(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thanh Bình
Các thông tin, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các kết quả nghiên cứu trong Luận văn
Tác giả luận văn
Lê Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh 7 1.2 Vai trò của hộ kinh doanh và sự khác biệt của hộ kinh doanh với doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay 17
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, THỰC TIỄN TẠI QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hộ kinh doanh 28 2.2 Những bất cập của pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay 35 2.3 Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh 40 2.4 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh 45
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 56
3.1 Định hướng phát triển loại hình kinh tế hộ kinh doanh 56 3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 58
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVTN-MT :Bảo vệ tài nguyên – môi trường BVDT VH-LS :Bảo vệ dân tộc văn hóa – lịch sử
GTGT :Giá trị gia tăng
KT-XH :Kinh tế - xã hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế cùng cạnh tranh và phát triển, và với việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh thì chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp nhiều hình thức kinh doanh phong phú và đa dạng như: kinh doanh cá thể nhỏ lẻ, các hộ kinh doanh, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh,…Trong muôn màu muôn vẻ của các hình thức kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp, thì chúng ta không thể không đề cập đến vai trò đóng góp đáng kể của hộ kinh doanh trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì Hộ kinh doanh đã góp phần vào GDP của đất nước một con số khá thú vị là đạt tới 30% thu ngân sách 1.6%
Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) thống nhất quan điểm chỉ đạo phát triển hộ kinh doanh là:
“Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, hộ kinh doanh đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước Cùng với các loại hình kinh doanh khác,
sự phát triển của hộ kinh doanh đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục…”
Nhờ vậy, trong những năm qua, bộ phận kinh tế này ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định là một bộ phận không thể thiếu
Trang 7Theo số liệu thống kê của Phòng Kinh tế - Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, tính đến giữa năm 2018, tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn quận là 14.812 hộ; trong đó cấp mới năm 2018 là 3.035 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Việc ban hành Luật doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo điều kiện thông thoáng cho người đăng ký kinh doanh được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nhanh nhất để gia nhập thị trường bằng việc quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục được đơn giản hóa, thông tin trong
hồ sơ do hộ kinh doanh tự kê khai và tự chịu trách nhiệm, thời gian giải quyết thủ tục được rút gọn
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số trường hợp cá nhân muốn kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh nhưng không được phép cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…
Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp điều chỉnh pháp lý về đăng ký hộ kinh doanh như thế nào cho phù hợp với điều kiện của hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Phú nói riêng và nền kinh tế thị trường của nước ta nói chung
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ những bất cập thực tế trên địa bàn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đã khuyến khích tác giả mạnh dạn lựa
chọn đề tài “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn
tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Quá trình nghiên cứu người viết đề tài tham khảo các nghiên cứu của học giả, thầy cô và các anh, chị đi trước trong phạm vi đề tài “hộ kinh doanh”, bản thân người viết nhận thấy:
Thứ nhất, ở các cơ sở đào tạo cử nhân luật của Việt Nam thì trong
chương trình đào tạo của mình vấn đề hộ kinh doanh là một bộ phận nằm
Trang 8trong chương trình giảng dạy về luật kinh tế và quản lý kinh tế mặc dù mức
độ nghiên cứu chưa sâu
Thứ hai, trong những năm qua một số cơ quan nghiên cứu về kinh tế đã
có một số các cuộc điều tra về thực trạng và tình hình phát triển của hộ kinh doanh như: Kết quả điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Kết quả điều tra, khảo sát tình hình phát triển của hộ kinh doanh tại Bắc Ninh và Vĩnh Phúc năm 2011 của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ipsard) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Thứ ba, Chúng ta có thể tìm thấy một số vấn đề về hộ kinh doanh trong Giáo trình luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội 2007; Giáo trình Luật thương mại, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006; Giáo trình Luật kinh tế, của Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006;
Chuyên khảo Một số quy định mới về hộ kinh doanh nhỏ, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2003 Hay các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên
ngành pháp lý, nổi bật như bài viết: Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để
tìm ra các bất cập, của TS Ngô Huy Cương, Tạp chí Khoa học, Đại học
Quốc gia Hà Nội, số 25 (2009), Phạm Quý Tỵ (2000), Nhà nước quản lý bằng
pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Hà
Nội, PGS.TS Đào Trí Úc (1997), Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và
những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2003), Kinh tế tư nhân và quản lý
nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội…
Trang 9Tóm lại, dù có phương pháp nghiên cứu, góc nhìn, phân tích đánh giá khác nhau, nhưng tựu chung lại các tác giả đã chỉ ra đặc tính, biểu hiện, bản chất, vị trí, vai trò của thành phần kinh tế hộ kinh doanh trong tổng quan nền kinh tế của Việt Nam qua các thời kỳ; qua đó làm rõ các hạn chế, khuyết điểm
đề ra các giải pháp hoàn thiện
Tuy nhiên, người viết đề tài vẫn tâm đắc với đề tài: “Pháp luật về hộ kinh doanh của Việt Nam từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh” Bởi vì, quận Tân Phú đang trong quá trình đô thị hóa cao, dân số thuộc nhóm đứng đầu thành phố, đa số là dân nhập cư, việc kinh doanh buôn bán diễn ra hết sức phức tạp Do vậy người viết đề tài mong muốn qua nghiên cứu sẽ kiến nghị UBND quận Tân Phú triển khai thực hiện pháp luật kinh doanh tốt hơn, chặt chẽ hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- So sánh tổng quan các quy định pháp luật có liên quan đến hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Phân tích thực tiễn áp dụng các vấn đề pháp lý hiện hành điều chỉnh hoạt động hộ kinh doanh để tìm ra những bất cập cần hoàn thiện;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh qua thực tiễn ở Quận Tân Phú trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật hộ kinh doanh thông qua việc khai thác những vấn đề lý luận và thực tiễn của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chính vào những hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích định lượng thông qua nghiên cứu số liệu và khảo sát đối tượng hộ kinh doanh với những đề xuất, kiến nghị về mặt pháp lý
để xác định tính đúng đắn và phù hợp dựa trên những con số cụ thể
Phương pháp phân tích định tính gồm những phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm hộ kinh doanh, bản chất và những đặc điểm của hộ kinh doanh, làm rõ những điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về việc hộ kinh doanh
+ Phương pháp so sánh, tác giả xem xét, đối chiếu các quy định của pháp luật đối với hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty hợp danh từ đó làm nổi bật lên vị trí, vai trò của hộ kinh doanh
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta ở cấp
độ luận văn thạc sỹ luật học
Người viết đã hệ thống các quy định pháp luật có liên quan đến hộ kinh doanh; nhất là so sánh phân tích, đánh giá, nhận xét về các mâu thuẫn của quy định hộ kinh doanh so với Bộ Luật Dân sự, giữa quy định của pháp luật kinh doanh so với thực tiễn tại quận Tân Phú Từ đó chỉ ra được các hạn chế, thiếu sót, kiến nghị các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật kinh doanh
Qua đề tài người viết cũng mong rằng Quý lãnh đạo của quận Tân Phú dành ít thời gian để đánh giá mức độ hiệu quả, nhằm áp dụng các giải pháp để giải quyết các vấn đề thực tại
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt nam
hiện nay từ thực tiễn tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” bao gồm:
Phần mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, thực tiễn tại quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tại quận Tân phú, TP.Hồ Chí Minh
Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay khó có thể đưa ra một định nghĩa thỏa đáng về hộ kinh doanh,
và khó có thể nói hộ kinh doanh mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân
Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì hộ kinh doanh được định nghĩa :
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định” [5]
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó:
(1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ;
(2) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và
(3) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ
- (i) Về hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được quyền thành lập hộ kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh cá nhân này phải nhân danh mình và
tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình Về bản chất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ là một thương nhân thể nhân
Trang 13- (ii) Về hộ kinh doanh do “hộ gia đình làm chủ”: Đây là một chủ thể kinh doanh “rất riêng” của Việt Nam, bởi vì đa phần các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân, hoặc một công ty Việc quy định “hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh như trên vừa nói có lẽ xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác,
tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không
có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện. [7]
Từ việc quy định hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ làm nảy sinh nhiều khía cạnh pháp lý về chủ thể này mà chúng ta cần nghiên cứu để làm sáng tỏ
Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các thành viên có tài sản chung Do đó hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương nhân thể nhân
Trang 14Dù Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể và dễ dàng nhận biết thế nào là hộ gia đình Tuy nhiên hộ gia đình theo pháp luật dân sự khác với chủ thể hộ kinh doanh cá thể dẫn đến khó xác định đối tượng sẽ bị ràng buộc pháp
lý khi xảy ra tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện
Điển hình: việc thành lập hộ kinh doanh không đòi hỏi, phải chứng minh quan hệ hôn nhân, huyết thống,…của các thành viên dẫn đến trường hợp hai hoặc ba thành viên sáng lập hộ kinh doanh là những người bạn thân
có mối quan hệ bạn bè hàng xóm, bạn bè học đại học với nhau
Trong thực tiễn các cơ quan hành pháp và tư pháp thường xác định tập hợp các thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu và nếu có bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến hộ gia đình thì cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân luôn yêu cầu người đại diện phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu như việc giao đất cho hộ gia đình
Thực tế trên đã và đang làm các giao dịch dân sự liên quan đến hộ gia đình bị hiểu và thực hiện lệch lạc so với quy định pháp luật về hộ gia đình Trong khi đó, sổ hộ khẩu chưa chứng minh tính huyết thống (thành viên), gia đình, để xác định đối tượng chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung một chủ thể khác trong giao dịch dân sự bên cạnh hộ gia đình và tổ hợp tác, đó là “tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” [7], nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của các chủ thể là tổ chức nhưng không có tư cách pháp nhân trong các giao dịch dân sự, giải quyết những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến những chủ thể trên Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 không phân tách các quy định của
hộ gia đình và tổ hợp tác ra thành 2 nội dung riêng biệt mà sử dụng những quy định nhằm điều chỉnh chung, căn cứ vào những đặc điểm giống nhau giữa
Trang 15các chủ thể, tránh những nội dung trùng lặp gây phức tạp trong quy định của pháp luật
Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là hộ gia đình, tổ hợp tác Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc xác định nội hàm của những khái niệm trên là hết sức cần thiết để từ đó có thể làm rõ tư cách thành viên của những đối tượng này
Về chủ thể, khoản 1 Điều 101 quy định trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc
ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Được hiểu là bản thân hộ gia đình, tổ hợp tác hay tổ chức không có tư cách pháp nhân không được xem là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự mà là các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân hoặc là người đại diện theo uỷ quyền Quy định này phù hợp với tinh thần chung của BLDS năm 2015, đó là chỉ có cá nhân hoặc pháp nhân mới là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Đây là một bước tiến mới của BLDS năm 2015 nhằm phân định rõ trách nhiệm dân sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 101 ở đoạn thứ hai lại quy định thêm nếu thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện Nói theo một cách khác, quy định này đòi hỏi phải có sự uỷ quyền của các thành viên khác thì thành viên được uỷ quyền mới có thể trở thành chủ thể quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư
Trang 16cách pháp nhân Theo chúng tôi, quy định này vô hình chung đã tạo nên sự mâu thuẫn và làm vô hiệu hoá quy định tại đoạn thứ nhất Vậy câu hỏi đặt ra
là có hay không cho phép thành viên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi không có sự uỷ quyền từ các thành viên khác? Thiết nghĩ, cần phải có hướng dẫn cụ thể cho nội dung này để tránh nhiều cách hiểu trái chiều
Về trách nhiệm dân sự, việc xác định quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân giúp làm rõ trách nhiệm dân sự của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự đó Cụ thể là nghĩa vụ dân sự phát sinh
từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ liên đới theo quy định tại Điều 288 BLDS năm
2015 Hoặc nếu các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên sẽ chịu trách nhiệm dân sự theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình; trường hợp không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau Nói cách khác, các thành viên không còn phải chịu trách nhiệm liên đới vô hạn bằng tài sản riêng của mình, thay vào đó là trách nhiệm liên đới theo phần Đây là một điểm mới của BLDS năm 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập Điều 104 quy định: Nếu thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh các thành viên khác
Trang 17của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì giao dịch dân
sự đó vô hiệu đối với phần nội dung không có quyền đại diện
- (iii) Về hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ: Có lẽ nhận thức được tác dụng to lớn của nhóm đối tượng này đối với nền kinh tế nên đến Nghị định số 78… đã cho phép một nhóm người được đăng ký kinh doanh dưới hình thức “hộ kinh doanh” Theo quy định tại Điều 67, thì một nhóm người tự nguyện hùn vốn kỹ thuật cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưỡng lãi, cùng chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của nhóm Tuy nhiên, Nghị định này cũng chỉ mới dừng lại ở việc cho phép “một nhóm người” được đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà chưa có nhiều quy định cụ thể liên quan đến chế độ chịu trách nhiệm của các cá nhân trong nhóm và chế độ quản trị hộ kinh doanh Về số lượng thành viên, mặc dù, luật không có quy định nào về hạn chế số lượng thành viên trong một nhóm nhưng nếu sử dụng hơn mười lao động thì hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp Như vậy có thể hiểu, “hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh”
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.1.2.1 Hộ kinh doanh không phải là pháp nhân
Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập nhằm mục đích kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ, trong một vị trí địa lý nhất định thuuwongf là trong phạm vi nhỏ; kiểu kinh doanh này thông thường các hộ dùng vốn tự có và thu nhập từ kết quả kinh doanh sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thuế theo quy định
Loại hình kinh doanh này có thể chịu thiệt thòi, trong hậu quả pháp lý
về tài chính, nhất là bồi thường thiệt hại trong quá trình kinh doanh, vấn đề này là khác biệt rất lớn so với mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, người
Trang 18chủ doanh nghiệp (người kinh doanh) chỉ chịu trách nhiệm về tài chính tương ứng với phần vốn góp khi thành lập doanh nghiệp
Nói như thế để nói rằng loại hình hộ kinh doanh tuy có vị trí nhất định trong vấn đề an sinh xã hội trong nền kinh tế Việt Nam nhưng chưa được Nhà nước quan tâm đúng mức; tức là phải có giải pháp, biện pháp kiến thiết nhóm
hộ kinh doanh cá thể hoạt động theo khuôn khổ pháp luật (Luật, Bộ Luật), mục đích tránh thất thu thuế cho Nhà nước, cũng như bảo đảm quyền lợi (chịu trách nhiệm về tài chính) như mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn
Xuất phát từ thực tiễn cho nên Quốc hội và Chính phủ đã quan tâm vận động hộ kinh doanh cá thể chuyển dần cơ cấu sang thành mô hình công ty
Từ phân tích ở trên, bản thân người viết đề tài nhận thấy: dù chủ trương của Nhà nước hướng hộ kinh doanh đến việc thành lập doanh nghiệp mà không có cơ chế, chế tài đúng đắn thì vấn nạn thất thu thuế nhà nước, quyền
về pháp lý đối với tài chính của hộ kinh doanh sẽ luôn tồn tại, hiện hữu trong nền kinh tế Việt Nam
Ví dụ: (1) Tại Bản án số 87/2007/KDTM- PT ngày 10/9/2007, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử
vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/MBND/2001 ngày 26/9/2001 giữa nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại Trương Gia Lợi và bị đơn là Cơ sở sản xuất Thuận Lợi (sau khi
có Bản án giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao quyết định hủy Bản án kinh tế phúc thẩm số 12/KTPT ngày 24/02/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai đương sự này, và giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố
Trang 19Hồ Chí Minh ( Nay là Tòa án Nhân dân Cấp cao tại TPHCM ) xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật);
(2) Tại Bản án số 204/2006/KDTM-ST ngày 12/5/2006, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn Nguyễn Văn Nở - chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng và trang trí nội thất Hải Hưng và bị đơn Công ty TNHH sơn Jotun Việt Nam;
(3) Tại Bản án số 1784/2007/KDTM-ST ngày 24/9/2007 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng đại lý giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Tốt-Chủ hộ kinh doanh cá thể - Nhà phân phối Phước Hiệp và bị đơn Công ty TNHH thương mại và sản xuất Khiêm Tín
Hộ kinh doanh cá thể có thể được thành lập bởi nhiều người, nhưng dù một người hay nhiều người đều không có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, có
đứng ra đăng ký kinh doanh có được xem là người đại diện đương nhiên cho nhóm tạo lập ra hộ kinh doanh hay không, hay chỉ là người đại diện cho nhóm để đăng ký kinh doanh? Câu trả lời có ý nghĩa quan trọng đối với chế độ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vấn đề
tư cách tham gia tố tụng và vấn đề quản trị hộ kinh doanh Câu trả lời phụ thuộc phần nào vào việc giải thích các qui định về việc thành lập và đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh mà sẽ được nói tới trong một chừng mực nhất định
1.1.2.2 Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ
Xuất phát từ đặc điểm nước ta là nước nông nghiệp việc làm ăn chủ yếu nhỏ lẻ và dần hình thành các hộ kinh doanh (gia đình) và được pháp luật Việt Nam ghi nhận (thừa nhận) là một mô hình trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trang 20Từ quan điểm đó mà pháp luật và đa số người dân cho rằng hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ, từ “nhỏ” ở đây là nhỏ về vốn, nhỏ về sử dụng lao động, nhỏ về địa điểm kinh doanh,…Tuy nhiên thực tế diễn ra không như vậy, hộ kinh doanh cá thể có vị trí hết sức quan trọng trong
cơ cấu nền kinh tế, đóng góp cho GDP cho Nhà nước với tỷ lệ lớn Do vậy vấn đề là Nhà nước ta cần phải có cái nhìn bao quát hơn, công nhận vị trí, tầm quan trọng của mô hình này, từ đó có các chính sách phát triển phù hợp
Khoản 1 điều 66 nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”
Đồng thời, điều 101 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có
tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
Theo đó, hộ kinh doanh không phải là một chủ thể pháp lý Các thành viên là cá nhân tham gia hộ kinh doanh đó mới là chủ thể pháp lý Hộ kinh doanh chỉ là cách gọi chung cho những nhóm cá nhân kinh doanh với trách nhiệm vô hạn (“chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”)
Vì tất cả những điều đó, cá nhân kinh doanh là một chủ thể khác với công ty kinh doanh, dù trong khái niệm kinh tế thì hai chủ thể đều là doanh
Trang 21nghiệp, nhưng trong khái niệm pháp lý, những cơ chế và yêu cầu pháp lý đối với hai chủ thể này là khác hẳn Có thể ví von hai loại hình kinh doanh này giống như gạo nếp, gạo tẻ, tuy cùng là gạo nhưng không thể cho chung vào nấu trong một nồi, vì mỗi loại có chức năng và lý do tồn tại riêng
Hộ kinh doanh như một chủ thể doanh nghiệp không tồn tại trong Luật doanh nghiệp hiện hành, nhưng hộ kinh doanh thực chất đã có tư cách pháp lý trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật từ rất lâu rồi, nổi bật là trong Bộ luật dân sự Cũng cần tính đến thực tế hộ kinh doanh là khái niệm sinh ra từ thực tiễn mang tính truyền thống và văn hóa của Việt Nam, bắt đầu từ “hộ gia đình”
1.1.2.3 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản
nợ của hộ kinh doanh
Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì hộ kinh doanh là do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ
18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ Mỗi hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới 10 lao động và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Dựa trên quy định trên của pháp luật ta có thể thấy hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ sở hữu nên về nguyên tắc chủ hộ kinh doanh sẽ có trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh hay nói cách khác là phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả các tài sản không được đưa vào kinh doanh Do vậy, nếu phải thực hiện nghĩa vụ nợ, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc hộ gia đình sẽ phải dùng toàn bộ tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ này và trong trường hợp này nếu các chủ nợ yêu cầu cá nhân và các thành viên tham gia phải chịu trách nhiệm là đúng với quy định của pháp luật
Trang 221.2 Vai trò của hộ kinh doanh và sự khác biệt của hộ kinh doanh với doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vai trò của hộ kinh doanh trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Kinh tế hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh là một lực lượng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Sớm nhận thức rõ vai trò của hộ kinh doanh trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện phát triển khu vực hộ kinh doanh
Nhờ đó, từ năm 1988 đến nay, kinh tế hộ gia đình đã có những chuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu Nhiều hộ kinh doanh đã đứng vững trong nền kinh tế thị trường, có tác động tích cực đến công tác xóa đói giảm nghèo Tuy vậy, dưới góc độ phát triển bền vững, sự phát triển của hộ kinh doanh vẫn còn nhiều hạn chế Qua khảo sát thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh thời gian gần đây, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy kinh
tế hộ phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững
Thuật ngữ “hộ kinh doanh (HKD)” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006 Trước đây, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH), HKD tại Việt Nam được gọi dưới các tên gọi khác nhau như “tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa”; “hộ cá thể”, “hộ tiểu công nghiệp”; “HKD cá thể”…
Tên gọi “tổ chức tiểu sản xuất hàng hoá” được sử dụng trong giai đoạn trước “đổi mới” (năm 1986) như: Thợ thủ công, nông dân cá thể, người làm dịch vụ nhỏ được phép kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy môn bài Tuy nhiên, do thực hiện chủ trương coi thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nên khu vực kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa thời kỳ này chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn
Trang 23Từ sau đổi mới (năm 1986), cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, HKD đã chính thức được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, từ đó khu vực có sự phát triển mạnh mẽ
Trước khi Luật Doanh nghiệp (DN) tư nhân và Luật Công ty ra đời (năm 1990), HKD tồn tại dưới hình thức hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp và lực lượng này chính thức được công nhận bằng Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Trong giai đoạn này, do điều kiện lịch sử
và bối cảnh kinh tế - xã hội, hạn chế bởi danh mục cấm kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện, nên sự phát triển của hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp còn chậm
Giai đoạn từ khi ban hành Luật DN tư nhân và Luật Công ty được ban hành cho đến trước khi ban hành Luật DN năm 1999 (1990-1999) ra đời, HKD tồn tại dưới hình thức người kinh doanh, gồm: Các cá nhân, nhóm người kinh doanh dưới vốn pháp định và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng
Giai đoạn từ 1999- 2005 (Luật DN năm 1999 - Luật DN năm 2005), HKD tồn tại dưới hình thức HKD cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, được quy định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có quy định không cho phép HKD được thường xuyên thuê lao động không phù hợp với thực tế hoạt động
Vì vậy, để tạo điều kiện cho HKD cá thể phát triển, ngày 2/4/2004 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 109/2004/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh; trong đó, bãi bỏ quy định HKD không được thường xuyên thuê lao động
Giai đoạn từ khi ban hành Luật DN năm 2005 đến nay, HKD cá thể được đổi tên thành HKD, bổ sung đối tượng một nhóm người làm chủ HKD
Trang 24và sửa đổi quy định việc yêu cầu các HKD sử dụng từ 10 lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức DN
Bên cạnh việc đổi tên HKD theo từng thời kỳ, nhiều cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc hình thành và phát triển của HKD đã được ban hành Nhờ đó, thị trường đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của HKD Theo Tổng cục Thống kê, năm 1999 cả nước có hơn 1,5 triệu HKD sử dụng hơn 3 triệu lao động, đến năm 2017, số HKD đã tăng lên trên 5,14 triệu,
sử dụng khoảng 8,58 triệu lao động Năm 2015, tổng doanh thu của khu vực HKD là trên 2.249 nghìn tỷ đồng
Thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh:
Theo Tổng cục Thống kê (năm 2018), tính đến năm 2017, cả nước có trên 5,14 triệu HKD Xét theo quá trình thì tổng số lượng HKD liên tục tăng qua các năm (Hình 1)
Các HKD phân bố tương đối đồng đều trên cả nước Trong đó, Đồng bằng sông Hồng, Trung bộ, Đồng Bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là những vùng chiếm tỷ trọng cao nhất, lần lượt là 25,86%; 23,03%; 19,34% và 17,52% (2017) Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm tỷ trọng thấp nhất, lần lượt là 9,47% 4,78% tổng số HKD Trên cơ sở phân bổ dân cư,
tỷ trọng HKD giữa các vùng không có sự biến động đáng kể trong nhiều năm qua
Theo ngành nghề kinh doanh, tỷ trọng HKD trong ngành Thương mại - dịch vụ chiếm khoảng 80%, 20% còn lại là trong ngành Công nghiệp - xây dựng Thống kê các năm cho thấy, tỷ trọng các hộ thương mại dịch vụ ngày càng tăng: năm 2012 là 78,9%, năm 2014 là 80% và năm 2017 là 81,9%, cùng với đó là tỷ trọng giảm đi trong ngành Công nghiệp - xây dựng Tương ứng với đó, năm 2017 số lao động tại các HKD trong lĩnh vực công nghiệp chiếm trên 22%, gần 88% còn lại đến từ khu vực hộ trong lĩnh vực dịch vụ
Trang 25Nguyên nhân của tình trạng này có thể do yếu tố quy mô nên các hộ có ngành nghề công nghiệp - xây dựng đã dần chuyển sang các hình thức DN chính thống
Thời gian qua, HKD đã có những đóng góp tích cực trong nền kinh tế, nổi bật như:
Thứ nhất, khu vực HKD có đóng góp lớn trong tạo việc làm và giải
quyết các vấn đề xã hội Theo Tổng cục Thống kê, số lao động làm việc trong khu vực HKD tăng nhanh theo thời gian, từ trên 7,4 triệu người năm 2010 tăng lên gần 8,6 triệu người năm 2017
Số lượng lao động làm việc trong khu vực HKD giai đoạn 2010-2017 chiếm khoảng từ 59%-75% so với số lao động làm việc trong khu vực DN Nếu chỉ so với số lao động làm việc trong các DN thuộc khu vực tư nhân thì
số lao động làm việc trong khu vực HKD trong 2 năm gần đây là tương đương Trong giai đoạn trước đó, số lao động làm việc trong khu vực HKD cao hơn tương đối so với số lao động làm việc trong các DN ngoài nhà nước, khoảng từ 3%-24%
Số lao động trung bình một HKD dao động từ 1,677-1,8 người/HKD trong giai đoạn 2010-2017, trong khi con số này ở khu vực DN là khoảng 26-35,2 người/Doanh nghiệp Ý nghĩa tạo việc làm và thu nhập cho người dân của HKD là khá quan trọng Tổng cục Thống kê (năm 2018) phân tích, gần 8,6 triệu lao động làm việc tại các HKD có ý nghĩa quan trọng trong xã hội hiện nay
Không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo trực tiếp cho chính chủ sở hữu, người quản lý khu vực này còn gián tiếp cải thiện cuộc sống cho những người có thu nhập thấp, người nghèo ở thành thị và nông thôn
Trang 26Nhờ có HKD, người nghèo mới được tiếp cận các hàng hoá, dịch vụ nhanh hơn với giá cả bình dân Hơn nữa, khu vực này còn là nơi tiếp nhận người lao động không đủ kỹ năng làm việc cho khu vực doanh nghiệp, khu vực hành chính sự nghiệp chuyển sang Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ HKD đang hoạt động tại các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống - một phần của văn hoá dân tộc Việt Nam
Thứ hai, HKD là một trong những động lực thúc đẩy tinh thần kinh
doanh và phát triển kinh tế thị trường Với rào cản tham gia thị trường thấp hơn đáng kể so với rào cản của khu vực doanh nghiệp, HKD có thể là bước trung gian tốt hơn để các cá thể khởi nghiệp vững chắc, đặc biệt là ở những ngành, lĩnh vực kinh doanh truyền thống Thực tế cho thấy, HKD là mô hình khởi sự kinh doanh phổ biến ở Việt Nam nhờ vào sự đơn giản về thủ tục gia nhập thị trường, ít ràng buộc về tổ chức quản lý, phù hợp với nhiều thành phần, lứa tuổi, vùng miền và không quá đòi hỏi cao về năng lực tài chính, chi phí vốn thấp
Quy mô vốn bình quân và giá trị tài sản cố định bình quân của một HKD có xu hướng tăng lên qua các năm Trong giai đoạn 2007-2015, quy mô vốn bình quân tăng 16,5%/năm, từ 59,3 triệu đồng/hộ năm 2007 lên 150,61 triệu đồng/hộ năm 2015, gấp 2,54 lần so với năm 2007 (Tổng cục Thống kê, 2016) Trong khi đó, vốn bình quân một doanh nghiệp ngoài nhà nước giai đoạn này đạt khoảng từ 26,6 tỷ - 51,6 tỷ đồng
Có nhiều tiêu chí đánh giá về tinh thần kinh doanh, trong đó có tiêu chí
“tỷ lệ tự làm chủ doanh nghiệp” Xét trên phương diện này, sự gia tăng số lượng các HKD góp phần to lớn và trực tiếp nâng cao tinh thần kinh doanh, tác động mạnh mẽ đến sự hình thành kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 27HKD cũng là hình thức tổ chức kinh doanh chủ yếu sử dụng vốn tự có để
sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn 2007- 2014, tỷ trọng vốn chủ sở hữu
trên tổng nguồn vốn trung bình của HKD dao động từ gần 89% đến khoảng
93% (Tổng cục Thống kê, 2016) Điều này cho thấy, các HKD được thành lập
và hoạt động chủ yếu dựa trên năng lực tài chính tự thân, chưa sử dụng nhiều
tới nguồn lực tài chính từ bên ngoài
Thứ ba, HKD có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế HKD có vai
trò đáng kể trong tạo ra của cải vật chất, hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, trực
tiếp đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Theo số liệu của Tổng cục Thống kê
(năm 2013), HKD chỉ nắm giữ 3% tổng nguồn vốn kinh doanh, nhưng chiếm
tới hơn 13% doanh thu của các tổ chức kinh doanh có đăng ký (gồm HKD và
các DN chính thức) Trong một số ngành như bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ôtô,
mô tô, xe máy và xe có động cơ… tỷ lệ này ở mức cao hơn, đạt trên 21%
Trang 28Doanh thu của khu vực HKD liên tục tăng trong giai đoạn 2005 - 2015 Theo Tổng cục Thống kê (năm 2016), doanh thu của khu vực HKD năm 2005
là 439.364 tỷ đồng và lên mức 2.249.377 tỷ đồng trong năm 2015 Doanh thu bình quân một HKD giai đoạn này cũng tăng từ 140 triệu đồng/hộ (năm 2005) lên mức 473 triệu đồng/hộ năm 2015, gấp hơn 3,4 lần
Thứ tư, hiệu quả sử dụng các nguồn lực của HKD ngày càng nâng cao,
tác động tích cực đến hiệu quả chung của nền kinh tế Xét về hiệu quả sử dụng vốn để tạo doanh thu và thu nhập trực tiếp, năm 2013, trong khi khu vực
DN cần tới 1,42 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu (khu vực DN nhà nước
là 1,81 đồng, DN ngoài nhà nước là 1,40 đồng, DN có vốn đầu tư nước ngoài
là 1,09 đồng) thì HKD chỉ cần 0,30 đồng Nói cách khác, HKD sử dụng 1 đồng vốn kinh doanh để tạo ra trên 3 đồng doanh thu, cao hơn nhiều so với khu vực DN với chỉ 0,7 đồng
1.2.2 Sự khác biệt của hộ kinh doanh với doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hiện nay, ở Việt Nam có 1,3 triệu hộ kinh doanh và hơn 500.000 doanh nghiệp Nhà nước tạo điều kiện cho người dân chuyển đổi loại hình hộ kinh doanh sang doanh nghiệp để dễ quản lý và thực hiện tốt hơn các chính sách kinh tế Việc nghiên cứu và phân tích sự khác nhau giữa các loại hình này là một bước tất yếu để nhà nước có thể quản lý kinh tế theo đúng ý chí của mình
(i) Sự khác biệt giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân:
+) Chủ thể
- Doanh nghiệp tư nhân: do một cá nhân làm chủ góp toàn bộ vốn, tự chịu toàn bộ lợi ích, trách nhiệm Điều kiện làm chủ của doanh nghiệp tư nhân là công dân Việt Nam trên 18 tuổi, có thể là người nước ngoài nhưng
Trang 29phải thỏa mãn các điều kiện về hành vi thương mại do pháp luật đất nước đó quy định
- Hộ kinh doanh: do cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm, một hộ gia đình làm chủ, cùng nhau quản lý, phát triển mô hình và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
+) Quy mô kinh doanh
- Doanh nghiệp tư nhân
+ Lớn hơn
+ Không giới hạn quy mô, vốn, địa điểm kinh doanh
+ Không được phép xuất khẩu, nhập khẩu
- Hộ kinh doanh
+ Nhỏ hơn
+ Kinh doanh buôn bán phải lựa chọn một địa điểm cố định để đăng ký kinh doanh, có thể là nới đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi tạm trú hoặc địa điểm thường xuyên kinh doanh nhất
+ Nếu buôn bán lưu động, kinh doanh ngoài địa điểm kinh doanh phải thông báo cho cơ quan thuế, quản lý kinh doanh…
+ Không được phép xuất khẩu, nhập khẩu
+) Lượng nhân công
- Doanh nghiệp tư nhân: không hạn chế
- Hộ kinh doanh: giới hạn nhân công 10 người
+) Điều kiện kinh doanh
- Doanh nghiệp tư nhân: buộc phải đăng kí kinh doanh, phải đăng kí kinh doanh ở cấp tính để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phải
có con dấu trong quản lý được cơ quan công an cấp
- Hộ kinh doanh:chỉ trong một sô trường hợp nhất đinh, đăng ký kinh doanh ở cơ quan cấp huyện và không có con dấu
Trang 30+) Ưu điểm
- Doanh nghiệp tư nhân: một chủ đầu tư, thuận lợi trong việc quyết định các vấn đề của doanh nghiệp, dễ dang vay vốn do chế độ chịu trách nhiệm của mình
- Hộ kinh doanh: quy mô gọn nhẹ, chế độ chứng từ sổ sách kế toán đơn giản, phù hợp với cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ
- Hộ kinh doanh: Nhà đầu tư phải dùng tài sản của mình để trả nợ nếu
Hộ kinh doanh thua lỗ
+) Quy mô kinh doanh
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
+ Việc sản xuất kinh doanh bài bản, quy cũ Có cơ cấu tổ chức và hoạt động cụ thể
+ Không giới hạn quy mô, vốn và địa điểm kinh doanh (được thành lập các đơn vị phụ thuộc)
- Hộ kinh doanh
Trang 31+ Kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ, không yêu cầu về cơ cấu tổ chức quản trị rõ ràng, không có kế hoạch mở rộng quy mô trong tương lai
+ Chỉ được đăng lý kinh doanh tại 1 địa điểm, không thể mở thêm chi nhánh, địa điểm kinh doanh tại địa chỉ khác
+) Lượng nhân công
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: không giới hạn số lượng lao động được quyền sử dụng trực tiếp (thông qua Hợp đồng lao đồng)
- Hộ kinh doanh: Chỉ được sử dụng dưới 10 lao động trực tiếp
vị pháp lý hộ kinh doanh, đồng thời cần phải khắc phục hạn chế, bất cập thủ tục thành lập, đăng ký hộ kinh doanh, pháp luật cần quy định quy chế cụ thể loại hộ kinh doanh, hướng dẫn cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện việc tổ chức, điều hành, phân chia trách nhiệm rủi ro Ngoài ra, hộ kinh doanh đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ, hoạt động tản mạn, trình độ lao động thấp, lại chiếm tỷ lệ đông đảo kinh tế
Trang 32Vậy Nhà nước cần ban hành quy chế hỗ trợ kinh doanh để giúp chủ thể phát huy tiềm sẵn có phát triển ổn định, đóng góp cho phát triển ổn đinh kinh
tế đất nước
Nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do vậy mọi quan hệ
xã hội trong đó có quan hệ hộ kinh doanh cũng cần cụ thể hóa trong luật Đó
là không chỉ ghi nhận về vị trí, vai trò của hộ kinh doanh đã đóng góp cho nền kinh tế nói chung mà còn ghi nhận những đóng góp thầm lặng trong việc giải quyết việc làm nhàn rỗi cho người lao động góp phần đảm bảo an ninh trật tự,
an toàn xã hội
Ngoài ra, việc quản lý nhà nước về hộ kinh doanh bằng luật doanh nghiệp sẽ tạo sự cạnh tranh công bằng trong việc tiếp cận nguồn vốn, chủ động trong phương án kinh doanh, mở rộng địa bàn hoạt động, quan trọng nhất là chịu trách nhiệm pháp lý “vô hạn” hay “hữu hạn” đối với tài sản của mình
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY, THỰC TIỄN TẠI QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hộ kinh doanh
2.1.1 Quy định về đăng ký, thành lập hộ kinh doanh
Tại nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, hộ kinh doanh là một trong những hình thức kinh doanh phổ biến bởi sự đơn giản trong thủ tục thành lập và chi phí gia nhập thị trường thấp Thành lập hộ kinh doanh cũng cho phép người thành lập được chủ động, độc lập hoàn toàn trong việc ra quyết định trong phạm vi hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, khi hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh, cũng như gặp khó khăn trong việc huy động vốn, bao gồm cả vốn vay
từ ngân hàng
Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế, sự hình thành và phát triển mô hình
hộ kinh doanh là tuân theo quy luật vận động tự nhiên của nền kinh tế, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của hoạt động đầu tư kinh doanh Do vậy, nhiều quốc gia đã có quy định pháp luật riêng về đăng ký hộ kinh doanh nhằm đảm bảo việc thực thi chính sách và quản lý đối với loại hình doanh nghiệp này Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ Tuy nhiên, một số quốc gia khác chỉ có quy định về hộ kinh doanh do cá nhân làm chủ với nhiều tên gọi
Trang 34khác nhau như doanh nghiệp một chủ (one-man business), thương nhân cá thể (sole trader) hoặc doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship)
Căn cứ Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp quy định:
"Điều 66 Hộ kinh doanh
1 Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
2 Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch
vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương
3 Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định."
Như vậy, việc mở xưởng với nhân công dưới 10 người, thì người xin thành lập hộ kinh doanh có thể đăng ký kinh doanh theo hộ hoặc cá thể với thủ tục quy định tại Điều 71 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP :
"Điều 71 Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh
1 Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy
đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh gồm:
a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh; số điện thoại, số
Trang 35Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình
và bản sao hợp lệ biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập
2 Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu có đủ các điều kiện sau đây:
a) Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh;
b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định tại Điều 73 Nghị định này;
c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh
Trang 363 Nếu sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thi người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
4 Định kỳ vào tuần làm việc đầu tiên hàng tháng, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện gửi danh sách hộ kinh doanh đã đăng ký tháng trước cho cơ quan thuế cùng cấp, Phòng Đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý chuyên ngành cấp tỉnh."
Đăng ký hộ kinh doanh cá thể khi nói khái quát thì có thể dễ hơn rất nhiều so với thành lập doanh nghiệp vì nó ít gò bó ở 1 khuôn khổ nhất định Nhưng khi tiến hành quy trình gặp nhiều cản trở hơn nhiều, bởi việc có khuôn khổ thì dễ đi vào quy định hơn, còn không có khuôn khổ thì tùy thuộc vào cơ quan đăng ký và chuyên viên xử lý hồ sơ
Điển hình như trong quá trình thành lập hộ kinh doanh, thực tế 1 số vấn
đề mà tùy vào cán bộ xử lý hồ sơ sẽ có cách giải quyết khác nhau, như trong nghị định không hề quy định cấm đặt tên hộ kinh doanh bằng tiếng anh, nhưng đến uỷ ban nhân dân nào cũng vậy, tên tiếng anh sẽ không được chấp nhận Và không phải uỷ ban nhân dân nào cũng hướng dẫn cách sửa lại tên bằng cách thêm dấu chấm vào giữa các kí tự
2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh
Ngoài ra, nghị định 78 còn quy định quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh như sau:
- Quyền của hộ kinh doanh
Trang 37+ Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và
có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này
+ Cá nhân, hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này chỉ được đăng
ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc Cá nhân quy định tại Khoản 1 Điều này được quyền góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp với tư cách
cá nhân
+ Cá nhân thành lập và tham gia góp vốn thành lập hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại
+ Hộ kinh doanh có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và nộp phí theo quy định
+ hộ kinh doanh có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh ngành, nghề phải có điều kiện
+ Hộ kinh doanh, người thành lập hộ kinh doanh tự kê khai hồ sơ đăng
ký hộ kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh
Nghĩa vụ của hộ kinh doanh
+ Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy
đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh
Trang 38+ Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh do người thành lập hộ kinh doanh tự khai và tự chịu trách nhiệm
+ Hộ kinh doanh không được sử dụng các cụm từ “công ty”, “doanh nghiệp” để đặt tên hộ kinh doanh
+ Nộp thuế theo đúng quy định pháp luật
2.1.3 Quy định về chấm dứt hộ kinh doanh
Khi chấm dứt hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh phải gửi thông báo
về việc chấm dứt hoạt động và nộp lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký, đồng thời thanh toán đầy đủ các khoản nợ, gồm cả nợ thuế và nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện
a Hồ sơ xin giải thể hộ kinh doanh gồm các loại giấy tờ sau:
- Bản thông báo chấm dựt hoạt động của hộ kinh doanh
- Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh
- Xác nhận thanh toán đầy đủ các khoản nợ (gồm cả nợ thuế và nghĩa
vụ tài chính chưa thực hiện) của Chi cục Thuế
- Sau khi kiểm tra đầy đủ tính hợp pháp của hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, đồng thời thông báo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật => hộ kinh doanh chính thức chấm dứt hoạt động
b Trình tự xin giải thể hộ kinh doanh
- Công dân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật
- Công dân nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện
- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện tiếp nhận hồ sơ và chuyển phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc UBND cấp huyện kiểm tra, ký giấy chứng nhận
Trang 39- Công dân nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện
Điều 42 Nghị định 50/2016/NĐ-CP quy định về việc vi phạm về việc tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh như sau:
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tạm ngừng kinh doanh mà không thông báo hoặc thông báo không đúng thời hạn bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi
hộ kinh doanh đã đăng ký
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;
+ Ngừng hoạt động kinh doanh quá 06 tháng liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc gửi thông báo cho cơ quan đăng
ký kinh doanh cấp huyện đối với hành vi vi phạm trên
Theo điều 44 Nghị định 50/2016/NĐ-CP quy định quy định về việc chấm dứt hoạt động của hộ kinh doanh như sau:
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi chấm dứt hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không thông báo hoặc không nộp lại bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thông báo hoặc nộp lại bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này
Trang 40Như vậy trong trường hợp bạn làm mất giấy phép đăng ký hộ kinh doanh thì bạn sẽ không bị phạt, nếu bạn muốn chấm dứt hoạt động hộ kinh doanh mà không nộp lại bản gốc thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc có thể sẽ bị áp dụng mức phạt từ 500.000đ đến 1.000.000đ
Trong trường hợp này, bạn nên lên cơ quan đăng kí kinh doanh cấp quận, huyện (phòng tài chính-kế hoạch của UBND cấp quận, huyện) để làm thủ tục báo mất và xin cấp lại giấy đăng kí hộ kinh doanh rồi hãy làm thủ tục chấm dứt hoạt động thì như vậy bạn sẽ không bị phạt
2.2 Những bất cập của pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Bất cập về cách nhận diện hộ kinh doanh
Qua tìm hiểu các qui định của pháp luật và thực tế hiện nay ở nước ta cho thấy vẫn còn tồn tại một số quy định về điều kiện kinh doanh mang tính chất áp đặt đến quy mô của doanh nghiệp, can thiệp quá sâu vào quyền tự quyết của chủ thể kinh doanh, ví dụ như: Doanh nghiệp kinh doanh taxi, vận tải theo hợp đồng phải đạt số lượng xe tối thiểu trong phương án kinh doanh được Sở Giao thông vận tải phê duyệt mới có thể hoạt động3 Quy định này,
vô hình chung đã trực tiếp loại bỏ đa số doanh nghiệp vận tải nhỏ và vừa, tạo điều kiện để các doanh nghiệp lớn chiếm giữ thị trường, làm giảm cơ hội lựa chọn dịch vụ của khách hàng Thực tế cho thấy, không phải cơ sở kinh doanh nào có số lượng xe nhiều hơn thì chất lượng dịch vụ tốt hơn và an toàn hơn khi tham gia giao thông Nghị định số 86/2014/NĐ-CP cũng cho thấy có sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể trong cùng một điều kiện Cụ thể, cùng một phương tiện giao thông là ô tô nhưng niên hạn tham gia giao thông ở đô thị loại đặc biệt có thời hạn không quá 8 năm, trong khi đó niên hạn ở các địa phương khác là không quá 12 năm4; Doanh nghiệp bán buôn rượu phải có