Luật pháp quốc tế có 07 nguyên tắc cơ bản, có vai trò nền tảng trong hệ thống pháp luật quốc tế sau Thế chiến thứ hai đến nay. Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế (pacta sunt Servanda) và 6 nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đều có đặc điểm như sau: Thứ nhất, Là những nguyên tắc bao trùm nhất Những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại thể hiện tư tưởng chung và những đặc điểm về bản chất của luật quốc tế hiện đại, chúng là tổng quát hoá toàn bộ nội dung của những quy phạm cụ thể của luật quốc tế. Đồng thời chúng là những quy phạm pháp lý áp dụng đối với những đối tượng rộng rãi nhất trong quan hệ quốc tế. Cũng phải nêu lên rằng bản thân những nguyên tắc cơ bản khác nhau cũng có mức độ tổng quát, bao trùm khác nhau. Có những nguyên tắc cơ bản chỉ thể hiện từng mặt cụ thể của những nguyên tắc cơ bản khác, chung hơn, tổng quát hơn. Thứ hai, Là những nguyên tắc quan trọng nhất Trong hệ thống những nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế, những nguyên tắc cơ bản là những nguyên tắc quan trọng nhất có tính chất chỉ đạo và có ý nghĩa cơ sở đối với việc xây dựng những quy phạm luật quốc tế khác. Những nguyên tắc và quy phạm khác phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản. Những nguyên tắc trái với chúng sẽ bị coi là trái với nội dung của luật quốc tế hiện đại và do đó, không có giá trị pháp lý. Cho nên người ta còn gọi những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là thước đo tính chất hợp pháp của tất cả những quy phạm pháp lý khác trong quan hệ quốc tế. Thứ ba, Là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi nhất Những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại là thành quả đấu tranh lâu dài của các dân tộc được thừa nhận rộng rãi. Ngày nay những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận chủ yếu trong Hiến chương Liên hợp quốc một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng thành lập tổ chức chính trị quốc tế rộng rãi nhất bao gồm hầu hết các quốc gia bình đẳng, có chủ quyền, không phân biệt chế độ kinh tế, xã hội của họ.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
Số Phách
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI: Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế, lý luận
và thực tiễn.
Học phần: Công Pháp Quốc Tế 1 Giảng viên phụ trách Học phần: Th.S Nguyễn Thị Hà
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Linh
Mã sinh viên : 19A5011527
Lớp : K43B
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI: Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế, lý luận và thực tiễn
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2022 Niên học 2021 - 2022
Số phách
Ý 1
Ý 2
Ý 3
Ý 4
Ý 5
TỔNG
Giảng viên chấm điểm 1 Giảng viên chấm điểm 2
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3Mục Lục
Phần Mở đầu 2
1 Trình bày tính cấp thiết của đề tài 2
2 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 2
Phần Nội dung 3
Chương 1 Nội dung nguyên tắc tuân thu cam kết Quốc tế 3
1 Khái niệm, đăc điểm, vai trò nguyên tắc tuân thủ nguyên tắc cam kết Quốc tế 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Đặc điểm 3
1.3 Vai trò 4
2 Nguồn của nguyên tắc 4
3 Nội dung chính 5
4 Áp dụng cho tất cả các cam kết quốc tế 5
5 Ngoại lệ 6
Chương 2 Thực tiễn nguyên tắc tuân thủ cam kết Quốc tế tại Việt Nam 7
1 Thực tiễn 7
Ưu điểm: 9
Nhược điểm 10
Phần Kết Luận 11
Danh mục tài liệu tham khảo 12
Trang 4Phần Mở đầu
1 Trình bày tính cấp thiết của đề tài
Trong mối quan hệ quốc tế, để các quốc gia tuân thủ theo các cam kết đã thỏa thuận và tôn trọng lẫn nhau, Luật quốc tế cũng đã quy định về các nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia với nhau Một trong các nguyên tắc
cơ bản trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là nguyên tắc tuân thủ cam kết quốc tế (Pact sunt servanda), nguyên tắc này là một trong bảy nguyên tắc cảu Luật Quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay trong đó có Việt nam của chúng ta
Quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong cộng đồng quốc tế phải tuân theo một trật tự nhất định Trật tự đó luật quốc tế quy định Luật quốc tế tồn tại được hay không, quan hệ giữa các quốc gia có được ổn định hay không và các quốc gia có đi đến chỗ phá vỡ trật tự hay không phần lớn phụ thuộc vào việc các quốc gia có tôn trọng những cam kết quốc tế của mình hay không
Để có thể tìm hiểu khái quát về nguyên tắc tuân thủ cam kết quốc tế (Pact sunt servanda), và xem tính thực tiễn áp dụng nguyên tắc hiện nay theo quy định của Luật Quốc tế đối với Việt Nam hiện trong các giai đoạn hiện nay để qua đó đánh giá thực tiễn nguyên tắc vẫn mang tính phù hợp hay thực tiễn không còn phù hợp để có thể thay đổi cho phù hợp với hiện tại
Vì vây, em xin chọn đề tài Tiểu luận “Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế,
lý luận và thực tiễn” để kết thúc học phần “Công pháp Quốc tế 1”
2 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ngiên cứu về lý luận và thực tiễn nguyên tắc tuân thủ cam kết Quốc tế trong Luật quốc tế của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam về thực hiện nguyên tắc tuân thủ cam kết quốc
tế, giai đoạn từ năm 2020 – 2021
Trang 5Phần Nội dung Chương 1 Nội dung nguyên tắc tuân thu cam kết Quốc tế
1 Khái niệm, đăc điểm, vai trò nguyên tắc tuân thủ nguyên tắc cam kết Quốc tế 1.1 Khái niệm
Nguyên tắc tôn trọng cam kết quốc tế là một nguyên tắc được hình thành khá sớm trong sinh hoạt quốc tế, và phát triển qua bốn hình thái kinh tế xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, nguyên tắc này tồn tại trong hầu hết các văn bản pháp lý quan trọng của luật quốc tế, và được ghi nhận chính thức tại khoản 2 điều 2 của Hiến chương Liên Hớp Quốc: “tất cả các thành viên Liên Hợp Quốc thiện chí thực hiện các nghĩa
vụ do Hiến chương đặt ra” Công ước Viên năm 1969 chỉ ra rằng “mỗi điều ước quốc tế hiện hành đều ràng buộc các bên tham gia và đều được các bên thực hiện một cách thiện chí” Ngoài các văn bản trên, nguyên tắc này còn được ghi nhận một cách chính thức trong Tuyên bố 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế Khái niệm: Nguyên tắc tuân thủ cam kết quốc tế được hiểu là khi các bên chủ thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các Điều ước quốc tế thì phải trên cơ
sở của sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng để qua đó chịu sự ràng bược bởi cam kết đó Đồng thời, khi đã tham gia vào điều ước Quốc tế đó các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết, làm đúng những điều đã hứa
1.2 Đặc điểm
Luật pháp quốc tế có 07 nguyên tắc cơ bản, có vai trò nền tảng trong hệ thống pháp luật quốc tế sau Thế chiến thứ hai đến nay Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế (pacta sunt Servanda) và 6 nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đều có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Là những nguyên tắc bao trùm nhất
Những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại thể hiện tư tưởng chung và những đặc điểm về bản chất của luật quốc tế hiện đại, chúng là tổng quát hoá toàn
bộ nội dung của những quy phạm cụ thể của luật quốc tế Đồng thời chúng là những quy phạm pháp lý áp dụng đối với những đối tượng rộng rãi nhất trong quan hệ quốc tế
Cũng phải nêu lên rằng bản thân những nguyên tắc cơ bản khác nhau cũng có mức độ tổng quát, bao trùm khác nhau Có những nguyên tắc cơ bản chỉ thể hiện từng mặt cụ thể của những nguyên tắc cơ bản khác, chung hơn, tổng quát hơn Thứ hai, Là những nguyên tắc quan trọng nhất
Trang 6Trong hệ thống những nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế, những nguyên tắc cơ bản là những nguyên tắc quan trọng nhất có tính chất chỉ đạo và có ý nghĩa
cơ sở đối với việc xây dựng những quy phạm luật quốc tế khác Những nguyên tắc
và quy phạm khác phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản Những nguyên tắc trái với chúng sẽ bị coi là trái với nội dung của luật quốc tế hiện đại và
do đó, không có giá trị pháp lý Cho nên người ta còn gọi những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là thước đo tính chất hợp pháp của tất cả những quy phạm pháp lý khác trong quan hệ quốc tế
Thứ ba, Là những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi nhất
Những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại là thành quả đấu tranh lâu dài của các dân tộc được thừa nhận rộng rãi Ngày nay những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận chủ yếu trong Hiến chương Liên hợp quốc một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng thành lập tổ chức chính trị quốc tế rộng rãi nhất bao gồm hầu hết các quốc gia bình đẳng, có chủ quyền, không phân biệt chế độ kinh tế, xã hội của họ
1.3 Vai trò
Nguyên tắc đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển tiến bộ của luật quốc
tế và việc thiết lập pháp lý mới giữa các dân tộc
Tạo sự liên kết về mọi mặt như: Kinh tế, chính trị, xã hội …vv giữa các quốc gia mong muốn thiết lập mối quan hệ, góp phần giữ vẫn chính trị thế giới, qua đó giúp các quốc gia trong mối quan hệ phát triển và nâng cao sự gắn kết
Là những quy tắc, quy ước giữa các bên nhằm đi đến những quyết định chung, những quyết định mang tính ràng buộc giúp cho việc ổn định giữa các bên, tránh xung đột VD như: quy ước về biên giới trên đất, trên biển…vv
2 Nguồn của nguyên tắc
Nguyên tắc pacta sunt servanda đã tồn tại lâu đời trong luật pháp quốc tế – có thể xem là “nguyên tắc lâu đời nhất của luật pháp quốc tế.”Nguyên tắc này là một nguyên tắc cơ bản của luật điều ước quốc tế, được xem là một quy định có tính chất
“hiến định” điều chỉnh việc thực thi tất cả các điều ước quốc tế trong luật quốc tế Điều 26 của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 ghi nhận lại nguyên tắc này như sau: “Mỗi điều ước quốc tế đang có hiệu lực đều ràng buộc các bên thành viên của điều ước đó và phải được các bên thực thi một các thiện chí.”
3 Nội dung chính
Nguyên tắc pacta sunt servanda có hai nội dung chính:
Thứ nhất, các điều ước quốc tế đang có hiệu lực đối với các bên ký kết thì đều ràng buộc (binding) đối với các bên đó Một điều ước quốc tế đang có hiệu lực thì
Trang 7sẽ tạo ra ràng buộc pháp lý đối với quốc gia thành viên Ở đây, nguyên tắc pacta sunt servanda có hai điều kiện để có thể áp dụng: văn kiện liên quan phải là điều ước quốc tế và đã bắt đầu có hiệu lực đối với quốc gia thành viên Điều ước “đang
có hiệu lực” cũng bao gồm cả trường hợp áp dụng tạm thời điều ước theo Điều 25 của Công ước Viên 1969 (provisional application) Điều ước không “đang có hiệu lực” bao gồm điều ước chưa có hiệu lực, điều ước bị vô hiệu, và điều ước đã bị đình chỉ thi hành hay hủy bỏ
Thứ hai, khi điều ước đã bắt đầu có hiệu lực ràng buộc, thì các quốc gia cũng bắt đầu phải thực thi điều ước quốc tế đó, và phải thực thi theo cách thức thiện chí
“Thiện chí” (good faith) là một nguyên tắc của luật quốc tế
“Một trong những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh việc xác lập và thực thi các nghĩa vụ pháp lý, bất kể thuộc nguồn nào, là nguyên tắc thiện chí Sự tin tưởng, tin cậy là bản chất của hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong thời đại mà hợp tác trong nhiều lĩnh vực đang trở thành một phần thiết yếu Cũng giống như nguyên tắc pacta sunt servanda trong luật điều ước quốc tế cũng dựa vào sự thiện chí, tính chất ràng buộc của một nghĩa vụ quốc tế được xác lập bằng tuyên bố đơn phương cũng dựa trên sự thiện chí Do đó, các quốc gia có lợi ích liên quan có thể ghi nhận tuyên bố đơn phương và tin tưởng vào các tuyên bố đó, và có quyền yêu cầu nghĩa vụ được tạo ra
từ các tuyên bố này phải được tôn trọng.”
4 Áp dụng cho tất cả các cam kết quốc tế
Hầu hết các thảo luận đều chỉ xem nguyên tắc pacta sunt servanda là một nguyên tắc của luật điều ước quốc tế, hay chỉ áp dụng đối với điều ước quốc tế Điều này là đúng, bởi vì từ “pacta” có nghĩa là thỏa thuận, là hợp đồng, là điều ước,
và vì nguyên tắc này ghi nhận chính yếu trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 Tuy nhiên, nguyên tắc này nên được hiểu theo nghĩa rộng, theo
đó, áp dụng cho tất cả các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ tất cả cam kết quốc
tế (bao gồm cả điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung hay hành vi pháp lý đơn phương) Như trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế (Nghị quyết 2526 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc) – văn bản được xem là giải thích có giá trị của các nguyên tắc cơ bản ghi nhận trong Hiến chương – nguyên tắc pacta sunt servanda được giải thích rõ ràng áp dụng cho tất cả các nghĩa vụ pháp lý bất kể nguồn chứa đựng: Mỗi Quốc gia có nghĩa vụ phải thực thi thiện chí các nghĩa vụ của mình “theo các nguyên tắc được công nhận rộng rãi
và các quy định của luật pháp quốc tế”
5 Ngoại lệ
Không có ý kiến học giả hay án lệ nào đề cập đến ngoại lệ của nguyên tắc pacta sunt servanda Nếu có thể xem là ngoại lệ thì có thể là có hai trường hợp
Trang 8Thứ nhất, là nghĩa vụ thực thi Hiến chương Liên hợp quốc khi có xung đột với các điều ước khác Điều 103 Hiến chương quy định: “Trong trường hợp có xung đột giữa nghĩa vụ của Thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương này và nghĩa vụ theo bất kỳ thỏa thuận quốc tế khác, nghĩa vụ theo Hiến chương này được ưu tiên áp dụng.” Như vậy, nguyên tắc pacta sunt servanda sẽ không được xem là vi phạm nếu một quốc gia từ chối thực thi một nghĩa vụ điều ước để thực thi nghĩa vụ theo Hiến chương
Thứ hai, có thể là trong trương hợp đình chỉ thi hành điều ước Điều 72 Công ước Viên quy định về hệ quả pháp lý phát sinh khi đình chỉ thi hành điều ước quy định rằng Khi điều ước quốc tế bị đình chỉ thi hành, các bên không phải thực thi điều ước trong thời gian đình chỉ Mặc khác, Điều 72(1)(b) cũng nhấn mạnh việc đình chỉ thi hành không ảnh hưởng đến quan hệ pháp lý giữa các bên được xác lập bởi điều ước đó Điều đó có nghĩa là điều ước vẫn có hiệu lực ràng buộc giữa các bên, dù đã bị đình chỉ thi hành Như vậy, nguyên tắc pacta sunt servanda cũng có thể được xem là tạm thời không áp dụng dù rằng điều ước vẫn có hiệu lực Hơn nữa, Điều 72(3) quy định rằng trong thời gian đình chỉ, các bên không được có hành
vi làm cho việc tái thực thi điều ước không thể thực hiện được
Chương 2 Thực tiễn nguyên tắc tuân thủ cam kết Quốc tế tại Việt
Nam
1 Thực tiễn
Trong thời gian qua Việt Nam, đất nước hình chữ S đang từng ngày khẳng định
vị thế cảu mình trên trường quốc tế, theo đường đa dạng hóa và lối đa phương hóa Minh chứng rõ ràng nhất là Việt Nam ngày càng tạo dựng được các mối quan hệ với nhiều đối tác lớn, trong đó có Pháp và Liên minh châu Âu, trong giai đoạn 2020
- 2021 ký kết nhiều hiệp định quan trọng như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) Ngoài
ra Việt Nam còn đang trong quá trình đàm phán nhằm đạt được sự đồng ý về Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA, Hiệp định Thương mại Tự
do giữa Việt Nam và Isarel
Việt Nam luôn thúc đẩy và coi trọng vận dụng pháp luật Quốc tế qua đó nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc Hiến pháp được Quốc Hội Việt Nam ban hành
Trang 9năm 2013 cũng đã khẳng định Việt Nam thực hiện tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Từ chỗ Việt Nam chủ yếu trong việc tiếp thu, tích cực tham gia vào các tổ chức Quốc tế, và các điều ước Quốc tế đã được ký kết trước đây, và vận dụng pháp luật Quốc tế trong việc thực hiện việc đấu tranh nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng tính quan điểm với các quan điểm phù hợp và chống lại các quan điểm sai trái, chúng ta đang từng bước chuyển sang tham gia tích cực đóng góp trong xây dựng luật chơi, tham gia xây dựng pháp điển và phát triển pháp luật Quốc tế để có thể thúc đẩy trong việc giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới và hợp tác quốc tế cùng phát triển bền vững
Trong quá trình xây dựng đất nước ngày càng phát triển và khẳng định vị thế với cái tên “Việt Nam” trên đấu trường quốc thế hiện nay, cái tên đó nhường như ngày càng phổ biến vượt ra cả khu vực Đông Nam Á, cả Châu Á, Châu Âu, và các khu vực khác, và sự biết đến rộng rãi đối với các Tổ Chức Liên Chính Phủ Để làm được đều đó thì Việt Nam đã đi từng bước một trong việc ký kết các điều ước Quốc
về Kinh tế, Chính trị, Giáo dục, Y tế vv Việt Nam cũng đã áp dụng và tuân thủ các quy định của luật quốc tế để điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác; đặc biệt là trong nguyên tắc tuân thủ cam kết Quốc tế trong việc nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp và không trái với Hiến chương Liên hợp quốc và luật quốc tế hiện đại
Tronh giai đoạn 2019 – 2021 1Việt Nam đã tham ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA): là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và các nước thành viên EU Bắt đầu đàm phán từ tháng 6/2012; kết thúc đàm phán tháng 12/2015; đến tháng 6/2018, EVFTA được tách làm hai; Hiệp định Thương mại (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) được thông qua tháng 6/2020
Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Vương quốc Anh (UKVFTA) chính thức được ký kết tại London ngày 29/12/2020, chính thức có hiệu lực từ 23 giờ ngày 31/12/2020
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP - còn được gọi là ASEAN+6), được ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn
https://thaibinh.gov.vn/chuyen-trang-chuyen-muc/asean/viet-nam-tich-cuc-tham-gia-ky-ket-cac-hiep-dinh-fta-mo-ra-nh.html
Trang 10Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand bắt đầu đàm phán từ ngày 09/5/2013 Hiệp định chính thức được ký kết ngày 15/11/2020, sắp có hiệu lực
Qua quá trình đàm phán và đi đến ký kết giữa các bên, thì Việt Nam cũng đã thực hiện đúng quy định của Luật Điều ước Quốc tế năm 2016 được Quốc Hội Việt Nam ban hành trong nước để áp đụng trong việc các giai đoạn ký kết và nghĩa vụ cơ quan nhà nước có thẩm quyền vv, và tại khoản 4 Điều 3 Luật này đã áp dụng nguyên tắc “Tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”, và trong quá trình thực hiện các điều ước Quốc tế Việt Nam cũng đã thực hiện đúng các quy định của Luật Quốc tế về nguyên tắc tuân thủ các cam kết Quốc tế
Để có thể đưa đất nước đi lên ngày càng vũng mạnh, phát triển, vượt ra khuôn khổ khu vực, Châu Á đi đến việc hợp tác, ký kết các Điều ước quốc tế thì Việt Nam
có những ưu điểm và nhược điểm trong việc thực hiện, trong việc tuân thủ các cam kết quốc như sau:
Ưu điểm:
Hợp tác và hòa bình vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay Xu hướng thế giới ngày nay là phát triển của kinh tế đang có dấu hiệu chuyển dần sang các nước đang phát triển Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển, lại có các quan hệ trong việc phát triển nền kinh tế đa dạng với nhiều nước lớn hay nhỏ thuộc cả nhóm phát triển và đang phát triển, Việt Nam có thể thể tận dụng xu hướng này, để có thể tham gia vào các tập hợp lực lượng có nền kinh tế mới để có thể từ
đó thúc đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia Trong thời gian qua Việt Nam đã không ngừng đàm phán và được tham gia các Điều ước quan trọng trong con đường phát triển đất nước, qua đó chúng ta cũng đã thực hiện tốt các điều ước, đặc biệt trong việc tuân thủ các điều ước mà Việt Nam là thành viên, điều đó đóng góp rất lớn về sự tin tưởng các nước, các tổ chức liên Chính Phủ đối với Việt Nam
để có thể đi đến đàm phán, tiếp tục cho việc ký kết các điều ước mới
Việt Nam chú trọng trong việc tham gia, tuân thủ các việc ký kết, thi hành các điều ước Quốc tế, để có thể làm như vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng
đã thấy được sự cần thiết đưa ra các quy định trong nước sao cho phù hợp và không trái với quy định của Luật quốc tế, nhà nước cũng đã tiến hành việc sửa đổi, bổ sung
và qua đó cũng đã ban hành Luật Điều ước quốc tế 2016 cho việc hội nhập