Các loại phong hóa Căn cứ vào đặc điểm của những nhân tố tác động, phong hóa chia làm 3 loại: + Phong hóa lý học + Phong hóa hóa học + Phong hóa sinh vật Sự phân chia các quá trình phong
Trang 1CHƯƠNG IIPHONG HOÁ VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐẤT2.1 Sự phong hóa đá và khoáng
2.1.1 Khái niệm
* Sự phong hoá là tổng hợp những quá trình phức tạp đa dạng của sự biến đổi về lượng
và chất của khoáng vật và đá dưới tác động của môi trường (Khí quyển, thuỷ quyển,sinh quyển)
Hay: Phong hoá là sự phá huỷ khoáng vật, đá dưới sự phá huỷ của môi trường
* Các tầng đá mẹ nơi xảy ra quá trình phong hoá gọi là vỏ phong hoá
Có hai loại vỏ phong hoá: + Vỏ phong hoá bề mặt (vỏ phong hoá hiện đại)
+ Vỏ phong hoá dưới sâu (vỏ phong hoá cổ)
2.1.2 Các loại phong hóa
Căn cứ vào đặc điểm của những nhân tố tác động, phong hóa chia làm 3 loại:
+ Phong hóa lý học
+ Phong hóa hóa học
+ Phong hóa sinh vật
Sự phân chia các quá trình phong hoá chỉ mang tính chất tương đối vì trong thực tế các yếu
tố ngoại cảnh đồng thời tác động lên khoáng vật, đá Do vậy, ba quá trình phong hoá đồngthời diễn ra và các quá trình phong hóa liên quan mật thiết, hỗ trợ cho nhau, tuỳ điều kiện cụthể mà một trong ba quá trình xảy ra mạnh hơn
2.1.2.1 Phong hóa lý học
a Khái niệm: Phong hóa lý học là sự vỡ vụn có tính chất lý học đơn thuần của khoáng và
đá trên bề mặt Trái đất Trong quá trình này, thành phần và tính chất củachúng không biến đổi
b Tác nhân
* Nhiệt độ
+ Sự thay đổi nhiệt độ làm cho các khoáng vật có trong đá bị co dãn không đều dẫnđến đá bị vỡ ra Các khoáng vật có hệ số co dãn rất khác nhau
- Đá càng có nhiều khoáng vật tạo nên (đá đa khoáng) thì càng dễ bị vỡ vụn
- Đá do một loại khoáng vật tạo nên (đá đơn khoáng) cũng dễ bị vỡ do hệ số nở dàitheo các phương khác nhau
+ Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm, giữa ban ngày và ban đêm cànglớn thì phong hoá lý học diễn ra càng mạnh
Ví dụ: Vùng sa mạc thường có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn nên vào
ban đêm có thể nghe được tiếng nổ vỡ của đá trong vùng
Trang 2+ Trong đá thường có các lỗ hổng và các vết nứt nguyên sinh chứa đầy khí hay nước.Khi nhiệt độ hạ thấp dưới 00C, nước ở thể lỏng chuyển thành thể rắn làm tăng thểtích, tạo áp suất lớn lên thành khe nứt làm cho đá, khoáng bị vỡ ra.
+ Nhiệt độ - nước - muối: đối với vùng khô hạn nước chứa muối, nước bốc hơi để lạimuối kết tinh làm cho thể tích của muối tăng lên gây áp lực vào hai thành bên làmtăng cường sự nứt vỡ của đá và khoáng
+ Màu sắc của đá, khoáng càng sẫm thì khả năng nhận nhiệt càng mạnh nên đá,khoáng càng dễ bị phá vỡ hơn
* Nước chảy, gió thổi
Các mảnh vụn sinh ra có thể di chuyển đi nơi khác theo dòng nước chảy hoặc gióthổi sẽ phá huỷ đá trên đường di chuyển của chúng
* Áp suất: chủ yếu là sự thay đổi áp suất của mao quản trong đá, khoáng
→ Sự tác động của từng nhân tố: nhiệt độ, áp suất, hay các yếu tố nước chảy, gió thổi đã gâyphá huỷ đá, khoáng rất rõ rệt Trong thực tế, các nhân tố này luôn có sự tác động tổng hợp làmquá trình phong hoá lý học diễn ra rất mạnh mẽ
Ví dụ: Ở vùng nhiệt đới như nước ta, càng lên cao theo độ cao tuyệt đối: nhiệt độ
giảm, áp suất tăng và độ dốc lớn nên phong hoá lý học càng tăng lên một cách
rõ rệt Những sản phẩm của phong hoá lý học thường là những mảnh đá vụn cógóc cạnh Bởi vậy, càng lên cao ta thấy đất càng lẫn nhiều những mảnh đá vụn
có góc cạnh rõ nét
c Kết quả sự phong hoá lý học
+ Đá, khoáng vỡ vụn, tơi xốp có khả năng thấm khí, nước
+ Bề mặt tiếp xúc đá, khoáng với môi trường xung quanh tăng lên tạo điều kiện chophong hóa hoá học và những tác nhân khác có điều kiện xâm nhập và phá hủymạnh hơn
+ Phong hoá lý học có tính chất tiên phong, tạo điều kiện thuận lợi cho phong hoáhoá học và phong hoá sinh vật
2.1.2.2 Phong hóa hóa học
a Khái niệm: là sự phá hủy đá và khoáng bằng các phản ứng hóa học.
b Tác nhân: H2O, CO2, O2
c Các quá trình chủ yếu
Tuỳ theo đặc tính của các quá trình, có thể chia thành 4 loại:
+ Quá trình hoà tan + Quá trình hydrat hoá+ Quá trình thuỷ phân + Quá trình oxy hoá
Trang 3 Quá trình hòa tan
* Khái niệm: là hiện tượng các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước
Hầu như tất cả các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước, nhưng mạnh nhất là cáckhoáng vật của lớp cacbonat và muối mỏ
* Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hòa tan
+ Độ pH: Sự hòa tan tăng lên khi H2O chứa CO2 làm giảm độ pH và làm cho lượng
muối Cacbonat tăng lên rõ rệt
CaCO3 + H2O + CO2 ↔ Ca(HCO3)2
Vùng núi đá vôi, kết quả của sự hoà tan sẽ hình thành nên các chuông nhũ, mầm
đá, cột đá, vách đá đặc trưng cho dạng địa hình Kastơ
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng làm tăng quá trình hòa tan Thông thường, nhiệt độ tăng lên
10oC thì sự hòa tan tăng 2 ÷ 3 lần
+ Bề mặt tiếp xúc: Bề mặt tiếp xúc của chất tan với dung môi càng lớn thì khả năng
tan của nó càng tăng
* Kết quả: Khoáng vật, đá bị thay đổi về chất
Quá trình Hydrat hóa
* Khái niệm: là quá trình nước tham gia vào mạng lưới tinh thể của khoáng vật, thực chất
đây là quá trình nước kết hợp với khoáng vật làm thay đổi thành phần hoáhọc của khoáng vật
* Nguyên nhân: Trong lòng những phần tử khoáng còn có những hóa trị tự do Mà nước là
phân tử phân cực Hai loại phân tử này sẽ hút nhau theo lực hút tĩnh điệnnên các phân tử nước được chứa chất trên bề mặt khoáng vật dần đi vàomạng lưới tinh thể của nó
2Fe2O3 + 3H2O → 2Fe2O3.3H2O
CaSO4 + 2H2O → CaSO4.2H2O
* Kết quả: Thể tích của khoáng vật tăng lên, thành phần hoá học thay đổi, độ bền liên kết
giảm, tạo điều kiện tốt cho quá trình hoá học khác
Quá trình thủy phân
* Khái niệm: Là quá trình thay thế các cation kim loại kiềm và kiềm thổ trong mạng lưới
tinh thể của khoáng vật bằng các cation H+ của nước Kết quả làm chúngphân ly thành từng phần riêng lẻ
K2Al2Si6O16 + H2O + CO2→ H2Al2Si2O8.2H2O + K2CO3 + SiO2n.H2O
Fensfatkali (Orthoklaz) (Kaolinit)
Trang 4Quá trình thuỷ phân rất phổ biến và có tầm quan trọng trong phong hoáhoá học vì phần nhiều các loại khoáng trong đất thuộc nhóm Silicat vàAlumosilicat.
* Kết quả: Tạo ra các muối và hợp chất dễ tan
Quá trình oxy hóa
* Khái niệm: là quá trình có sự thay đổi số oxi hoá của các nguyên tố
+ Quá trình oxy hoá phụ thuộc chặt chẽ vào sự xâm nhập của O2 tự do trong khôngkhí và O2 hoà tan trong nước
+ Tham gia vào quá trình này trong đất phổ biến nhất là các cation kim loại: Fe2+,
Mn2+; những anion: S2-, SO32-, NO2- Các khoáng vật như Olivin, Ogyt, Hoocnblen,Pyrit dễ bị phong hoá hơn cả
Ví dụ: Sự oxy hoá của khoáng vật Pyrit
FeS2 + 7O2 + 2H2O = 2FeSO4 + 2 H2SO4
12FeSO4 + 3O2 + 6H2O = 4Fe2(SO4)3 + 4 Fe(OH)3
* Kết quả: + Khoáng vật và đá bị thay đổi về thành phần hoá học
+ Đá, khoáng bị oxy hoá sẽ bị biến đổi màu sắc rõ rệt, thường hay xuất hiệnnhững vệt, chấm màu vàng, nâu đỏ
d Kết quả phong hoá hoá học
Dù phong hoá hoá học có diễn ra theo quá trình nào thì kết quả cuối cùng đều làm chokhoáng vật và đá bị thay đổi thành phần, tính chất hoá học và tạo ra một loạt các chấtmới như: các loại muối, oxyt, dioxyt, một số loại khoáng sét …
2.1.2.3 Phong hoá sinh vật
a Khái niệm: là sự phá huỷ cơ học và sự biến đổi có tính chất hoá học của đá và khoáng
dưới tác dụng của sinh vật và những sản phẩm hoạt động sống của chúng.Quá trình phong hoá sinh vật chỉ diễn ra khi có sự sống xuất hiện
Các nhân tố sinh vật tác động vào đá, khoáng vật theo các hướng sau:
+ Trong quá trình trao đổi chất, rễ cây tiết ra các axit hữu cơ: axitetic, malic, oxalic…
và CO2, H2CO3 để hoà tan đá và khoáng làm bề mặt đá bị phá vỡ và thay đổi thànhphần các chất
Trang 5+ Khi chết, xác sinh vật bị phân huỷ sinh ra các axit hữu cơ góp phần hoà tan cáckhoáng vật và đá.
c Kết quả
Đá và khoáng bị phá huỷ cơ học và hoá học dưới sự tác động của sinh vật Đồng thời, sinhvật thực hiện quá trình tích luỹ chất hữu cơ tạo độ phì cho đất
KẾT LUẬN:
+ Khi sinh vật chưa xuất hiện đá, khoáng bị phong hoá lý học và phong hoá hoá học
là chủ yếu Phong hoá lý học diễn ra trước làm cơ sở cho phong hóa hoá học
+ Khi có sinh vật xuất hiện trên Trái đất đặc biệt là thực vật bậc cao sự phong hoásinh vật trở nên phổ biến và quan trọng Đặc biệt là vùng nhiệt đới ẩm thực vật sinhtrưởng phát triển nhanh thì vai trò của nó với sự phong hoá đá và khoáng là chiếm
ưu thế
+ Đứng trên diện rộng, cả 3 loại phong hoá xảy ra đồng thời và bổ sung cho nhaunhưng từng lúc, từng nơi, từng điều kiện cụ thể mà loại phong hoá nào đóng vai tròchủ đạo
2.1.3 Độ bền phong hoá
- KN: Khoáng vật và đá bị phá huỷ với những tốc độ khác nhau Khả năng chống lại sự phá
huỷ đó của chúng gọi là độ bền phong hoá
- Độ bền phong hoá phụ thuộc b/c của vật bị phong hoá, điều kiện môi trường
2.1.3.1 Bản chất của khoáng vật và đá
* Đá được cấu tạo từ loại khoáng vật kém bền vững thì có độ bền phong hoá thấp
* Các loại khoáng vật silicat có độ bền phong hoá thấp dần, khi:
+ Hàm lượng cation của bazơ của chúng tăng dần theo thứ tự:
Fe3+ > Al3+ > Mg2+ > Ca2+ > K+ > Na+
+ Hàm lượng Fe2+ của chúng tăng lên (vì xu thế oxy hoá lớn)
+ Hàm lượng SiO2 trong khoáng chất còn nhỏ
+ Khoáng có chứa càng nhiều kim loại kiềm và kiềm thổ thì có khả năng trao đổicàng mạnh với các cation của môi trường xung quanh
* Dựa vào đặc điểm trên Scheffer và Schachtschabel đã chia độ bền phong hoá của cáckhoáng vật thường gặp thành thứ tự sau:
CaSO4.2H2O < CaCO3 < MgCO3
+ Độ bền rất thấp: Thạch cao, Canxit, Đolomit
+ Độ bền thấp: Olivin
+ Độ bền trung bình: Ogyt
+ Độ bền cao: Otoklaz, Muscovit
+ Độ bền rất cao: Thạch anh và các khoáng sét theo thứ tự:
Trang 6Illit < Montmorilonit < Kaolinit
* Độ bền phong hoá giảm khi khả năng trao đổi đồng hình tăng
* Cấu trúc của đá và khoáng càng rỗng thì độ bền phong hoá càng giảm
* Độ bền phong hoá tăng khi hàm lượng các cấp hạt mịn trong đá hoặc trong mẫu chấttăng lên
2.1.3.2 Các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng
* Lượng nước, nhiệt, sự phát triển của thực vật (Đặc biệt là phong hoá hoá học)
+ Ở vùng nhiệt đới ẩm, đá và khoáng bị phá huỷ mạnh hơn ở vùng ôn đới và càngmạnh hơn ở vùng hàn đới
+ Đất vùng nhiệt đới giàu khoáng thứ sinh hơn, màu đỏ hơn, vỏ phong hoá dày hơn;chứa nhiều sản phẩm Al hơn và hình thành vỏ phong hoá Feralit
→ Độ bền phong hoá của đá và khoáng vật chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố Các yếu tố đótác động vào đá và khoáng một cách tổng hợp, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ở chỗ này yếu
tố này là chính, chỗ khác yếu tố kia mới là chính
2.1.4 Sản phẩm phong hoá
2.1.4.1 Khái niệm
Sản phẩm phong hoá là kết quả của quá trình phá huỷ các khoáng vật và đá
Quá trình phong hoá đã phá huỷ khoáng vật và đá giải phóng ra các sản phẩm rất phongphú và phức tạp Các sản phẩm này được xếp vào hai nhóm:
+ Khoáng nguyên sinh:
Mẫu chất
* Khái niệm: Là nguyên liệu cơ bản để tạo ra thành phần dinh dưỡng, khoáng trong
đất và là nguồn cung cấp dinh dưỡng khoáng lúc đầu cho thực vật ảnhhưởng trực tiếp tới sự hình thành đất về mặt hoá học, cơ giới và kếtcấu
Trang 7Ví dụ: - Đất phát triển trên đá kiềm, trung tính như bazan, đá vôi chứa nhiều Ca,
- Hình thành ngay trên đá mẹ, thành phần và tính chất giống đá mẹ
- Đặc điểm: ~ Còn giữ được các tính chất của các loại đá phát sinh ra nó và thường
lớp dày có độ sâu kém hơn so với mẫu chất bồi tụ
~ Phân bố nhiều ở vùng đồi, vùng núi, hình thành tại chỗ do phonghoá lí học, hoá học, sinh vật trên đá nguyên sinh
+ Mẫu chất bồi tụ: lắng đọng từ vật liệu phù sa của hệ thống sông ngòi nên có
Ngoài ra, có mẫu chất dốc tụ
→ Sự phân biệt giữa mẫu chất và đất chỉ mang tính chất tương đối, nhiều trường hợpkhó phân biệt
Ví dụ: Mẫu chất phù sa ở Việt Nam thực chất là nhóm đất phù sa
Khoáng nguyên sinh
* Theo TPHH, khoáng nguyên sinh được chia làm 3 nhóm chính sau:
+ Các oxyt: Thạch anh, Manhetit, Hematit
+ Các Silicat: là các oxit Silixic, Metasilixic và Octhosilixic; dễ phong hoá hơnnhóm oxyt, trong đất chứa khoảng 5 ÷ 10%
+ Ngoài ra còn có khoáng sunphit FeS2 – Pyrit, Photphat, Apatit đều dễ phong hoá
Trang 8* Các khoáng chất nguyên sinh khác nhau màu sắc và độ cứng khác nhau.
* Vai trò: ~ Ảnh hưởng đến tính chất vật lý của đất
~ Là nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho thực vật, là nguồn gốc tạo ra khoángthứ sinh
2.1.4.2 Khoáng thứ sinh
a Các loại muối đơn giản
+ Các cation kim loại kiềm được giải phóng (sản phẩm phong hoá) kết hợp với cácaxit (H2CO3, H2SO4, HNO3…) tạo thành các muối
+ Một số loại muối điển hình:
b Các loại khoáng sét
* Khái niệm: là những silicat thứ sinh có công thức hoá học tổng quát
nSiO2.Al2O3.mH2O với tỷ lệ SiO2/Al2O3 biến đổi trong khoảng 2÷5
+ Có khả năng hấp thụ những ion trên bề mặt chúng cũng như trao đổi vớinhững ion khác ở dung dịch bên ngoài
+ Chúng có thể kết hợp với Fe, Mg, Ca, Na, K với những tỉ lệ khác nhau
+ Đất chứa nhiều khoáng sét rất dễ bị nứt nẻ khi khô và trương nở khi ướt
* Cấu tạo
+ Hai đơn vị cấu tạo cơ bản: - Thể 4 mặt của Silic [SiO4]
4 Thể 8 mặt của nhôm [Al(OH)6]
3-+ Thể Si 4 mặt, thể Al 8 mặt liên kết với nhau tạo ra các phiến Si và phiến Al.+ Phiến Si 4 mặt và phiến Al 8 mặt liên kết với nhau theo kiểu:
- 1 phiến Al kết hợp với 1 phiến Si (1:1)
- 1 phiến Al kết hợp với 2 phiến Silic (2:1)
Trang 9→ Tạo ra các khoáng sét khác nhau.
* Phân loại
+ Khoáng Kaolinit, gồm: Kaolinit, Haludit
+ Khoáng Montmorilonit: Montmorilonit, Beideit
+ Khoáng Illit: Hydromica, Illit
- Khoảng cách giữa các lớp đơn vị kết cấu là 2,7Ao là ổn định nên khả năng hútnước trương nở yếu, nước chủ yếu là ở dạng hấp phụ
- Đất có nhiều khoáng Kaolinit thì nghèo chất dinh dưỡng và chua
- Chiếm ưu thế trong đất nhiệt đới, đặc biệt trong đất bị phong hoá mạnh Ngoài
ra trong những loại đất vùng Feralit cận nhiệt đới, đặc biệt trong điều kiện bịrửa trôi mạnh thì Kaolinit cũng là khoáng sét chủ yếu
- Chiếm ưu thế nhất trong đất Feralit đỏ vàng phát triển trên Granit
Khoáng Montmorilonit
* CTHH tổng quát: 4SiO2Al2O3.nH2O Tỉ lệ phân tử SiO2/Al2O3 = 4
* Cấu tạo:
- Lớp tinh thể: 2 thể 4 mặt Si-O kẹp giữa 1 thể 8 mặt Al-OH tạo thành Nên được
gọi là khoáng 3 lớp hay khoáng sét 2:1.
- Hai lớp ngoài cùng của những lớp kết cấu cơ bản được giới hạn những ion O,mối liên kết giữa chúng là mối liên kết chung hoá trị của những lớp oxi này, mốiliên kết này không chặt vì thế những cation và phân tử nước đi vào giữa nhữnglớp cấu trúc cơ bản này một cách dễ dàng
Trang 10- Khoảng cách giữa các lớp đơn vị kết cấu là 3,6 ÷ 14A0 và thay đổi.
* Tính chất:
- Trao đổi đồng tinh thể lớn, cho nên làm xuất hiện sự dư thừa điện tích âm Cáccation trong môi trường bị chúng hấp phụ một cách dễ dàng Các phân tử nước cóthể đi vào khoảng cách giữa các phiến một cách thuận lợi làm cho thể tích vàkhoảng cách giữa các phiến dãn ra
- Khả năng hấp phụ của chúng lớn, có thể đạt tới 80 ÷ 120mE/100g
- Tỉ diện lớn có thể chứa tới 60% cấp hạt keo, 80% cấp hạt <0,001mm
- Tính chất vật lí nước kém ưu việt, giữ nước chặt độ ẩm cây héo cao; thấm nướckém, trương, co mạnh, dễ nứt nẻ, đóng váng
- Dễ kết hợp với mùn thành các phần tử bền chắc làm tiền đề cho việc tạo ra keođất, kết cấu đất
+ Các loại Hydroxyt sắt, nhôm kết tinh dần chuyển sang dạng oxyt ngậm nước
Al2O3.nH2O, Fe2O3.nH2O
+ Hydroxyt Silic trong điều kiện khô hạn chuyển thành dạng gel cứng: Opan(SiO2.nH2O), mất nước chuyển thành Thạch anh (SiO2)
d Vỏ phong hoá (Tham khảo)
* Các loại sản phẩm phong hoá tích đọng lại tạo thành vỏ phong hóa Vỏ phong hóa làlớp vật chất nằm ở phía ngoài cùng của vỏ trái đất
* Các tầng đá mẹ nơi xảy ra các quá trình phong hóa gọi là vỏ phong hoá Vỏ phong hoáđược chia ra làm hai phần: phần trên mặt chịu tác động trực tiếp của quá trình phonghoá hiện đại; phần dưới sâu chịu tác động phong hoá từ xa xưa Bề dày của phong hoáhiện đại đang xảy ra quá trình hình thành đất dao động từ vài cm đến hàng chục mét
* Theo Fritlan năm 1964, vỏ phong hoá ở VN được phân chia như sau:
Vỏ phong hoá Feralit
+ Feralit là các vỏ phong hoá trong đó không thấy có sự hơn hẳn của oxyt sắt hoặcoxyt nhôm
Trang 11+ Phổ biến ở vùng trung du.
+ Tích luỹ nhiều khoáng thứ sinh như Kaolinit, Gipxit, Gotit
Vỏ phong hoá Alit
+ Phát triển ở độ cao trên 1700 – 1800m của miền núi, thuộc đới rừng mây mù, nơi
có độ ẩm cao và quá trình xói mòn mặt đất xảy ra yếu
+ Khoáng vật thứ sinh chủ yếu là kaolinit, Gipxit và Gotit chiếm tỉ lệ rất nhỏ
+ Hàm lượng sắt thấp do nó có độ ẩm cao và trong đất có nhiều hữu cơ
+ Các quá trình khử làm cho sắt trở nên di động Trong điều kiện có sự thay đổi chế
độ khô, ẩm, một phần sắt được giữ chặt trong vỏ phong hóa
Vỏ phong hoá Macgalit – Feralit
+ Vừa mang tính chất Macgalit, vừa mang tính chất Feralit
+ Có màu đen hoặc nâu đen, lớp mỏng (1.0 – 1.5m) và thường có nhiều mảnh đá vụntrong toàn bộ tầng dày
+ Dung tích trao đổi và độ no bazơ cao
+ Trong thành phần sét phổ biến là khoáng metahalozit và có nơi cũng còn nhữngkhoáng thuốc nhóm montmorilonit khả năng trao đổi cao
+ Kết quả phân tích thành phần tổng số cho thấy vỏ phong hoá này giống với vỏphong hoá montmorilonit ở chỗ chứa nhiều Ca và Mg
Vỏ phong hoá trầm tích Sialit
+ Hình thành ở những vùng phù sa đồng bằng
+ Gồm nhiều KV nguyên sinh như Thạch anh, Fensfat, Mica và cả Canxit
Ngoài ra ở VN còn có phong hoá Macgalit
2.2.1 Các nhân tố tham gia vào quá trình hình thành đất
* Nhà thổ nhưỡng học người Nga V.V Docutraev (1886) là người đầu tiên đưa ra mộtđịnh nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất Theo ông, đất là phần tơi xốp của vỏ quả đất,
nó là một vật thể tự nhiên độc lập được hình thành, phát sinh và phát triển dưới tác
Phong hoá lý học Phong hoá hoá học
Phong hoá sinh vật