghề luật sư đã xuất hiện trong đời sống xã hội từ rất sớm, nóbắt đầu hình thành từ thời Hi Lạp cổ đại (khoảng 3500 - 3000 năm TCN) và bắtđầu phát triển vào thời Trung đại (khoảng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 15 sauCN) Ở thời Hy Lạp cổ đại, nghề luật sư chỉ mới được manh nha hình thành, các

bị cáo phải tự bào chữa cho mình dựa trên gợi ý từ bàn diễn văn của người biện

sư nào đó (biện sư là người được coi như làm công việc viết hộ văn bản chongười khác) Tại Roma, dù đã có nhiều người chuyên viết bài bào chữa nổi tiếngnhư Tillius Ciceron (-106 trc JC – 46 sau JC, ông có thể được coi như ông tổ củanghề luật sư)

Thời kỳ Trung đại là thời kỳ đặt nền móng cho nghề luật sư Duới triềuđại của Hoàng đế Justin đề nhất, các nguyên tắc của một ĐLS được hình thành.Việc soạn thảo và hoàn thiện những bộ quy tắc đạo đức trải dài hàng thế kỷ vàthường được viết bởi các luật sư gạo cội của Đoàn Thời kỳ này, muốn HNLS,

cá nhân người đó phải có trình độ hiểu biết nhất định và phải được Nhà nướccông nhận Từ đó mới hình thành nên thuật ngữ “luật sư”, theo tiếng pháp gọi là

“Maitre” và tạm dịch là “bậc thầy”, đồng thời cũng hình thành nên các chế độ vềthù lao Sau đó, qua quá trình hoạt động có sự phân loại theo các đặc thù: luật sư

tư vấn, luật sư tranh tụng, luật sư tập sự

Thời kỳ Phục Hưng cho tới thế kỷ thứ 18, những nguyên tắc nghề luật sư

cơ bản vẫn được duy trì và phát triển Các tổ chức luật sư tác khỏi các tổ chứcthẩm phán, đồng thời các quy tắc đạo đức nghề nghiệp được luật hóa thông quacác sắc lệnh Các luật sư bắt đầu tham gia vào việc soạn thảo các bộ luật và cácquy tắc ứng xử khác nhau Tuy nhiên, giai đoạn này, trong lĩnh vực hình sự, bị

Trang 7

cáo vẫn phải tự bào chữa và họ thường xuyên bị đánh đập, tra tấn Vai trò củaluật sư chưa được coi trọng, hạn chế ở mức tư vấn ban đầu.

Cho đến khi bắt đầu cuộc cách mạng tại Pháp năm 1789, việc tra tấn tộiphạm bị cấm ở Pháp và tính độc lập của luật sư dần được khẳng định Luật sưđược hưởng quyền miễn trừ khi tham gia bào chữa Và từ năm 1851, luật sưphải bào chữa miễn phí cho các đối tượng khó khăn Thời kỳ Đệ tam Cộng hòa(1870 - 1940) là thời kỳ phát triển rực rỡ của giới luật sư Pháp Trong số 23Tổng thống thời kỳ này thì có 11 người là luật sư [8]

Nguồn: Luật sư Vũ Văn Tính ( Paris ngày 10 tháng 10 năm 2013)

[*] Bài viết này có tham khảo các tài liệu: “Les avocats à travers l’histoire” trên trang web www.avocats.fr; “Thi cử và nền giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc Pháp” của tác giả Trần Bích San; “Cuộc đời anh hùng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” – Báo GTVT ngày 5 tháng 10 năm 2013.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm luật sư và HNLS:

Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố HồChí Minh định nghĩa, luật sư là “người có chức trách dùng pháp luật bào chữacho bị can trước Tòa án) [51, tr970] Theo cách hiểu dân gian, Luật được hiểu làluật pháp, “sư” nghĩa là “thầy”, luật sư được hiểu là người thầy về luật pháp Ở

cả hai cách hiểu này, mới đề cập đến một khía cạnh cụ thể luật sư trong hoạtđộng bào chữa tại Tòa án hay trình độ của người luật sư mà chưa giải thích đượctoàn diện về nghề luật sư

Một quan điểm khác cho rằng “luật sư là người hành nghề liên quan đếnlĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định củamỗi quốc gia” [8] Ở khái niệm này, việc chỉ ra rằng luật sư là người hành nghềliên quan đến lĩnh vực pháp luật nói chung đã đồng hóa nghề luật sư với nhữngngười làm pháp luật khác như thẩm phán, kiểm sát viên (ở Việt Nam), công tốviên (ở Mỹ), ủy viên công tố (ở Cộng hòa Czech)…

Tại Điều 2 Luật Luật sư 2006 định nghĩa về Luật sư như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực

Trang 8

hiện DVPL theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).” [ Luật Luật sư 2006]

Ở khái niệm này, có đề cập tới công việc cụ thể của luật sư đó là “DVPL”,vậy DVPL là gì? Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (viếttắt là GATS) liệt kê các loại DVPL, trong khuôn khổ này, các loại DVPL được

đề cập đến đều mang tính thương mại Theo WTO, DVPL là một phân ngànhcủa Dịch vụ kinh doanh Tại Bảng phân loại các ngành dịch vụ này, dịch vụpháp luật được chia thành nhiều loại: Dịch vụ tư vấn và tranh tụng trong nhiềulĩnh vực pháp luật; dịch vụ tư vấn và tranh tụng liên quan đến luật hình sự; dịch

vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục tại tòa án liên quan đến các lĩnh vực phápluật khác; dịch vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục theo quy định của luậtthành văn tại các tổ chức mang tính chất tòa án; dịch vụ cung cấp và chứng nhận

hồ sơ pháp luật; dịch vụ khác về thông tin pháp luật và tư vấn

Theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, “DVPL là loại hìnhdịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên mônpháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện nhằm đápứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tổchức, cá nhân trong xã hội”

Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, “DVPL là tổng thể các dịch vụ tư vấnpháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý… những người đủ tiêu chuẩn để cung cấpDVPL chỉ có thể là luật sư” Theo đó, phạm vi DVPL được xác định gồm: Dịch

vụ tư vấn pháp luật; dịch vụ đại diện pháp lý (trong tố tụng tư pháp, trong thủtục hành chính, tố tụng trọng tài và đại diện theo ủy quyền về những vấn đề liênquan đến pháp luật; các hoạt động DVPL khác như soạn thảo hợp đồng, các giấy

tờ pháp lý… [47, tr46]

Theo TS Nguyễn Văn Tuân thì “phạm vi DVPL bao gồm DVPL của luật

sư với bốn lĩnh vực hành nghề như pháp luật hiện hành quy định đó là: Tư vấnpháp luật, tranh tụng, đại diện, DVPL khác và DVPL của tổ chức, đoàn thể xãhội với hoạt động chủ yếu là tư vấn pháp luật theo Nghị định 65/NĐ-CP ngày11/6/2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật” [46, tr18]

Trang 9

Theo TS Đặng Vũ Huân “DVPL là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật

và dịch vụ đại diện pháp lý được định lập và thực hiện theo quy định của phápluật của nước nơi các dịch vụ đó được định lập và có thể được thực hiện trongcác lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng khác nhau của hệ thống phápluật quốc gia” [18, tr10]

Tác giả Nguyễn Như Chính có quan điểm rằng “dịch vụ thương mại pháp

lý là loại hình dịch vụ liên quan tới lĩnh vực pháp luật mà công việc của bêncung ứng dịch vụ cho khách hàng để hưởng lợi nhuận có liên quan chặt chẽ vớicác vấn đề pháp luật, quyền và nghĩa vụ theo pháp luật mà bên sử dụng dịch vụquan tâm’’

Có thể nhận thấy rằng, các quan điểm nêu trên đều tiếp cận DVPL dướigóc độ thương mại Theo đó các đặc điểm cơ bản của DVPL là một hoạt độngthương mại, có cung có cầu, chủ thể thực hiện DVPL phải đáp ứng được nhữngđiều kiện theo quy định của pháp luật, đối tượng mà DVPL hướng đến là quyđịnh của các lĩnh vực pháp luật và quá trình thi hành pháp luật trong đời sống.Với quan niệm về DVPL như vậy thì hiện nay, chủ thể cung cấp DVPL bao gồm

cả tổ chức HNLS, tổ chức công chứng, tổ chức thừa phát lại… Tuy nhiên, trongphạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động cung cấp DVPL của nghềluật sư, các vấn đề phát sinh và liên quan đến DVPL do nghề luật sư cung cấp

Từ sự phân tích những quan điểm, khái niệm về luật sư và DVPL nêu trên,trong phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài, tác giả có thể đưa ra khái niệm về

nghề luật sư như sau: Nghề luật sư là hoạt động nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS trong việc cung ứng DVPL cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng DVPL với mục đích nhận thù lao.

Như vậy, tác giả loại trừ hoạt động của luật sư, tổ chức HNLS khi thựchiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý với tráchnhiệm xã hội của luật sư, tổ chức HNLS và các hoạt động khác không nhằmcung cấp DVPL để nhận thù lao

1.1.2 Đặc điểm của nghề luật sư

Trang 10

Thứ nhất, hoạt động HNLS mang tính chất thương mại hành nghề chủ yếu

bằng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn chứ không phải là vốn vậtchất Đây là hoạt động nghề nghiệp có sinh lợi nhuận Đặc điểm này biểu hiện ởchỗ nghề nghiệp mà luật sư hoạt động mang tính chất dịch vụ (DVPL) và là loạihình dịch vụ có thù lao, theo đó người sử dụng DVPL phải trả cho người hoạtđộng nghề luật sư một khoản thù lao theo thỏa thuận hoặc theo quy định của phápluật Người hoạt động nghề nghiệp sử dụng thù lao này như một nguồn thu nhập

và phải nộp thuế Mặt khác, tổ chức HNLS cung cấp DVPL được tổ chức và hoạtđộng như loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, ở hầu hết các nước trong đó

có cả Việt Nam đều ghi nhận mô hình hoạt động nghề nghiệp luật sư dưới dạngnày trong Hiệp định chung về thương mại, dịch vụ GATS của WTO, hiệp địnhthuơng mại Việt Mỹ hay hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, hoạtđộng nghề nghiệp này vẫn được hưởng một cơ chế đặc thù riêng so với các loạihình dịch vụ thông thường do đây là lọai hình kinh doanh dịch vụ về pháp luật(một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng của một quốc gia, là cầu nối giữaNhà nước và người dân)

Thứ hai, hoạt động HNLS trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc

đạo đức nghề nghiệp luật sư Là loại hình kinh doanh các dịch vụ về pháp luật,tuy nhiên, HNLS cũng phải tuân theo hành lang quy định của pháp luật Luật sưđược cấp chứng chỉ hành nghề hay tổ chức HNLS đăng ký hoạt động phải đápứng điều kiện, tiêu chuẩn được quy định trong các văn bản pháp luật, hoạt độngHNLS trong phạm vi pháp luật quy định, không được vi phạm những điều phápluật cấm, đồng thời hoạt động HNLS được quản lý bởi cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền Luật sư, tổ chức HNLS trong quá trình hành nghề phải ứng

xử theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong các quan hệ với khách hàng, đồngnghiệp, tổ chức và xã hội Đây là các nguyên tắc đặc thù xuất phát từ vai trò tựquản của tổ chức nghề nghiệp luật sư, các quy tắc này do tổ chức xã hội nghềnghiệp của luật sư đặt ra và được thực hiện trước hết bởi sự tôn trọng của mỗithành viên luật sư với nghề nghiệp của mình Đồng thời, các quy tắc ứng xử này

có sức chi phối mạnh mẽ đến uy tín, danh dự của luật sư Việc tôn trọng và thực

Trang 11

hiện nghiêm túc quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư có tính chấtquyết định đến chất lượng DVPL và luật sư cung cấp cho khách hàng.

Thứ ba, hoạt động HNLS mang tính nhân văn sâu sắc

Giống như các hoạt động nghề nghiệp khác, nghề luật sư hình thành, tồn tại

và phát triển trong lịch sử xã hội loài người để nhằm phục vụ con người Sự hìnhthành của nhà nước đặt ra yêu cầu quản lý xã hội và pháp luật được lựa chọn làcông cụ thực hiện nhiệm vụ quản lý đó Các quan hệ phát sinh trong xã hội đượcNhà nước điều chỉnh bằng pháp luật Luật sư, với tư cách một nghề cung cấpDVPL cho cá nhân, tổ chức sẽ phổ biến pháp luật, giải thích, trang bị cho kháchhành của mình tri thức pháp luật, củng cố ý thức chấp hành pháp luật cho kháchhành của mình Đồng thời, với sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật, luật sư bảo vệquyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình trong các quan hệ của đời sống xãhội khi phát sinh tranh chấp hoặc phòng ngừa rủi ro về pháp lý khi tham gia cácquan hệ đó Các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng ở đây chính là nhân quyền,các quyền của công dân được pháp luật tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm, là tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản… quyền của tổ chức được pháp luậtquy định Là một nghề pháp luật trong hệ thống tư pháp, nghề luật sư giống nhưcác nghề khác như: Tòa án, kiểm sát, thi hành án… luật sư có chức năng và sứmạng bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế trong nhà nước pháp quyền đảm bảo chopháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, công bằng với đầy đủ bản chấtnhân văn của pháp luật Luật sư, khi tham gia tố tụng dù ở vai trò bào chữa haybảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự thì đều góp phần phân tích,đánh giá các tình tiết vụ án, chứng cứ, các yếu tố pháp lý khác nhằm làm sáng tỏ

sự thật khách quan, từ đó giúp cho pháp luật được áp dụng đúng đắn, xét xử đúngngười, đúng tội Người có quyền, lợi ích bị xâm phạm thì được bồi thường xứngđáng, người vi phạm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và chấp hành các hình phạt

mà pháp luật quy định Như vậy, vai trò bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cácchủ thể pháp luật trong quan hệ mà Nhà nước điều chỉnh thông qua pháp luật vàvai trò bảo về pháp luật, pháp chế trong nhà nước pháp quyền là hai nhiệm vụsong hành có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Bởi vậy, tính nhân văn của nghề

Trang 12

nghiệp luật sư bất luận trong trường hợp nào cũng được coi là đặc tính vốn cómang tính bản chất nghề nghiệp Đối tượng của nghề nghiệp luật sư, vì thế khôngđơn thuần mang tính dịch vụ và chỉ nghĩ đến việc kiếm lời từ dịch vụ đó, màtrước hết chính là nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng, sự bảo đảm quyền lợi của tổchức, cá nhân cần được sự trợ giúp pháp lý.

Thứ tư, nghề nghiệp luật sư là nghề tự do và đề cao vai trò cá nhân Đặc

điểm này thể hiện ở việc các luật sư có hoạt động hành nghề độc lập với nhau,luật sư khi hành nghề trên cơ sở kiến thức, trình độ, năng lực, kinh nghiệm và kỹnăng nghề nghiệp tự mình đưa ra quan điểm và sự trợ giúp của cá nhân mình vớikhách hàng, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả trợ giúp ấy trướcpháp luật và trước khách hàng Tùy theo nhu cầu của mình, khách hàng có thểmời một hay nhiều hơn một luật sư cùng tham gia cung cấp DVPL cho mình,tuy nhiên các luật sư này khi thực hiện DVPL đều phải chịu trách nhiệm cá nhân

về dịch vụ mình đã thực hiện hoặc nếu có sự thỏa thuận khác thì các luật sưcùng tham gia cung cấp DVPL cùng liên đới chịu trách nhiệm về kết quả củadịch vụ, tuy nhiên, sự liên đới này chỉ trong phạm vi những luật sư được mờitham gia và có sự thỏa thuận với nhau Hơn nữa, trong hoạt động nghề nghiệpcủa mình, luật sư không bắt buộc phụ thuộc vào quan điểm, ý kiến của cá nhânhay cơ quan, tổ chức nào Trong một số trườn hợp, luật sư có thể tham khảo ýkiến của các chuyên gia, người có thẩm quyền … tuy nhiên luật sư không bắtbuộc phải tuân theo mà hoàn toàn có thể đưa ra quan điểm của riêng mình trên

cơ sở phân tích, đánh giá, sự am hiểu pháp luật và kỹ năng vận dụng pháp luậtcủa mình để đạt được hiệu quả hành nghề cao nhất Bên cạnh đó, trong hoạtđộng nghề nghiệp luật sư uy tín nghề nghiệp của cá nhân luật sư đóng vai tròquan trọng trong chất lượng, hiệu quả hành nghề của luật sư đó, tức là vai trò cánhân luôn luôn được xem trọng và đề cao

Thứ năm, nghề nghiệp luật sư mang tính xã hội rộng rãi Có thể nói trong

bất cứ mối quan hệ nào trong đời sống pháp luật để được điều chỉnh bằng phápluật, vì vậy, liên quan đến bất cứ lĩnh vực nào, quan hệ nào trong trường hợpnhất định đều cần sử dụng DVPL của luật sư Như vậy, đối tượng hướng đến của

Trang 13

nghề luật sư bao gồm hấu hết các đối tượng là cá nhân hay tổ chức bất cứ khinào đều có thể gặp vấn đề về pháp lý cần được hỗ trợ, bất cứ lĩnh vực nào, mốiquan hệ nào cũng cần đến DVPL của nghề luật sư, bên cạnh những quan hệthông thường như: dân sự, hình sự, thương mại, lao động, hành chính … thậmchí cả những quan hệ quốc tế giữa các quốc gia cũng cần đến DVPL của luật sư.Lúc này, DVPL của luật sư không chỉ bó hẹp trong phạm vi pháp luật của mộtquốc gia nữa mà là pháp luật nước ngoài khi khách hàng có hoạt động đầu tư,giao dịch thương mại, vi phạm pháp luật nước ngoài… và pháp luật quốc tếtrong phạm vi các Điều ước quốc tế, công ước quốc tế, Hiệp định… mà quốc giamình hoặc quốc gia có yêu cầu DVPL của mình ký kết

Thứ sáu, người HNLS đòi hỏi phải có tính chuyên nghiệp, có trình độ

chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý, kiến thức xã hội và kỹ năng hành nghề.Với vai trò bảo về quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể pháp lý,nghề luật sư yêu cầu người hành nghề phải đạt được trình độ chuyên môn vềpháp lý sâu, rộng, trình độ pháp lý của luật sư không dừng lại ở mức độ biết,hiểu quy định của pháp luật mà đòi hỏi phải giải thích, phân tích, đánh giá được

để vận dụng trong thực tế cho từng sự kiện pháp lý cụ thể, đồng thời, luật sư cònđánh giá được mức độ hợp lý, hợp pháp của quy định pháp luật đó Các chủ thểpháp luật mà luật sư bảo vệ có thể là bất cứ cá nhân, tổ chức nào thuộc các đốitượng khác nhau, sự kiện pháp lý mà họ đang yêu cầu luật sư trợ giúp có thểthuộc bất cứ ngành, nghề, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nào, vì vậy bên cạnh kiếnthức chuyên sâu về pháp luật, luật sư cần phải có tích lũy hiểu biết về kiến thức

xã hội để phục vụ cho hoạt động hành nghề của mình Trên thực tế cho thấy, kỹnăng hành nghề của luật sư là yếu tố đặc biệt quan trọng bên cạnh kiến thứcpháp lý, kiến thức xã hội để luật sư có thể đánh giá, nhận định sự thật kháchquan về sự kiện pháp lý của khách hàng mình để đưa ra dịch vụ hiệu quả nhấtcho khách hàng

1.1.3 Vai trò của nghề nghiệp luật sư trong đời sống xã hội

Với hoạt động cung cấp DVPL của mình, nghề nghiệp luật sư thể hiện vaitrò quan trọng của mình trong đời sống xã hội Trước hết, là loại hình nghề

Trang 14

nghiệp dịch vụ, nghề nghiệp luật sư cũng giống như các loại hình dịch vụ khác

có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu của con người, giảiquyết việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước… Tuy nhiên, với đặc thùnghề nghiệp, nghề luật sư còn được ghi nhận với những vai trò sau:

Thứ nhất, trong việc bảo vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự

trước Tòa.Trong lịch sử, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của bị can, bị cáo và các đương sự tại tòa không phải mọi lúc, mọi nơiđược tôn trọng Ở những nước mà mối quan hệ giữa con người với con người bịảnh hưởng của tâm linh, thần cảm thì nghề luật sư chậm phát triển, ví dụ như ởcác nước Hồi giáo nghề luật sư ít phát triển, thâm chí không có nghề luật sư.Ngược lại, ở các nước dân chủ và phát triển tiến bộ thì nghề luật sư lại giữ vaitrò rất quan trọng để đảm bảo công lý mọi người dân khi tham gia tố tụng đều có

sự giúp đỡ từ phía những nhà pháp luật chuyên nghiệp là luật sư Theo ngườidân ở những đất nước này thì luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho kháchhàng, cho cá nhân, phải đặt quyền lợi của cá nhân cao hơn hoặc bằng quyền lợicủa cộng đồng xã hội

Trên thế giới, nghề luật sư được tổ chức theo nhiều hình thức và rất đadạng xuất phát và tùy theo đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ cũng như hệthống pháp luật của mỗi nước Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về nghềluật sư nhưng đều có chung một điểm cho rằng, luật sư là một nghề trong xã hội,

là công cụ hữu hiệu góp phần bảo đảm công lý Thông thường người dân bị hạnchế bởi trình độ văn hóa, nhận thức, điều kiện sống, tập tục… đặc biệt là khôngđược đào tạo bài bản, chuyên nghiệp dẫn đến sự hiểu biết pháp luật cũng hạnchế, trong những sự kiện pháp lý nhất định không tự bào chữa, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Tổ chức HNLS được thành lập để giải quyết nhu cầuđược hỗ trợ về mặt pháp lý bằng những DVPL chuyên nghiệp, trình độ am hiểupháp luật chuyên sâu

Thứ hai, trong hoạt động tư vấn pháp luật Luật sư trước hết là một

chuyên gia pháp luật, họ vận dụng pháp luật bằng tư duy pháp lý khoa học, trình

độ hiểu biết sâu sắc các quy định của pháp luật và bằng kỹ năng nghề nghiệp Sự

Trang 15

hội tụ của các yếu tố đó khiến luật sư trở thành nhà cố vấn pháp luật tin tưởngcho các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội hay trong một sựkiện pháp lý cụ thể Hoạt động tư vấn pháp luật là hoạt động thường xuyên củaluật sư, tùy từng sự việc cụ thể, hoạt động tư vấn của luật sư có thể là đưa ra ýkiến pháp lý bằng miệng, bằng văn bản, hướng dẫn khách hàng hiểu biết đầy đủ

về quyền, lợi ích cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của mình theo quy định củapháp luật, từ đó có những ứng xử phù hợp theo đúng pháp luật Hoạt động tưvấn của luật sư cũng có thể là hoạt động soạn thảo các hợp đồng, di chúc, đơnhay các văn bản khác có liên quan đến pháp luật phục vụ cho việc giải quyết sựkiến pháp lý của khách hàng

Thông qua dịch vụ tư vấn pháp luật của luật sư trang bị cho các chủ thểquan hệ pháp luật kiến thức pháp luật đầy đủ hơn, từ đó tăng cường ý thức tuânthủ pháp luật, phòng ngừa các tranh chấp có thể phát sinh, ngăn chặn nhữnghành vi vi phạm pháp luật, giảm áp lực giải quyết cho các cơ quan quản lý nhànước, tiết kiệm ngân sách… và một vai trò quan trọng hơn đó là, hoạt động tưvấn pháp luật tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, minh bạch, ít rủi ro gópphần thu hút đầu tư cho các tổ chức trong và ngoài nước thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội Đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế phẳng, các quốc gia có xuhướng hội nhậo quốc tế sâu, rộng thì nhu cầu tư vấn pháp luật của nước sở tại làcấp thiết hơn bao giờ Đây cũng là một trong những DVPL quan trọng mà chỉ cócác tổ chức HNLS mới đủ sức cung cấp một cách chuyên nghiệp và đáp ứng đầy

đủ niềm tin, sự mong đợi của khách hàng

Ở khía cạnh quản lý nhà nước, hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư gópphần tích cực trong việc đưa pháp luật vào trong đời sống xã hội một các toàndiện, chính xác, bảo đảm được sự công bằng, dân chủ với đúng bản chất, ýnghĩa, vai trò vốn có của pháp luật

Thứ ba, hoạt động HNLS là nhân tố tích cực tham gia tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật, xây dựng và hoàn thiện pháp luật Có thể nói, bất cứmột quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực nào, khi có sự kiện pháp lý xảy ra, luật sưtiếp nhận yêu cầu của khách hàng và phải nghiên cứu, tìm tòi, phân tích kỹ

Trang 16

lưỡng, đánh giá khách quan cả về mặt khoa học pháp lý và hoàn cảnh thực tiễn.Luật sư, ngoài việc đánh giá sự việc theo con mắt của người làm luật thì còn mộtgóc nhìn khác đó là sự thật khách quan mà ở đó, có thể luật pháp đã điều chỉnhđúng hoặc không đúng, đầy đủ hoặc chưa đầy đủ và cũng có thể là chưa đượcđiều chỉnh bởi pháp luật Lúc này, ý kiến của luật sư mang tính phản biện thiếtthực tới các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà làm luật và đây chính là nguồntài liệu thực tiễn vô cùng phong phú để giúp các nhà làm luật ngày càng hoànthiện hệ thống pháp luật hơn.

1.2 Khái niệm pháp luật về HNLS

1.2.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật về HNLS

Cho đến nay, ít có quan điểm nào đưa ra xem xét pháp luật về HNLS dướidạng một định nghĩa hoàn chỉnh Từ định nghĩa về nghề luật sư và những tínhchất đặc thù, trên cơ sở phân lý luận chung về pháp luật, Tiến sĩ Phan Trung

Hoài đã đưa ra Khái niệm pháp luật về luật sư như sau: “Pháp luật về luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan THTT và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành” [Luận án tiến sĩ “cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật

về luật sư hiện nay]

Ở đây, mặc dù có sự khác nhau về câu từ, chữ mà tác giả sử dụng, “phápluật về luật sư” và “pháp luật về HNLS”, tuy nhiên, xem xét tổng thể nội dungnghiên cứu có thể thấy sự tương đồng Khi nghiên cứu pháp luật về luật sư,trong luận án của mình, tiến sĩ Phan Trung Hòai cũng xem xét tổng thể các quyđịnh của pháp luật về tổ chức, hoạt động của luật sư Luật sư, đặt trong các mốiquan hệ mà pháp luật điều chỉnh gắn liền với hoạt động HNLS Người có đủđiều kiện, tiêu chuẩn được làm luật sư theo quy định thì trong hoạt động hànhnghề được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về luật sư hay có thể gọi làpháp luật về HNLS

Trang 17

Với khái niệm như nêu ở trên, Tiến sĩ Phan Trung Hoài đã liệt kê cụ thểcác mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động luật sư, lấy luật sư

là trung tâm trong các mối quan hệ với: Khách hàng, cơ quan THTT, cơ quan cóthẩm quyền khác, về quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hộinghề nghiệp của luật sư

Theo quan điểm của tác giả, giống như bất cứ loại hình nghề nghiệp nào,khi pháp luật điều chỉnh thì trước hết cần xác định cho nó một vị trí pháp lý, tức

là định vị nó là cái gì? Nó có vai trò, chức năng như thế nào? Từ đó đặt ra hànhlang pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh Như vậy, như khái niệm màTiến sĩ Phan Trung Hoài đưa ra, các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức

và hoạt động của luật sư mà pháp luật cần điều chỉnh chỉ gói trong quan hệ giữa

“luật sư với khách hàng, với cơ quan THTT, và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành”, sự liệt kê này chưa đầy đủ,

bởi lẽ ngay bản thân “luật sư”, “HNLS”, “tổ chức HNLS”… là những vấn đề rất

cơ bản mà pháp luật phải định vị để xác định các mối quan hệ xã hội phát sinh

Có nghĩa là, việc định vị “luật sư”, các chủ thể của pháp luật về HNLS mới cóvai trò quan trọng và trung tâm Hơn nữa, với những đặc điểm rất riêng của nghềluật sư, với vai trò và vị trí quan trọng trong nền tư pháp cùng các chức danh tưpháp khác, việc điều chỉnh các điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành luật sư, đểHNLS cũng như các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của luật sư, phạm vi hoạtđộng, hình thức hành nghề … cũng là những vấn đề rất cần thiết

Vì vậy, trên cơ sở quan điểm của Tiến sĩ Phan Trung Hoài về pháp luật vềLuật sư, đứng dưới góc nhìn kinh tế, tác giả đưa ra quan điểm của mình như sau:

“Pháp luật về HNLS là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh liên quan đến luật sư, tổ chức HNLS và hoạt động cung cấp dịch vụ vụ pháp lý của luật sư, tổ chức HNLS do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành”

Nhiều nước trên thế giới có đạo luật riêng điều chỉnh về tổ chức và HNLSvới tên gọi gắn với thuật ngữ “luật sư” hoặc “HNLS”, ví dụ: Đạo luật về HNLS

Trang 18

năm 1984 (được sửa đổi năm 2011) của Singapore; Đạo luật về luật sư (B.E2528) năm 1995 của Thái Lan; Luật về luật sư năm 1996 của Cộng hòa nhândân Trung Hoa, sửa đổi ngày 28/10/2007; Luật về HNLS số 205 năm 1949 củaNhật Bản, sửa đổi ngày 24/6/201; Luật HNLS số 3594 năm 1982 của Hàn Quốc;

Bộ luật về hành nghề của ĐLS Vương quốc Anh và xứ Wales; Luật về cải cáchHNLS năm 1991 của Cộng hòa Pháp; Luật về hành nghề pháp lý số 109 năm

1987 của Bang New South Wales của Australia sửa đổi ngày 19/8/2005

1.2.2 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật của hoạt động HNLS

Hoạt động HNLS trên thực tế phát sinh xung quan nó rất nhiều quan hệ xãhội, có những quan hệ chỉ phát sinh trong trong hoạt động luật nhưng lại diễn rathường xuyên mà bất cứ cá nhân luật sư nào, tổ chức luật sư nào hay đều nằmtrong trong mối quan hệ ấy, nói cách khác, đây là những quan hệ mang tính chấtđiển hình, phổ biến trong nghề luật sư, để có một chuẩn mực xử sự chung chocác chủ thể đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của pháp luật Tuy nhiên, bên cạnh đó

có những quan hệ phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp luật sư nhưng mangbản chất của quan hệ pháp luật khác và đã được điều chỉnh bởi các các quyphạm pháp luật chuyên ngành khác hoặc được điều chỉnh bởi các quy phạm đạođức, quy pháp xã hội khác thì không nhất thiết phải điều chỉnh trong quy địnhpháp luật luật sư Có nhiều cơ sở, tiêu chí để xác định những mối quan hệ phátsinh trong HNLS cần điều chỉnh bởi pháp luật về nghề luật sư và những mốiquan hệ không cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật, chúng ta có thể xác địnhtrên các cơ sở cơ bản như sau:

Về cơ sở chính trị, từ phía nhà nước đặt ra những yêu cầu cần điều chỉnh

hoạt động HNLS trước hết là để thể hiện vai trò trò đại diện quản lý, duy trì mộttrật tự xã hội của một quốc gia và thực hiện trách nhiệm bảo đảm các quyền tự

do cơ bản của công dân và con người, đặc biệt trong nhà nước pháp quyền, cácgiá trị công bằng và dân chủ luôn được coi trọng và bảo đảm thi hành, khi cácquyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp thì tất yếuđòi hỏi một hệ thống quy định pháp luật dành cho nghề luật sư với vai trò làphương tiện để thực thi dân chủ và thực hành công lý, bảo đảm công bằng và

Trang 19

khuyến khích tôn trọng quyền của con người, quyền của công dân trong vị trí làđối tượng quản lý của nhà nước.

Tiếp theo, sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động nghề nghiệp làmột sự bảo đảm của nhà nước cho sự phát triển ổn định, lâu dài với hoạt độngnghề nghiệp này phù hợp với định hướng của nhà nước và phù hợp với thể chếchính trị, sao cho người HNLS, tổ chức HNLS được đảm bảo các giá trị thụhưởng quyền lợi vật chất, tinh thần, sự tôn vinh xứng đáng của xã hội nhằm tạo

ra sự phát triển ổn định phù hợp với mục tiêu, chức năng nghề nghiệp Theo đó,các vấn đề cơ bản như điều kiện, tiêu chuẩn để HNLS, phạm vi HNLS, quyền vànghĩa vụ của luật sư, các hành vi bị cấm, các yêu cầu về chất lượng cung cấpDVPL và tuân thủ quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư, các điều kiệnđảm bảo cho luật sư hành nghề, nội dung quản lý nhà nước về HNLS… Sự điềuchỉnh này nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư cả về số lượng và chấtlượng Có thể nói, ở đa số các quốc gia, tiêu chuẩn để một người có thể hànhnghề luật là rất cao Để trở thành luật sư, người đó phải trải qua đào tạo cử nhânchuyên ngành luật, đào tạo nghiệp vụ luật sư và phải có quá trình tập sự HNLS.Quá trình này kéo dài liên tục ít nhất khoảng 8 năm, sau 8 năm ấy, người tập sựHNLS phải trải qua kì kiểm tra ngặt nghèo về cả kiến thức chuyên môn cũngnhư kỹ năng nghề nghiệp, vựơt qua được kì kiểm tra này mới đáp ứng được điềukiện, tiêu chuẩn trở thành luật sư và được phép HNLS

Một nhu cầu nữa xuất phát từ phía nhà nước đó là tận dụng vai trò củanghề luật sư trong việc đóng góp cho ngân sách (tiền thuế, phí, lệ phí, ủng hộ,tài trợ…) và những giá trị xã hội mà nghề luật sư mang lại như: góp phần nângcao nhận thức, ý thức pháp luật của các tổ chức, cá nhân; góp phần tạo ra môitrường đầu tư lành mạnh, ít rủi do và đối với hoạt động tư pháp, nghề luật sư lànhân tố quan trọng góp phần giảm oan sai, tiết kiệm kinh phí cho việc xét xử,bảo đảm sự công bằng, khách quan trong việc thực hiện pháp luật

Cơ sở kinh tế, dưới góc nhìn thương mại, nghề nghiệp luật sư cũng giống

như các loại hình nghề nghiệp khác cần được điều chỉnh bằng pháp luật trướchết để bảo đảm một trật tự khi hành nghề, đảm bảo duy trì quyền lợi, nghĩa vụ

Trang 20

của các chủ thế trong quan hệ ấy và đảm bảo cho việc quản lý nhà nước Đặcbiệt trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các chủ thể Trong bất cứhoạt động thương mại nào thì hiệu suất và hiệu quả kinh tế của các chủ thể đượcđặt lên hàng đầu, nghề luật sư cũng không nằm ngòai sự vận hành đó, tuy nhiênvới đặc thù nghề nghiệp, pháp luật cần đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và côngbằng xã hội trong HNLS Với sự điều chỉnh của pháp luật, hành lang pháp lýđảm bảo cho hoạt động nghề nghiệp này sinh ra lợi ích vật chất và giá trị tinhthần xứng đáng và phù hợp với cơ chế vận hành trong nền kinh tế thị trườngbằng việc quy định cơ chế linh hoạt để luật sư hưởng thù lao từ DVPL của mìnhtrong từng vụ việc cụ thể Thù lao này được ước tính trên cơ sở giá trị đầu tư,giá trị công sức, thời gian, giá trị kiến thức của luật sư và cũng đảm bảo cho chomột khoản lời nhất định Đây cũng là động lực thu hút người tham gia HNLS,cũng như là yếu tố nội tại thúc đẩy nâng cao tính chuyên nghiệp của nghề luật sưnhằm cung cấp DVPL có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được đòi hỏi củakhách hàng và xã hội, cùng với đó sẽ được thụ hưởng giá trị vật chất và tinhthần mà khách hàng và xã hội đem lại

Ở tầm nhìn rộng lớn hơn khi xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâurộng, những thách thức và cả những cơ hội trong tiến trình hội nhập quốc tế đòihỏi pháp cụ thể hóa về mặt pháp luật, tạo khuôn khổ cho các quan hệ kinh tếphát triển trong đó có pháp luật về HNLS với các hoạt động dịch vụ pháp - loạihình dịch vụ thương mại theo tiêu chuẩn WTO Khi các chủ thể tham gia nềnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tất yếu sẽ phát sinh các tranh chấp, xungđột về quyền lợi và các bất cập giữa các hệ thống pháp luật giữa các quốc giahay điều ước quốc tế Lúc này, cần phải có hành lang pháp lý để luật sư phát huyđược vai trò và tính chuyên nghiệp trong hoạt động của mình cũng như có cơchế, chính sách bảo đảm sự cạnh tranh giữa luật sư trong nước và luật sư nướcngoài trong hoạt động nghề nghiệp ở trong nước hoặc quốc tế

Cơ sở xã hội của nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với nghề luật sư,như ở trên tác giả đã đề cập đến những vai trò rất quan trọng của nghề nghiệpluật sư đối với đời sống xã hội Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động

Trang 21

nghề nghiệp này cũng chính là việc tạo điều kiện để luật sư phát huy đầy đủ vaitrò của mình Vai trò của nghề luật được thể hiện thông qua hoạt động cung cấpDVPL của luật sư, qua đó một số mặt của đời sống xã hội được thúc đẩy nhờ cóhoạt động nghề nghiệp luật sư như: Vấn đề đảm bảo quyền con người, quyềncông dân, đảm bảo dân chủ, công lý, công bằng xã hội; đảm bảo pháp luật đượcthực thi nghiêm túc, toàn diện, góp phần phổ biến, giáo dục pháp và hoàn thiện

hệ thống pháp luật… Sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật đối với đặc thù nghềnghiệp sẽ có tác động tích cực tạo điều kiện cho luật sư phát huy tối đa vai tròcủa mình Pháp luật về luật sư vì thế phải thiết lập vị trí, vai trò đối với xã hộicủa nghề luật sư, đội ngũ luật sư phải thực sự tham gia và trở thành lực lượngthúc đẩy sự phát triển của dân chủ và xã hội

1.3 Những vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật về nghề luật sư

Hay nói cách khác chính là phạm vi điều chỉnh của pháp luật về luật sư

Từ sự phân tích cơ sở xác định nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật trong hoạtđộng nghề nghiệp luật sư, có thể xác định các vấn đề pháp lý cơ bản cần điềuchỉnh trong pháp luật về luật sư như sau: Khái niệm luật sư; Nguyên tắc HNLS;Điều kiện HNLS; Tiêu chuẩn và thủ tục công nhận luật sư; Đào tạo nghề luật sư

và tập sự hành nghề; Các hình thức hành nghề của luật sư, quyền và nghĩa vụcủa luật sư; Các loại hình tổ chức HNLS; Đạo đức nghề nghiệp, bảo hiểm tráchnhiệm nghề nghiệp của luật sư; Hành nghề của luật sư nước ngoài; Thù lao vàchi phí; Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luậtluật sư, giải quyết khiếu nại của luật sư; Một số quy định khác liên quan đếnhoạt động hành nghề của luật sư

Ngoài đạo luật về luật sư, một số nước trong khu vực châu Á còn có vănbản quy phạm pháp luật riêng quy định về tổ chức luật sư toàn quốc, về hànhnghề của luật sư nước ngoài Ví dụ: Luật về LĐLS Nhật Bản, Quy chế về hoạtđộng của Văn phòng đại diện luật sư nước ngoài tại Trung Quốc (năm 2002)

1.3.1 Những vấn đề pháp lý chung

a) Nguyên tắc HNLS: Là những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, làm nền

tảng để xây dựng các quy phạm pháp luật khác trong việc điều chỉnh hoạt động

Trang 22

nghề nghiệp luật sư, các quy phạm trong pháp luật luật sư phải đảm bảo phù hợpvới những nguyên tắc này Những nguyên tắc này thông thường là những địnhhướng mà nhà nước mong muốn và qua đó cũng thể hiện nhận thức, quan điểmđiều chỉnh của nhà nước về nghề luật sư Ví dụ: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật

và quy tắc đạo đức nghề nghiệp; độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật kháchquan; bảo đảm dịch vụ tốt nhất cho khách hàng; chịu trách nhiệm trước phápluật về hoạt động hành nghề

b) Quản lý HNLS: Quản lý HNLS được thực hiện bởi hai chủ thể là nhà

nước và tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư Hai sự quản lý này là khácnhau, nhà nước thực hiện việc quản lý với hoạt động hành nghề sao cho nghềnghiệp đó duy trì và phát triển theo định hướng, yêu cầu, mục đích của mình,trên cơ sở đó, nhà nước đảm bảo cho các quy định pháp luật mà mình đề ra đượcthực thi nghiêm túc, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả Tổ chức xã hội nghề nghiệpluật sư là tổ chức hội của các luật sư được thành lập để làm nơi sinh hoạt nghềnghiệp, thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng hành nghề của cácluật sư, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của luật sư thành viên; tổ chức xã hộinghề nghiệp quản lý hoạt động HNLS bằng hình thức tự quản, nghĩa là nhữngquy tắc xử sự do các luật sư thành viên thống nhất xấy dựng, thông qua và làmchuẩn mực ứng xử Các quy tắc này được các luật sư thành viên thực hiện trêntinh thần tự nguyện, các quy tắc, thiết chế xử lý vi phạm có giá trinh trong tổchức xã hội nghề nghiệp luật sư

Để đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý luật sư, cần phải kết hợp chặt chẽhai chế độ này nhằm bảo đảm cho hoạt động HNLS ngày càng phát triển

1.3.2 Những vấn đề pháp lý cụ thể

a) Điều kiện HNLS: Theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới,

thì điều kiện HNLS bao gồm chứng chỉ công nhận luật sư và gia nhập một ĐLShoặc tổ chức luật sư ở Trung ương Như vậy, để được HNLS thì điều kiện cần làphải được công nhận là luật sư và điều kiện đủ là đã được gia nhập một ĐLS

Công nhận luật sư là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận mộtngười có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của pháp luật và được thể hiện

Trang 23

bằng việc cấp một giấy xác nhận Ở các quốc gia khác nhau, giấy xác nhận này

có tên gọi khác nhau, cụ thể là Chứng chỉ công nhận luật sư; Chứng chỉ côngnhận đủ tiêu chuẩn HNLS, Chứng chỉ HNLS, Giấy phép HNLS Tuỳ thuộc vàoquy định pháp luật của mỗi quốc gia, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấpChứng chỉ cũng có sự khác nhau Có nước quy định cơ quan có thẩm quyền cấpChứng chỉ công nhận luật sư là Toà án (Anh, Mỹ, Pháp, Singapore), có nướcquy định Bộ Tư pháp (Trung Quốc) Đa số các nước tư cách luật sư là do cơquan Nhà nước có thẩm quyền công nhận Sau khi có Chứng chỉ HNLS, ngườimuốn HNLS phải gia nhập một ĐLS thì mới được phép HNLS Đa số các nướcquy định việc gia nhập ĐLS là điều kiện bắt buộc để được HNLS (Hy Lạp, Bỉ,

Mỹ, Singapore, Đức, Anh, Brazil, Canada, Pháp, Nhật, Thái Lan)

Tiêu chuẩn luật sư: Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng

nghề nghiệp của mình Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân là yếu tốquyết định trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư Người muốn HNLS phảiđược công nhận là luật sư Pháp luật các nước đều quy định chặt chẽ về tiêuchuẩn luật sư Tiêu chuẩn tối thiểu để được công nhận là luật sư bao gồm: Cóbằng cử nhân luật; Có phẩm chất đạo đức tốt

Ngoài 2 tiêu chuẩn phổ biến nêu trên thì ở các quốc gia như Hy Lạp, Bỉ,

Ý, Singapore, Anh, Thái Lan, Pháp còn quy định thêm một số tiêu chuẩn khác,như: qua khoá đào tạo nghề luật sư, tập sự HNLS, đỗ kỳ thi công nhận luật sư

b) Đào tạo nghề luật sư, tập sự HNLS và kỳ kiểm tra kết quả tập sự HNLS

Đào tạo, tập sự và kiểm tra kết quả tập sự HNLS là các tiêu chuẩn rất quan

trọng để trở thành luật sư Bởi lẽ, nghề luật sư là một nghề có nhiều đặc thù đòihỏi người HNLS phải được đào tạo nghề và tập sự hành nghề trong một thời giannhất định Quy định về đào tạo nghề, tập sự và kiểm tra kết quả tập sự HNLS ởmỗi nước có sự khác nhau do chương trình đào tạo cử nhân luật khác nhau, nộidung và yêu cầu của việc đào tạo nghề cũng khác nhau dẫn đến quy định về tập

sự cũng khác nhau Có thể phân chia quy định pháp luật của các nước về vấn đềnày thành các nhóm như sau:

Trang 24

Nhóm 1: Không bắt buộc đào tạo nghề, không bắt buộc tập sự HNLS

(Hoa Kỳ là nước quy định theo chiều hướng này) Nhóm 2: Bắt buộc đào tạo

nghề nhưng không bắt buộc tập sự HNLS (Pháp luật về luật sư của Nhật Bản,Thái Lan, Vương quốc Anh có quy định về khóa đào tạo nghề luật sư nhưng

không bắt buộc phải qua thời gian tập sự HNLS) Nhóm 3: Bắt buộc đào tạo

nghề, bắt buộc tập sự HNLS (Một số nước quy định người muốn trở thành luật

sư vừa phải qua thời gian đào tạo nghề, vừa phải qua thời gian tập sự HNLS như

Singapore, Pháp, bang New South Wales của Úc) Nhóm 4: Quy định lựa chọn

giữa đào tạo nghề và tập sự hành nghề (Bang Victoria của Úc)

b) Hoạt động HNLS

* Hình thức HNLS: Theo thông lệ nghề luật sư, luật sư khi muốn hành

nghề thì buộc phải thành lập tổ chức HNLS hoặc làm việc theo hợp đồng laođộng cho tổ chức HNLS (tổ chức HNLS là những hình thức pháp nhân được nhànước thừa nhận và cấp phép hoạt động HNLS như: văn phòng luật sư, công tyluật…) Tuy nhiên, quy định này giường như là cứng nhắc và không phù hợp vớiyêu cầu mở rộng và phát triển DVPL của luật sư trong sự vận hành của xã hộihiện tại Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu sắc, nhu cầu sửdụng DVPL luật sư của các tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước ngày càngnhiều và thường xuyên, để đảm bảo cho hiệu quả công việc, các tổ chức này đặt

ra yêu cầu tuyển dụng một hoặc một nhóm luật sư chuyên môn để thực hiện cáccông việc mà lẽ ra họ phải đi thuê DVPL của luật sư Về bản chất công việc nàyvẫn thuộc phạm vi hoạt động DVPL của luật sư, là cần thiết người làm việctrong các tổ chức này phải là luật sư để có đủ tư cách đại diện cho tổ chức khicần thiết và thực tế họ vẫn hoạt động như những luật sư thực thụ làm việc chocác tổ chức HNLS Xuất phát từ yêu cầu đó, nghề luật sư có sự cởi mở hơn, linhđộng trong hình thức hành nghề bằng việc xuất hiện, thừa nhận hình thức luật sưhoạt động hành nghề với tư cách cá nhân Sự điều chỉnh kịp thời những mốiquan hệ xã hội mới phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp luật sư của pháp luật

là hết sức cần thiết Theo đó, luật sư có thể lựa chọn hành nghề với tư cách cánhân hoặc hành nghề trong tổ chức HNLS

Trang 25

Theo quy định pháp luật của nhiều nước, hình thức tổ chức HNLS phổbiến là: Văn phòng luật sư cá nhân/hành nghề độc lập (solepractitioner/principal); Công ty hợp danh (partnership) Ngoài 2 hình thức phổbiến nêu trên thì ở nhiều nước cho phép luật sư thành lập công ty luật tráchnhiệm hữu hạn (Mỹ, Pháp, Canada, Bỉ, Singapore, Thái Lan, Đức) Bên cạnh đó,một số nước như Hy Lạp, Arhentina, Italia, Mexico, Đài Loan, Brazil, Thuỵ Sỹ,Nhật Bản, hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn không được chấp nhận vìkhông phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn đối với luật sư trong hoạt độngnghề nghiệp Đối với nghề luật sư ở Anh, Mỹ thì hình thức công ty luật hợpdanh lại rất phổ biến Một số nước còn quy định hình thức luật sư hành nghề độclập mà không cần thành lập tổ chức hành nghề (Mỹ, Anh, Singapore, Canada)hoặc cho phép hai hay nhiều luật sư biện hộ có chung văn phòng, chia sẻ một sốchi phí văn phòng nhưng không tham gia hợp danh với nhau (Italia, Đài Loan,Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ, Nhật) Ngoài ra, ở một số nước (Arhentina, Mỹ, Anh,Singapore), luật sư có thể làm thuê cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp, tổchức khác (lay client) với tư cách luật sư riêng (in-house lawyer) hoặc làm thuêcho Chính phủ thông qua hợp đồng với tư cách là người làm thuê Một đặc điểmkhác biệt là người chủ thuê luật sư đồng thời cũng là khách hàng duy nhất củaluật sư đó Hay nói một cách khác, luật sư làm thuê không được có khách hàngriêng ngoài người chủ đã thuê luật sư đó Trên thế giới có không ít luật sư làmcông ăn lương Họ làm việc cho các doanh nghiệp hoặc cho các cơ quan củaChính phủ Nét cơ bản của luật sư làm công ăn lương so với những người làmcông ăn lương khác là họ chịu sự quản lý về thời gian của người chủ thuê họ,còn về mặt nghiệp vụ họ hành nghề độc lập

Ở một số nước như Italia, Thái Lan, Đài Loan thì trong Chính phủ và các

tổ chức doanh nghiệp tồn tại một đội ngũ tư vấn pháp luật Những người nàykhông đòi hỏi phải có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như luật sư

* Hoạt động hành nghề của luật sư với tư cách cá nhân: Luật sư hành

nghề với tư cách cá nhân tất yếu sẽ có những đặc điểm khác so với luật sư hànhnghề trong tổ chức HNLS Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là việc luật sư

Trang 26

tự mình nhận vụ việc, cung cấp DVPL với khách hàng và phải chịu trách nhiệm

vô hạn với thiệt hại do lỗi của mình gây ra, giống như loại hình hộ kinh doanh

cá thể Trong hoạt động hành nghề của mình, luật sư hoạt động với tư cách cánhân được làm việc cho các cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động với vai trò

là luật sư, đây là điều mà luật sư hành nghề trong tổ chức HNLS bị hạn chế

* Tổ chức HNLS: Xuất phát từ quan điểm nhìn nhận nghề luật sư là một

nghề kinh doanh DVPL, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện đựơc lựa chọn kinh doanhngành, nghề này, điều này đảm bảo quyền tự do kinh doanh của cá nhân Ở góc độnày, pháp luật về luật sư điều chỉnh hoạt động HNLS rất gần với pháp luật vềdoanh nghiệp, cá nhân đủ điều kiện HNLS được phép lựa chọn thành lập phápnhân để tiến hành hoạt động kinh doanh hay còn gọi bằng thuật ngữ “tổ chứcHNLS” Tổ chức HNLS mang đầy đủ đặc điểm của pháp nhân thông thường, cóngười đại diện theo pháp luật và tổ chức bộ máy tùy thuộc vào loại hình pháp nhân

là doanh nghiệp tư nhân (văn phòng luật sư) hay công ty hợp danh, công ty trách

nhiệm hữu hạn (công ty luật) Ở nhiều nước trên thế giới hình thức của tổ chức

HNLS phổ biến là văn phòng luật sư cá nhân (sole practitioner/principal), và công

ty luật hợp danh (partnership) ví dụ như: Hi Lạp, Arhentina, Italia, Mexico, Thụy

sĩ, Nhật bản… ở các quốc gia này, hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạnkhông được thừa nhận vì không phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn của luật sưtrong hoạt động nghề nghiệp Ở các nước Mỹ, Pháp, Canada, Bỉ, Singapore, TháiLan, Đức không bắt buộc luật sư phải hành nghề dưới những hình thức tổ chứcnhất định mà có xu hướng đa dạng hóa hình thức tổ chức HNLS để đáp ứng yêucầu hội nhập kinh tế, quốc tế (ví dụ như ở Mỹ, Úc, Nhật Bản, Singapore, TháiLan) Theo đó, tổ chức HNLS được tổ chức dưới cả ba hình thức: Văn phòng luật

sư, công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn Việc đa dạng các hìnhthức tổ chức HNLS đã trả nghề luật sư về đúng bản chất kinh doanh thương mạicủa nó theo quan điểm của WTO, đó là loại hình kinh doanh DVPL Giải pháp đểđảm bảo quyền lợi cho khách hàng và ràng buộc trách nhiệm của luật sư đó là tổchức HNLS có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư củamình để bồi thường thiệt hại mà luật sư gây ra cho khách hàng

Trang 27

* Hoạt động của tổ chức HNLS: Như phân tích ở trên, tổ chức HNLS là

pháp nhân kinh doanh DVPL, vì vậy, việc thành lập và hoạt động của tổ chứcnày đặt dưới sự quản lý nhà nước và được điều chỉnh bởi pháp luật, trước hếtphải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật dân sự, pháp luật về doanh nghiệp.Tức là tổ chức HNLS trước hết phải do cá nhân đáp ứng đủ điều kiện thành lậpnên, có người đại diện chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước khách hàng vàcác tổ chức cá nhân khác về hoạt động của mình; tên gọi, mô hình tổ chức, chế

độ tài chính, kế tóan, quản trị của tổ chức HNLS cũng chịu sự điều chỉnh củapháp luật về doanh nghiệp Tuy nhiên, tổ chức này còn chịu sự điều chỉnhchuyên ngành của pháp luật về nghề luật sư với tư cách là một ngành nghề kinhdoanh Theo đó, việc thành lập tổ chức HNLS cũng phải tuân thủ quy định củapháp luật chuyên ngành, tổ chức HNLS được xác định quyền và nghĩa vụ pháp

lý, phạm vi hoạt động

Nhà nước thực hiện quản lý doanh nghiệp bằng chế độ báo cáo và thực hiệnthu thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản thuế, lệ phí khác Đối với tổ chứcHNLS, việc cung cấp DVPL thông qua Hợp đồng DVPL hoặc phiếu thỏa thuậnDVPL (Luật luật sư 2006) Hợp đồng DVPL được ký kết giữa tổ chức HNLS vớikhách hàng làm căn cứ để hai bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thờicũng là hình thức để nhà nước thực hiện quản lý với hoạt động HNLS

* Hành nghề của luật sư nước ngoài: Luật sư nước ngoài và hành nghề

của luật sư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các quy địnhpháp luật về luật sư của nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, Luật về luật sưcủa một số nước (Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông) thường dànhmột chương riêng quy định những vấn đề liên quan đến luật sư nước ngoài hànhnghề tại nước sở tại Một số nước khác lại quy định về việc hành nghề của luật

sư nước ngoài trong một văn bản pháp luật riêng Ví dụ: Luật về luật sư củaTrung quốc có một điều giao cho Hội đồng nhà nước quy định việc thành lập vàthực hiện một số DVPL của tổ chức luật sư nước ngoài trên lãnh thổ TrungQuốc Trên cơ sở quy định này, Hội đồng nhà nước ban hành quy chế riêng và

Trang 28

hướng dẫn cụ thể về việc cấp phép thành lập và hoạt động của Văn phòng đạidiện tại Trung Quốc của tổ chức luật sư nước ngoài

Tại Nhật Bản, Luật về các biện pháp đặc biệt có dành một phần quy định

về hành nghề của luật sư nước ngoài Theo đó, luật sư nước ngoài muốn hànhnghề tại Nhật Bản phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luậtnày, phải được Bộ Tư pháp cho phép và đăng ký tên vào danh sách luật sư củaLĐLS Nhật Bản Sau khi đã đăng ký tên vào danh sách luật sư của LĐLS NhậtBản, luật sư nước ngoài được công nhận là hội viên nước ngoài đặc biệt Đối vớiluật sư nước ngoài có đủ tiêu chuẩn hành nghề theo quy định của Luật về cácbiện pháp đặc biệt và được sự chấp thuận của Toà án tối cao hoặc luật sư nướcngoài được chấp thuận ở Okinawa và tham gia ĐLS tại nơi luật sư đó đặt Vănphòng hoặc tham gia Liên đoàn thì được coi là hội viên không chính thức củaLiên đoàn Các vấn đề liên quan đến hội viên nước ngoài đặc biệt cũng như hộiviên không chính thức được quy định trong quy chế của LĐLS Nhật Bản Bộluật về HNLS của ĐLS England và xứ Wales có quy định về luật sư nước ngoàitại Phần 704.1 và 704.2 Theo đó, một luật sư tranh tụng nước ngoài có thể gianhập ĐLS với mục đích tạm thời theo quy chế hợp nhất số 40, có quyền thamgia tranh tụng trong giới hạn đã được quy định trong chứng chỉ hành nghề

* Thù lao luật sư: Thù lao là khoản tiền bù đắp lại công sức mà luật sư bỏ

ra để thực hiện DVPL Chi phí luật sư là những khoản tiền mà luật sư phải chitrả trong khi thực hiện DVPL như: Tiền tàu xe, lưu trú, các chi phí hợp lý khác.Tiền thuê dịch vụ luật sư mà khách hàng phải trả cho luật sư bao gồm cả hai thùlao và chi phí luật sư Việc tính toán thù lao luật sư dựa trên nhiều yếu tố để tổchức HNLS và khách hàng thỏa thuận với nhau, giống như các yêu tố ảnh hưởngđến giá cả của các loại dịch vụ khác như: chất lượng dịch vụ, tính chất côngviệc, thời gian thực hiện, uy tín… Tuy nhiên như phân tích ở trên, nghề luật sư

là nghề mang tính chất uy tín cá nhân, vì vậy, đối với DVPL của luật sư, một yếu

tố nữa được xác định làm căn cứ thỏa thuận thù lao đó là kinh nghiệm và uy tínluật sư Theo thông lệ nghề nghiệp luật sư được pháp luật nhiều nước trong đó

có Việt Nam thì thù lao luật sư được tính dựa trên các căn cứ như sau: Nội dung,

Trang 29

tính chất vụ việc pháp lý; Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thựchiện DVPL; Kinh nghiệm và uy tín luật sư Các phương thức tính thù lao baogồm: Phương thức tính thù lao theo giờ làm việc; phương thức tính thù lao trọngói; phương thức tính thù lao theo tỷ lệ phần trăm giá ngạch vụ kiện hoặc giá trịhợp đồng, dự án; Phương thức tính thù lao theo hợp đồng dài hạn với mức thùlao cố định

Có thể thấy hợp đồng DVPL là công cụ, là cơ sở pháp lý để tổ chứcHNLS cung cấp DVPL cho khách hàng Thông qua hợp đồng DVPL, tổ chứcHNLS bước vào một thỏa thuận với khách hàng trên cơ sở quy định của phápluật để đảm bảo rằng những thỏa thuận cung cấp dịch vụ đó sẽ được thực hiện.Hợp đồng DVPL sẽ bao gồm rất nhiều nội dung mà các bên phải tính tới Trên

cơ sở những thỏa thuận đã đạt được, tổ chức HNLS sẽ xác định cụ thể về sảnphẩm dịch vụ mình cung cấp như thế nào, cụ thể hóa, mô tả hóa, sự thỏa thuận

đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của

họ và góp phần hạn chế rủi ro Hợp đồng DVPL là cơ sở để tổ chức HNLS xácđịnh quyền và nghĩa vụ của mình Trong một chừng mực nào đó, hợp đồngDVPL cho phép các tổ chức hành nghề tạo ra những phương thức kinh doanhriêng thông qua những điều khoản của thỏa thuận mà các bên đã giao kết - điềuchỉnh mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề và khách hàng Hợp đồng có giá trịpháp lý như luật là công thức để giúp cho các bên có cơ sở bảo vệ các lợi ích

hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra

c) Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp

của luật sư là tổ chức tự quản trong hoạt động nghề nghiệp, thông thường được

thành lập ở hai cấp: Ở địa phương có ĐLS hoặc Hội luật sư tỉnh, thành phố hoặc khu vực; Ở trung ương có tổ chức đại diện cho luật sư ở phạm vi quốc gia.

* ĐLS/Hội luật sư địa phương: ĐLS/Hội luật sư địa phương là tổ chức có

tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng tự quản đối với luật sư và tổ chức hànhnghề của luật sư ở phạm vi địa phương trên cơ sở Điều lệ, cụ thể như : Đăng kýtên và rút tên luật sư khỏi danh sách luật sư của Đoàn/Hội luật sư địa phương;Tiếp nhận việc luật sư đăng ký tham gia Liên đoàn/Hiệp hội luật sư toàn quốc;

Trang 30

Giám sát việc thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp; Hướng dẫn việc tập sựhành nghề của luật sư tập sự; Tập hợp ý kiến và trao đổi kinh nghiệm nghềnghiệp giữa các luật sư; Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên theo sự phân công củaLiên đoàn/Hiệp hội luật sư toàn quốc; Hòa giải các tranh chấp giữa các luật sưhoặc giữa luật sư với khách hàng, khi có yêu cầu của các bên; Xử lý kỷ luật luật

sư theo thẩm quyền; và một số chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác

Tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Pháp, ĐLS/Hội luật sư địa phương đượcthành lập theo phạm vi thẩm quyền tài phán của tòa án cấp tỉnh Tại TrungQuốc, Hội luật sư địa phương được thành lập theo 2 cấp: Hội luật sư trực thuộctỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, và Hội luật sư trực thuộc quận,thành phố thuộc tỉnh đối với những tỉnh, thành phố lớn Vì vậy, số lượng tổ chứcluật sư địa phương ở một số nước là rất lớn, lên tới con số hàng trăm (Pháp có

182 ĐLS).Về cơ cấu tổ chức, ĐLS/Hội luật sư địa phương thường có Hội đồngĐLS/Hội luật sư chịu trách nhiệm lãnh đạo, điều hành và một số ban, tiểu banchuyên trách Ví dụ: Ban thẩm tra tư cách luật sư, Ban Giáo dục thường xuyên,Ban kỷ luật luật sư, Ban giám sát đạo đức nghề nghiệp luật sư v.v Kinh phíhoạt động chủ yếu của ĐLS/Hội luật sư địa phương được lấy từ hội phí do luật

sư, văn phòng luật sư đóng góp, từ các khoản tài trợ của cá nhân, tổ chức trongnước và nước ngoài, hoặc nguồn thu từ một số hoạt động của ĐLS/ Hội luật sư

* Tổ chức luật sư toàn quốc: Ở các nước khác nhau, tên gọi của tổ chức luật sư toàn quốc cũng rất khác nhau, phổ biến nhất là: Hiệp hội luật sư (ở Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Hoa Kỳ), hoặc LĐLS (ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển), Hội đồng quốc gia các ĐLS (Pháp) Tổ chức luật sư toàn quốc thường được quy định thành một chương riêng (hoặc một phần riêng) trong các đạo luật

về luật sư, HNLS của Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Anh, Pháp,Bang New South Wales – Australia Tại Nhật Bản, có một đạo luật riêng vềLĐLS Nhật bản tồn tại song song với Luật về HNLS

Về địa vị pháp lý: Tổ chức luật sư toàn quốc là tổ chức có tư cách pháp

nhân, đại diện cho giới luật sư ở phạm vi quốc gia hoặc liên bang, có vị trí hoàntoàn độc lập thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật giao

Trang 31

Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn: Pháp luật về luật sư và HNLS ở

các nước quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức luật sư toàn quốc về cơ bản

là giống nhau Đây là tổ chức đại diện cho các ĐLS/Hội luật sư và luật sư trongphạm vi toàn quốc; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên; thựchiện một số chức năng quản lý luật sư và HNLS được pháp luật quy định nhằmthúc đẩy việc thực thi sứ mạng của luật sư; hỗ trợ phát triển nghề luật sư nhằmtăng cường vai trò của luật sư trong xã hội

Về cơ cấu tổ chức: Tùy theo tên gọi của tổ chức luật sư toàn quốc, cơ cấu

tổ chức cũng có một số điểm khác biệt Tuy các cơ quan của tổ chức toàn quốc

có tên gọi khác nhau nhưng đều có chức năng, nhiệm vụ giống nhau, thườnggồm có các cơ quan sau đây:

+ Cơ quan lãnh đạo cao nhất: Là Hội nghị toàn thể luật sư (ở Thái Lan,Hàn Quốc, Nhật Bản) hoặc Hội nghị đại biểu luật sư toàn quốc (ở Trung Quốc)

+ Cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ họp: Là Hội đồng các đại biểu luật sư(Trung Quốc), hoặc Đại hội đại biểu (Nhật Bản, Hoa Kỳ)

+ Cơ quan điều hành: Là Hội đồng điều hành/ủy ban điều hành/Ban Chấphành: bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên, kiểm toán viên

+ Các bộ phận chuyên môn và giúp việc: tương ứng với các nhiệm vụ củamình, tổ chức luật sư toàn quốc thành lập ra các ủy ban (thẩm tra tư cách luật sư,giám sát đạo đức nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, duy trì kỷ luật, xử lý kỷluật v.v.), tiểu ban, ban thư ký, văn phòng

Đối với một số tổ chức hiệp hội luật sư lớn, số lượng các ủy ban, phòng bangiúp việc cũng rất lớn, ví dụ: LĐLS Nhật Bản có 51 uỷ ban và tiểu ban, Hiệp hộiLuật sư Hoa Kỳ cũng có vài chục ủy ban, trung tâm và bộ phận trực thuộc

Về thành viên: Thông thường thành viên của tổ chức luật sư toàn quốc là các luật sư đang hành nghề (ở Thái Lan) Tại Nhật Bản, các luật sư đang hành

nghề và các ĐLS đương nhiên là thành viên của LĐLS và không phải làm đơnxin vào Liên đoàn Ngoài ra, các luật sư nước ngoài đang hành nghề tại NhậtBản cũng có thể trở thành thành viên của LĐLS Nhật Bản, được gọi là thành

viên nước ngoài đặc biệt hoặc thành viên không chính thức Tại Singapore và

Trang 32

Hoa Kỳ, ngoài các luật sư đang hành nghề là thành viên, Hiệp hội luật sư còn

công nhận tư cách thành viên không hành nghề đối với các luật sư có chứng chỉhành nghề không còn hiệu lực hoặc người không phải là luật sư nhưng thườngxuyên sinh sống tại Singapore và tự nguyện nộp đơn vào Hiệp hội; hoặc là cácthẩm phán, cán bộ tòa án, giảng viên luật, luật sư công, giám đốc điều hành

doanh nghiệp, nhân viên chính phủ và sinh viên luật (Hoa Kỳ) Những người

hành nghề luật của nước khác dù không được phép hành nghề tại Hoa Kỳ vẫn cóthể trở thành hội viên quốc tế của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ

Về kinh phí hoạt động: Để duy trì hoạt động, tổ chức hiệp hội luật sư huy

động kinh phí từ rất nhiều nguồn như: phí thành viên; hỗ trợ của chính phủ; cáckhoản tài trợ trong nước và quốc tế và các nguồn thu hợp pháp khác

Về mối quan hệ giữa tổ chức luật sư toàn quốc với cơ quan quản lý về luật sư, các cơ quan và tổ chức hữu quan khác: Theo thông lệ của nhiều nước,

tổ chức luật sư toàn quốc là chủ thể độc lập, nhưng chịu sự quản lý của Nhànước Tổ chức luật sư toàn quốc sẽ thực hiện một số nhiệm vụ quản lý được Nhànước giao trên cơ sở quy định của pháp luật

Tuy nhiên, ở các nước, Bộ Tư pháp vẫn giữ vai trò ảnh hưởng trong việcgiám sát hoạt động của tổ chức luật sư ở phạm vi quốc gia, ví dụ như ở TrungQuốc thì Thứ trưởng Bộ Tư pháp cũng là một đại diện lãnh đạo của Hiệp hộiluật sư Trung Quốc, một công chức cao cấp của Bộ Tư pháp Thụy Điển đượcphân công phụ trách về hoạt động của LĐLS Thụy Điển

d) Trách nhiệm pháp lý trong hoạt động HNLS

Trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật là hậu quả pháp lý bấtlợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc họ phải gánh chịu nhữngbiện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quyphạm pháp luật vì sự vi phạm pháp luật của họ Trách nhiệm pháp lý luôn gắnliền với các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong phần chế tài củacác quy phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đốivới chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc chủ thể phải chịu những sự thiệt hạinhất định về tài sản, về nhân thân, về tự do… mà phần chế tài của các quy phạm

Trang 33

pháp luật đã quy định.Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luậthoặc có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định.

Trách nhiệm pháp lý trong hoạt động HNLS cũng giống như trách nhiệmpháp lý khác, phát sinh khi chủ thể của pháp luật luật sư có hành vi vi phạmpháp luật (bao gồm bất cứ ngành luật nào) trong khi tiến hành các hoạt độngHNLS Theo đó, trách nhiệm pháp lý có thể đặt ra với bản thân luật sư, kháchhàng, người THTT, người làm việc trong cơ quan quản lý nhà nước hoặc ngườinào có hành vi gây cản trở, xâm hại đến các chủ thể khác trong khi tiến hành cáchoạt động HNLS Đối với luật sư, hành vi vi phạm có thể là thực hiện một hoặcnhiều điều cấm mà pháp luật quy định luật sư không được là, hoặc vi phạm quytắc đạo đức nghề nghiệp luật sư do tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư đề ra; luật

sư vi phạm nội quy phiên tòa hoặc thực hiện các hành vi lợi dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản, chạy án, môi giới chạy án… Từ phía khách hàng, nhữnghành vi đó có thể là hành vi xúc phạm luật sư, đơn phương chấm dứt hợp đồngpháp lý trái pháp luật, cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho luật sưnhằm đạt được mục đích nào đó, có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạngcủa luật sư… Từ phía người THTT, người có thẩm quyền khác có thể là hành vinhũng nhiễu, cố tình gây cản trở sự tham gia của luật sư Tuy nhiên, các hành viphải chịu trách nhiệm pháp lý phải là những hành vi được quy định trong vănbản quy phạm pháp luật luật sư hoặc văn bản pháp luật chuyên ngành khác,cũng có thể là được quy định trong các văn bản nội bộ của tổ chức HNLS mà rõràng trong các văn bản này quy định trách nhiệm pháp lý của chủ thể nếu viphạm Một yếu tố quan trọng làm căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý đó làcác hành vi này phải được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luậthoặc các quy tắc, quy uớc khác mà chủ thể vi phạm là thành viên tham gia

Trách nhiệm pháp lý trong hoạt động HNLS bao gồm trách nhiệm kỷ luật, tráchnhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự Tùy thuộc vào mức độ viphạm và thiệt hại mà xác định hình thức chịu trách nhiệm của chủ thể vi phạm

Trách nhiệm kỉ luật được đặt ra đối với luật sư vi phạm và phải chịu tráchnhiệm với tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư

Trang 34

Trách nhiệm hành chính được đặt ra đối với luật sư vi phạm và chịu tráchnhiệm đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm đối với khoản thiệt hại do luật sư gây

ra trong hoạt động hành nghề và được xác định bởi tòa án có thẩm quyền

Trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với hành vi mà theo quy định củapháp luật hình sự phải bị truy tố

f) Quản lý đối với HNLS

Việc quản lý nghề luật sư ở mỗi nước một khác và phụ thuộc vào tínhtruyền thống của từng nước Vấn đề tự quản đối với nghề luật sư đến đâu là doquy định của từng nước Ở hầu hết các nước (Anh, Pháp, Đức, Thái Lan,Singapore…), hiệp hội luật sư chủ yếu quản lý HNLS thông qua các việc như:bảo đảm cho luật sư hành nghề đúng pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của luật sư; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho luật sư; kiểm tra, giám sátviệc hành nghề của luật sư trong phạm vi lãnh thổ của mình; kiểm tra giám sátviệc tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc HNLS; giải quyết cácvấn đề khác có liên quan đến luật sư như cấp chứng chỉ hành nghề hàng nămcho luật sư, giải quyết khiếu nại tố cáo, xử lý kỷ luật luật sư

Nghề luật sư là nghề tự do, các luật sư hành nghề độc lập theo quy định củapháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp Nhưng nghề luật sư là một nghề dựatrên sự hiểu biết pháp luật và áp dụng pháp luật, mà chức năng cơ bản là phụng sựcông lý và mục đích cao cả của hoạt động tư pháp Do đó, rất cần đến sự quản lýcủa nhà nước Chính vì thế mà ở các nước, việc quản lý nghề luật sư không thểchỉ giao cho tổ chức nghề nghiệp, mà nhà nước cũng có vai trò rất quan trọngtrong việc quản lý nghề này nhất là được thể hiện qua khâu đầu vào của nghề này

Ở hầu hết các nước theo hệ thống thông luật (common law) việc công nhận luật

sư (tương tự như cấp Chứng chỉ hành nghề ở Việt Nam) là do Toà án tối cao cònviệc cấp chứng chỉ hành nghề là do Hiệp hội luật sư (Anh, Mỹ, Singapore…).Một số nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc thì quy định Bộ Tư pháp là cơquan cấp Giấy chứng nhận tư cách luật sư và cơ quan này chịu trách nhiệm quản

lý danh sách luật sư Sở dĩ Nhà nước cần phải nắm việc chứng nhận tư cách luật

Trang 35

sư là vì nghề luật sư là nghề đặc thù mà các nước đều thấy cần phải được Nhànước cho phép và công nhận thì mới được hành nghề Ngoài việc cấp phép, ở mỗinước đều có những quy định cụ thể về việc quản lý đối với hoạt động luật sư Nhànước vẫn quản lý những khâu quan trọng như ban hành các văn bản pháp luật vềHNLS, quy định chương trình đào tạo và công nhận luật sư, cho phép thành lậphiệp hội luật sư và các hình thức tổ chức HNLS, và xử lý vi phạm Đặc biệt là cácnước ở khu vực Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc thì Bộ Tư pháp quản lýtoàn bộ các hoạt động có liên quan đến luật sư và cả ĐLS

Như vậy, ở các nước, kể cả những nước phát triển, có lịch sử phát triểnnghề luật sư lâu đời thì việc quản lý nghề luật sư không hoàn toàn giao phó chocác tổ chức nghề nghiệp, mà trong một phạm vi nhất định, có sự can thiệp củaquyền lực nhà nước Đó là quyền hành pháp hay quyền tư pháp là phụ thuộc vàophương thức tổ chức quyền lực của từng Nhà nước cụ thể Bên cạnh sự quản lýcủa nhà nước thì các nước đều rất chú trọng đến vai trò tự quản của các tổ chứcnghề nghiệp luật sư Nhưng vấn đề tự quản đối với nghề luật sư đến đâu là doquy định của từng nước

g) Chấm dứt HNLS: Chấm dứt HNLS được đặt ra với 2 chủ thể là luật sư

và tổ chức HNLS

Với cá nhân luật sư, nếu như việc HNLS được đánh dấu kể từ khi luật sư

được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ HNLS và gia nhập tổ chức xã hộinghề nghiệp luật sư thì việc chấm dứt HNLS được đánh dấu bởi việc luật sư bịthu hồi thẻ luật sư do tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư cấp và cơ quan nhànước có thẩm quyền thu hồi chứng chỉ HNLS

Với tổ chức HNLS, việc chấm dứt hoạt động của tổ chức HNLS được

đánh dấu bằng việc cơ quan quản lý nhà nước thu hồi giấy đăng ký hoạt động

Luật sư bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, tổ chức HNLS bị thu hồi giấyđăng ký hoạt động có thể do tự thân chủ thể này đề nghị khi không mong muốntham gia HNLS nữa hoặc có thể bị cơ quan nhà nước xử lý bằng hình phạt thuhồi chứng chỉ hành nghề/giấy đăng ký hoạt động, đó là các trường hợp mà luậtsư/tổ chức HNLS có hành vi vi phạm hoặc vì lý do nào đó không còn đủ điều

Trang 36

kiện được HNLS mà căn cứ quy định của pháp luật phải tiến hành thu hồi chứngchỉ hành nghề/giấy đăng ký hoạt động Hậu quả của việc chấm dứt hoạt độngHNLS là người đó, tổ chức đó không được tiếp tục thực hiện DVPL với tư cáchluật sư nữa, như vậy đặt ra vấn đề là với những hợp đồng DVPL đang còn tồn tạihoặc đang được tiến hành thực hiện nhưng chưa hoàn thành thì sẽ được xử lýnhư thế nào để đảm bảo hài hòa về quyền lợi ích của các bên, hơn nữa với yêucầu quản lý nhà nước, việc chấm dứt HNLS phải thể chế hóa bằng những quyđịnh cụ thể về các truờng hợp chấm dứt hành nghề, thời điểm chấm dứt hànhnghề và trình tự thủ tục thực hiện.

1.3 Lịch sử phát triển nghề luật sư tại Việt Nam và quá trình hoàn thiện pháp luật về nghề luật sư

Ở Việt Nam, hoạt động luật sư đã có từ trước Cách mạng tháng 8/1945.Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại.Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủtịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 về tổ chức đoàn thểluật sư Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ chức luật sư trong đó đã có sựvận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật sư nhưng khôngtrái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp nước ViệtNam dân chủ cộng hoà năm 1946 khẳng định quyền tự bào chữa hoặc mượn luật

sư bào chữa là một trong những quyền quan trọng của bị cáo

Mặc dù trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến, nhưng Đảng vàNhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền bào chữa trước Toà áncủa bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi trong Hiếnpháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể nhờmột công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Để cụ thể hóa Sắc lệnhnày Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 01/NĐ - VY ngày 12-01-1950 quyđịnh về bào chữa viên Chế định bào chữa viên được hình thành là một chế địnhphù hợp với điều kiện của nước ta khi đó, thể hiện sự coi trọng, quan tâm củaĐảng và Nhà nước ta đến việc thực thi quyền bào chữa và việc xây dựng mộtnền tư pháp công bằng, dân chủ của chế độ mới Thực hiện quy định của pháp

Trang 37

luật về bào chữa viên, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp vàxây dựng miền Bắc XHCN, đội ngũ bào chữa viên đã được hình thành và ngàycàng phát triển Bên cạnh các luật sư đã tham gia kháng chiến, còn có nhiều luật

sư, luật gia đã làm việc trong bộ máy chế độ cũ cũng hăng hái gia nhập đội ngũbào chữa viên của chế độ mới

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở miền Bắc, Hiến pháp năm

1959 ra đời tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền bàochữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Sau khi thống nhất đấtnước Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳngđịnh bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chứcluật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồngthời bảo vệ pháp chế XHCN

Thực hiện quy định của Hiến pháp, ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp banhành Thông tư số 691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy định cụ thểtiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên để tập hợp các luật sư đãđược công nhận trước đây và các bào chữa viên, đến cuối năm 1987 trên cảnước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 thành viên

Trong thời kỳ này có một sư kiện trọng đại là Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ VI năm 1986 đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đấtnước, thời kỳ đổi mới Đường lối đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâurộng đến mọi mặt hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Cácđạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng,trong đó có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các cơ quan THTT khác

Trong hoàn cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành ngày18/12/1987 Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việc khôi phụcnghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời

kỳ đổi mới Pháp lệnh tổ chức luật sư quy định tiêu chuẩn để được công nhận làluật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư Pháp lệnh

Trang 38

cũng qui định về việc tổ chức các ĐLS ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trungương Chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết ở các tỉnh, thành phố đã thành lập đượcĐLS, với đội ngũ luật sư lên tới hàng nghìn người Hoạt động nghề nghiệp luật

sư cũng đã có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tham gia tố tụng, các luật sư

đã từng bước mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư vấn pháp luật vàthực hiện các DVPL khác

Công cuộc đổi mới của đất nước đã thu được những thành tựu to lớn.Cùng với những chủ trương đổi mới nhằm phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước

ta đã đề ra những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về tổ chức, hoạt độngcủa các hệ thống chính trị, trong đó có việc đổi mới tổ chức hoạt động lập pháp,hành pháp và tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền vàthúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước

Trước tình hình đó, để đáp ứng yêu cầu mới, Pháp lệnh luật sư năm 2001

đã được ban hành Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh

mẽ tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta theo hướng chính quy hoá, chuyênnghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức

xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc

tế của nghề luật sư ở Việt Nam Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầukhách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Chỉsau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng vàchất lượng Đặc biệt, đã thành lập trên 1.000 tổ chức hành nghề là các vănphòng luật sư, các công ty luật hợp danh Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư

đã dần khẳng định trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp khi tham gia tranhtụng tại các phiên tòa Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư cũng đã có bướcphát triển đáng kể, đặc biệt là tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực đầu tư,kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều và ngày càng nâng cao về chất lượngdịch vụ Đã bước đầu hình thành đội ngũ luật sư giỏi trong tham gia tố tụng vàtrong lĩnh vực cung cấp DVPL cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước Cùngvới những bước tiến trong quá trình chuyên nghiệp hoá nghề luật sư, các luật sưViệt Nam cũng đã mở rộng quan hệ với các tổ chức luật sư nước ngoài và quốc

Trang 39

tế như tổ chức các hội thảo, toạ đàm về nghề nghiệp; một số ĐLS đã tham giacác tổ chức luật sư quốc tế với tư cách là thành viên bình đẳng Có thể nói Pháplệnh luật sư năm 2001 đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát triển mạnh mẽnghề luật sư ở nước ta.

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với bước phát triển và nhữngyêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế củanước ta đã có những bước phát triển vượt bậc với những sự kiện quan trọngmang tính chất đột phá Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế(WTO) đã tạo ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũngđặt ra những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó

có nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật vàcác thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết khigia nhập WTO Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành một

số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp,trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/01/2007

Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo

cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mangtính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiếntrên thế giới Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức

xã hội - nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ngày đăng: 09/03/2022, 18:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w