Lựa chọn phân tích làm rõ một trong những vấn đề lý luận về các đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế và so sánh với pháp luật quốc gia, liên hệ với các ví dụ thực tiễnPhần 1. Đặt vấn đề: Luật quốc tế, một thuật ngữ được nhà triết học Jeremy Bentham tạo ra vào khoảng năm 1800, nói đến hệ thống các phán quyết, nguyên tắc và tập quán nhằm điều chỉnh diễn ngôn giữa các quốc gia ....Phần 2. Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản của Luật quốc tếMục 1. Lịch sử hình thành Luật quốc tếMục 2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tếPhần 3. So sánh và liên hệ giữa Luật quốc tế với pháp luật quốc gia
Trang 1Lựa chọn phân tích làm rõ một trong những vấn đề lý luận về các đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế và so sánh với pháp luật quốc gia, liên hệ với các ví dụ thực tiễn
Phần 1 Đặt vấn đề
Luật quốc tế, một thuật ngữ được nhà triết học Jeremy Bentham tạo ra vào khoảng năm 1800, nói đến hệ thống các phán quyết, nguyên tắc và tập quán nhằm điều chỉnh diễn ngôn giữa các quốc gia (ví dụ về nhân quyền, việc can thiệp quân
sự, và các quan ngại toàn cầu như biến đổi khí hậu) Ngược lại, luật quốc gia điều chỉnh hành động của các cá nhân và pháp nhân trong phạm vi biên giới của nhà nước có chủ quyền (ví dụ như bộ luật dân sự và đạo luật hình sự)
Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế luôn là đề tài nhận được sự quan tâm lớn của luật học, bởi nó có ý nghĩa không chỉ đối với khoa học pháp lý mà còn đối với thực tiễn áp dụng pháp luật
Trước hết, khi bàn về mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc
tế cho đến nay về cơ bản có hai thuyết: thuyết Nhị nguyên luận (Dualism) và thuyết Nhất nguyên luận (Monism) Thuyết Nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống hoàn toàn riêng biệt, bởi chúng có chủ thể khác nhau, phạm vi điều chỉnh khác nhau Ngược lại với quan điểm của Nhị nguyên luận, những người theo quan điểm Nhất nguyên luận cho rằng không thể có hai hệ thống pháp luật tồn tại song song và biệt lập với nhau mà chỉ có một: đó là chỉ có hệ thống pháp luật quốc gia hoặc hệ thống pháp luật quốc tế Tuy nhiên, khi giải quyết vấn đề này, thuyết Nhất nguyên luận lại chia thành hai hướng trái ngược nhau: luật pháp quốc gia chỉ là một bộ phận của luật pháp quốc tế (khẳng định tính ưu việt của luật quốc tế) và, ngược lại, luật pháp quốc tế thật ra chỉ là một bộ phận của luật quốc gia (khẳng định tính ưu việt của pháp luật quốc gia)
Tiểu luận này tập trung phân tích làm rõ vấn đề lý luận về các đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế, trên cơ sở đó sẽ so sánh, phân tích mối liên hệ giữa Luật quốc
tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với một số ví dụ thực tiễn
Phần 2 Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế
Mục 1 Lịch sử hình thành Luật quốc tế
Luật quốc tế bắt đầu xuất hiện khi giữa các Nhà nước có sự thiết lập quan hệ bang giao với nhau Lúc đầu chỉ là quan hệ mang tính chất khu vực và bó hẹp trong một số lĩnh vực nhất định như chiếm đoạt tài sản, chiến tranh, cướp bóc nô lệ của nhau
Trang 2Dần dần những quan hệ giữa các quốc gia được mở rộng, vượt ra khỏi phạm
vi khu vực và phát triển thành các quan hệ có tính chất liên khu vực hay cộng đồng quốc tế và đương nhiên những quan hệ này phải được điều chỉnh bằng hệ thống các quy phạm tương ứng khác với các quy phạm của luật quốc gia Năm 1784 nhà triết học người Anh - J Bentham đã đưa ra thuật ngữ Luật quốc tế trong tác phẩm Các nguyên tắc đạo đức và pháp luật
Luật quốc tế hiện đại là hệ thống những nguyên tắc, những qui phạm pháp luật, được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật quốc tế xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là các quốc gia) và khi cần thiết, được bảođảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế cá thể hoặc tập thể
do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân
và dư luận tiến bộ thế giới
Trách nhiệm trong Luật quốc tế liên quan trực tiếp với chức năng duy trì hòa bình, thiết lập trật tự pháp lý quốc tế và đảm bảo sự công bằng trong giải quyết các tranh chấp quốc tế Trong lịch sử phát triển pháp luật, các xung đột trước đây được giải quyết bằng các phương tiện có tính thô bạo với việc sử dụng vũ lực, nhưng cùng với sự phát triển của luật quốc tế, con người đã tìm ra một cơ chế đặc biệt hơn
đó là công lý, công lý đã đem lại sự công bằng trong giải quyết các xung đột lợi ích giữa các quốc gia mà ít phải nhờ tới phương tiện vũ trang Theo đó, trong Luật quốc
tế bắt đầu hình thành một chế định mới để buộc các chủ thể luật quốc tế phải chịu trách nhiệm vì thiệt hại do chính họ gây ra
Đối tượng điều chỉnh : nếu như luật trong nước điều chỉnh về quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và quan hệ có yếu tố nước ngoài thì luật quốc tế chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế như quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, môi trường…giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau mà chủ yếu là những quan hệ chính trị Tuy nhiên không phải tất cả quan hệ quốc tế đều là đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế (Ví dụ: quan hệ quốc tế theo con đường các tổ chức chính trị - xã hội…không do luật quốc tế chính trị điều chỉnh)
Trình tự xây dựng các qui phạm pháp luật quốc tế: trong hệ thống quốc tế dựa trên nguyên tắc cơ bản bình đẳng về chủ quyền các quốc gia nên không có cơ quan làm luật Con đường duy nhất để hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế
đó là sự thỏa thuận giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau dưới hình thức ký kết các
Trang 3điều ước quốc tế (quy phạm thành văn); cùng nhau thừa nhận những tập quán quốc
tế trong quan hệ giữa họ (quy phạm bất thành văn) Đây là đặc trưng quan trọng nhất
Chủ thể của luật quốc tế:
+ Các quốc gia có chủ quyền: Chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực đối nội là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, quyền làm luật, quyền giám sát việc thi hành pháp luật, quyền xét xử những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia Trong lĩnh vực đối ngoại đó là quyền độc lập trong hệ thống quốc tế, tự do quan hệ không lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào, hai mối quan hệ này có quan hệ mật thiết với nhau, chỉ vì khi quốc gia có quyền tối cao trong quan hệ đối ngoại thì mới
có quyết định trong quan hệ đối ngoại Quốc gia là chủ thể đặc biệt khi tham gia vào họat động tư pháp quốc tế, được miễn trừ về tư pháp quốc tế (quyền miễn trừ về xét
xử, quyền miễn trừ về tài sản, quyền miễn trừ về thi hành án)
+ Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được xem là quốc gia đang hình thành, đứng lên đấu tranh giành độc lập, thành lập quốc gia có chủ quyền, có quyền tham gia đại diện ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia khác, tự do không bị
lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào
+ Các tổ chức quốc liên chính phủ (liên quốc gia) là tổ chức thành lập trên sự liên kết giữa các quốc gia, và họat động dưới sự thỏa thuận giữa các quốc gia (Ví dụ: Liên hợp quốc, Asian, Liên minh Châu Âu,…)
+ Tổ chức phi chính phủ được thành lập dưới sự thỏa thuận giữa các thể nhân với pháp nhân thì không được coi là chủ thể của luật quốc tế, không được thừa nhận của luật quốc tế (Ví dụ: Hội luật gia thế giới, Hội Liên hiệp phụ nữ thế giới…)
Biện pháp bảo đảm thi hành luật quốc tế khi xây dựng các điều ước quốc tế các bên thường thỏa thuận các biện pháp cưỡng chế để áp dụng cho các quốc gia vi phạm Đó là những quan hệ mà tự các chủ thể thỏa thuận xây dựng các biện pháp nhất định vì lợi ích của chính họ Các chủ thể bị hại được quyền sử dụng một số biện pháp nhất định cho quốc gia gây hại Biện pháp cưỡng chế được thể hiện dưới hai hình thức:
+ Cưỡng chế cá thể: trên bình diện quốc tế không có cơ quan cưỡng chế tập trung thường trực, những biện pháp do chính chủ thể của luật quốc tế thực hiện dưới hình thức cá thể, riêng lẻ tức là chủ thể bị hại được quyền sử dụng những biện pháp cưỡng chế trả đũa hay biện pháp tự vệ đối với chủ thể gây hại cho mình (rút đại sứ
về nước, cắt đứt quan hệ ngoại giao, bao vây kinh tế, giáng trả…)
Trang 4+ Biện pháp cưỡng chế tập thể: tức là quốc gia bị hại có quyền liên minh các quốc gia trên cơ sở các cam kết phù hợp để chống lại quốc gia gây hại cho mình Liên hợp quốc giao cho Hội đồng bảo an Liên hợp quốc có nhiệm vụ giữ gìn hòa bình và an ninh của các quốc gia trong khuôn khổ tuân thủ hiến chương Liên hợp quốc, có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trừng phạt kể cả dùng vũ lực chống lại các quốc gia vi phạm
Mục 2 Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
Nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia:
Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện quyền lực tối cao của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền lực độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tư do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ
Bình đẳng được đề cập đến trong nguyên tắc này không được hiểu theo nghĩa
“ ngang bằng nhau” về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà là bình đẳng trong quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia
Nội dung pháp lý bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm:
+ Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;
+ Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
+ Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng đầy đủ quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
+ Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
+ Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị , xã hội, kinh tế và văn hóa của mình;
+ Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác
Theo nguyên tắc này mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau:
+ Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa;
+ Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình; + Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị nghang nhau;
Trang 5+ Được kí kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
+ Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;
+ Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác
Nguyên tắc tận tâm thiện chí thực hiện cam kết quốc tế
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là khi các bên chủ thể trong quan hệ luật quốc tế tham gia và kí kết các Điều ước quốc tế thì phải trên cơ sở của sự thỏa thuận và tự nguyện, bình đẳng Khi tham gia vào Điều ước quốc tế các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết
Thứ nhất, mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế của mình Đầu tiên, đó là các nghĩa vụ trong hiến chương Liên Hợp Quốc
Thứ hai, mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để, không do dự Điều này có nghĩa là Điều ước quốc tế phải được thực hiện triệt để, không phụ thuộc vào các sự kiện trong và ngoài nước Các sự kiện khách quan như: thay đổi chính phủ, sự thay đổi hình thức quản lí hay chế độ xã hội, biểu tình, thiên tai, sự thay đổi lãnh thổ,…
Thứ ba, các quốc gia thành trong viên Điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của pháp luật nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình Đây là một yêu cầu quan trọng và được coi là một bộ phân không thể thiếu của nguyên tắc Pacta sunt servanda và được quy định trong Điều 27 Công ước Vienna năm 1969
Thứ tư, các quốc gia không có quyền ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc tham gia ký kết trước đó với các quốc gia khác Do đó, khi ký kết các điều ước quốc tế cần đòi hỏi quốc gia ký kết cần xem xét kỹ lưỡng các điều khoản của điều ước xem liệu điều ước đó có mâu thuẫn với các điều ước quốc tế hiện hành mà mình đã tham gia hoặc ký kết trước đó hay không
Thứ năm, Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại điều ước quốc tế Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ
và xem xét hợp pháp theo sự thỏa thuận của các bên là thành viên điều ước
Thứ sáu, Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của điều ước quốc tế không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát
Trang 6sinh giữa các quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này
là cần thiết cho việc thực hiện điều ước (Điều 63 Công ước Vienna 1969)
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Công việc nội bộ của mỗi quốc gia: là công việc nằm trong thẩm quyền giải quyết của mỗi quốc gia độc lập xuất phát từ chủ quyền của mình, đó là quyền tối thượng của mỗi quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình
Nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại, theo đó không một quốc gia, nhóm quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có quyền can thiệp dưới bất cứ hình thức gì vào các công việc đối nội và đối ngoại thuộc thẩm quyền riêng của quốc gia khác hoặc bắt buộc quốc gia khác phải đưa những công việc thuộc loại này ra giải quyết theo thủ tục quốc tế Luật pháp quốc tế hiện đại quy định những hành vi sau đây là can thiệp vào nội bộ của quốc gia:
Thứ nhất, sử dụng sức mạnh hoặc đe doạ bằng sức mạnh và áp dụng các hình thức can thiệp khác để chống lại quyền chủ thể luật pháp quốc tế của quốc gia hay chống lại nền tảng chính trị, kinh tế và văn hoá của quốc gia;
Thứ hai, sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác để khuất phục quốc gia khác nhằm hạn chế các quyền bắt nguồn từ chủ quyền quốc gia
và nhằm buộc quốc gia khác dành lợi thế cho mình;
Thứ ba, tổ chức, giúp đỡ, chứa chấp, khuyến khích, tài trợ hoặc cho phép những hoạt động vũ trang, lật đổ hoặc khủng bố nhằm làm thay đổi thể chế của quốc gia khác thông qua sức mạnh cũng như nhằm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội
bộ, nhất là nội chiến ở quốc gia khác;
Thứ tư, sử dụng sức mạnh để buộc nhân dân nước khác từ bỏ hình thức tồn tại dân tộc của họ;
Thứ năm, can thiệp dưới bất cứ hình thức gì nhằm tước bỏ quyền không thể tước đoạt được của quốc gia khác lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của họ
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc
Quyền dân tộc tự quyết được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước Khoản 2 điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận
“phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”
Trang 7Nội dung chính của Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc
Thứ nhất, được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia lien bang ( hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;
Thứ hai, tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội;
Thứ ba, tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài Thứ tư, quyền của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể
cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài,
kể cả giúp đỡ về quân sự
Thứ năm, tự chọn lựa con đường phát triển phù hợp với truyền thống lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý
Nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận trong Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc : “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực
để vi phạm biên giới quốc gia của các nước khác hoặc dùng nó làm phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề có liên quan đến biên giới các nước”
Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực được khái quát hóa trong tuyên bố 1970 ở những nội dung sau:
+ Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác;
+ Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có tuyến hòa giải; + Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực;
+ Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba;
+ Không tổ chức, khuyến khích , xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố các quốc gia khác;
+ Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác;
+ Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình
Nguyên tắc “giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế” được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến chương Liên hợp quốc và được khẳng định rõ ràng trong Tuyên
Trang 8bố năm 1970, trong đó chỉ rõ “mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng”
Tuyên bố năm 1970 quy định các nghĩa vụcủa các quốc gia trong nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất,nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình theo cách thức không gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh và công lý quốc tế;
Thứ hai, nghĩa vụ tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp một cách nhanh chóng và công bằng thông qua đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, biện pháp tư pháp, sử dụng các tổ chức hay dàn xếp quốc tế hoặc các biện pháp hòa bình khác theo sự lựa chọn của các bên, phù hợp với hoàn cảnh và bản chất của tranh chấp;
Thứ ba, nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm giải pháp giải quyết tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình mà các bên chấp nhận trong trường hợp chưa thể giải quyết tranh chấp bằng bất kỳ biện pháp hòa bình nêu trên;
Thứ tư, nghĩa vụ hạn chế có hành động có thể làm xấu đi tình hình, gây nguy hiểm cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và phải hành động theo cách thức phù hợp với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc
Nguyên tắc tuân thủ những cam kết quốc tế
Cam kết quốc tế được hiểu là tất cả các thỏa thuận về mặt ý chí của các quốc gia được ghi nhận trong điều ước và tập quán quốc tế
Các chủ thể của Luật Quốc Tế phải có nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc
tế phù hợp với Luật Quốc Tế một cách tận tâm, có thiện chí và đầy đủ
Không được vi phạm các cam kết quốc tế với lý do vì nó trái với luật pháp của quốc gia mình
Phần 3 So sánh và liên hệ giữa Luật quốc tế với pháp luật quốc gia
Mục 1 So sánh Luật quốc tế với pháp luật quốc gia
Luật quốc tế nói đến hệ thống các phán quyết, nguyên tắc và tập quán nhằm điều chỉnh diễn ngôn giữa các quốc gia Ngược lại, luật quốc gia điều chỉnh hành động của các cá nhân và pháp nhân trong phạm vi biên giới của nhà nước có chủ quyền Về cơ bản, có sự giống nhau và khác nhau của Luật quốc tế và pháp luật quốc gia được thể hiện tại bảng 1
Bảng 1 So sánh Luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Luật quốc tế Pháp luật quốc gia
Trang 9Giống nhau Là những hệ thống các nguyên tắc quy phạm pháp luật được
các quốc gia và các chủ thể tham gia quy phạm pháp luật xây dựng
Khái niệm Xây dựng trên cơ sở tự
nguyện bình đẳng thông qua đấu tranh và thương lượng
Xây dựng trên cơ sở ý chí của nhà nước sở tại, không có sự
tự nguyện Mục đích Dùng để điều chỉnh các quan
hệ quốc tế
Dùng để điều chỉnh các quan
hệ trong phạm vi quốc gia
Sự hình thành Không có cơ quan chuyên
trách xây dựng
Được xây dựng từ các cơ quan chuyên trách như: Quốc hội, Chính phủ
Đối tượng điều
chỉnh
Điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau
Điều chỉnh các mối quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân và nhà nước với nhau
Chủ thể Có chủ thể là các quốc gia,
tổ chức liên chính phủ, các vùng tự trị, các dân tộc đòi quyền tự quyết… không thể
là cá nhân hoặc pháp nhân
Tất cả các thành phần đều là chủ thể
Thi hành Không tồn tại cơ quan
chuyên biệt để đảm bảo thi hành
Được đảm bảo thi hành bằng các cơ quan tư pháp
Chức năng Chuyên tư vấn giải thích,
việc xem xét chỉ xảy ra khi
có tranh chấp và có sự đồng
ý của các bên
Có chức năng xem xét rõ ràng, không cần có sự đồng ý của các bên, phán xét các tranh chấp theo luật định
Mục 2 Mối liên hệ giữa Luật quốc tế và pháp luật quốc gia và một số ví dụ thực tiễn.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề xác định mối quan hệ giữa Luật quốc tế và pháp luật quốc gia có vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh đẩy mạnh tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước đã phần nào phản ánh mối quan hệ này
Về việc Việt Nam gia nhập Công ước Vienna
Năm 2001 Việt Nam gia nhập Công ước Vienna năm 1969 về Luật điều ước Trên cơ sở điều 26 của Công ước này, trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 đã khẳng định "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
Trang 10nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên" (khoản 6 điều 3) và “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ược quốc tế ”(khoản 3 điều 6)
Như vậy, có thể nhận thấy, trong mối quan hệ với pháp luật quốc gia thì những quy định của công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì có vị trí ưu việt hơn trong quá trình áp dụng Điều này cũng được khẳng định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, dù được công nhận ưu việt hơn, song để ký kết, gia nhập một điều ước quốc tế và có giá trị bắt buộc đối với Việt Nam thì trước hết điều ước đó cần phải được thẩm định kỹ càng để không trái với những quy định của Hiến pháp cũng như đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phù hợp với lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Ngoài ra, sau khi ký kết, tham gia nếu có phát hiện việc thực hiện điều ước quốc tế có nguy cơ làm tổn hại lợi ích quốc gia, các nguyên tắc Hiến định thì theo quy định của pháp luật Việt Nam có quyền tạm định chỉ, từ bỏ, chấm dứt hoặc bảo lưu điều ước quốc tế đó
Về việc chuyển hóa Luật quốc tế vào pháp luật quốc gia tại Việt Nam
Một trong những vấn đề liên quan đến mối liên hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thể hiện ở việc chuyển hóa những quy định của pháp luật quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia để áp dụng Hiện nay, về cơ bản có hai hình thức chuyển hóa pháp luật: chuyển hóa trực tiếp và chuyển hóa gián tiếp
Chuyển hóa trực tiếp là khi quốc gia thừa nhận và cho phép áp dụng một cách trực tiếp các quy định trong điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên và trong quá trình áp dụng các chủ thể có thể viện dẫn một cách trực tiếp các quy định trong điều ước quốc tế đó Trong trường hợp này, điều ước quốc tế là nguồn pháp luật độc lập Từ sau khi gia nhập WTO hình thức chuyển hóa trực tiếp được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam Trong rất nhiều lĩnh vực liên quan đến thương mại quốc tế,
sở hữu trí tuệ, thuế quan đã được pháp luật Việt Nam cho phép viện dẫn trực tiếp các điều ước quốc tế
Chuyển hóa gián tiếp là khi quốc gia ban hành văn bản quy phạm pháp luật
để chuyển hóa nội dung của điều ước quốc tế vào nội luật Ví dụ, trong Luật bình đẳng giới năm 2006 của Việt Nam có nội dung chuyển hóa quy định của Công ước
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, hay trong các Bộ luật Dân sự