1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ ÁN Tập trung ruộng đất, hình thành vùng sản xuất quy mơ lớn, tăng cường liên kết để nâng cao hiệu quả, giá trị sản xuất nông nghiệp

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 680,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung các cam kết: thời hạn cùng thực hiện sản xuất chung tối thiểu 5 năm; cam kết các khoản chi phí cùng đóng góp trong quá trình sản xuất, không được chuyển nhượng đất cho người

Trang 1

1

UỶ BAN NHÂN DÂN

HUYỆN CAN LỘC

Số : 2553 /ĐA-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Can Lộc, ngày 13 tháng 8 năm 2020

ĐỀ ÁN Tập trung ruộng đất, hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, tăng cường liên

kết để nâng cao hiệu quả, giá trị trong sản xuất nông nghiệp

PHẦN I

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm qua, thực hiện công tác chuyển đổi ruộng đất theo Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 12/6/2001 và Nghị quyết số 12/NQ-HU ngày 12/6/2007 của BCH Đảng bộ huyện về tập trung lãnh đạo thực hiện cuộc vận động chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn II trong năm 2007 và những năm tiếp theo, việc hấp thu các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp của các cấp đã đạt được một số kết quả nhất định Tổng số thửa trước chuyển đổi là 179.995 thửa,

số thửa sau chuyển đổi là 62.016 thửa; số hộ sản xuất 1 thửa là 6.274 hộ, đạt 22,33%, số hộ sản xuất 2 đến 3 thửa 20.028 hộ đạt 71,27%, số hộ sản xuất 4 thửa trở lên 1.798 hộ đạt 6,40% Sau chuyển đổi, đã góp phần nâng cao được giá trị trên đơn vị diện tích; tỷ lệ mô hình tăng lên; chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phân phối lao động…Tuy nhiên, nhìn chung sản xuất nông nghiệp trên địa bàn của huyện vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún; giá trị gia tăng chưa cao; chất lượng sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh còn thấp; sản xuất chưa gắn kết với thị trường, chưa khai thác và

sử dụng hợp lý các tiềm năng, lợi thế của đất đai

Để sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển UBND huyện xây dựng Đề án

“Tập trung ruộng đất, hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, tăng cường liên kết để nâng cao hiệu quả, giá trị trong sản xuất nông nghiệp” với các nội

dụng như sau:

1.2 Căn cứ để xây dựng Đề án:

1.2.1 Căn cứ pháp lý

Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia

tăng và phát triển bền vững;

Trang 2

2

Nghị định 35/2015/NĐ-CP, ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; Nghị định 62/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 35/2015/NĐ-CP;

Nghị định 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp;

Thông tư 18/2016/TT-BTC, ngày 21/01/2016 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 35/2015/NĐ-CP;

Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

Hà Tĩnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

Nghị Quyết 123/2018/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân Tỉnh, về một số chính sách phát triển NNNT giai đoạn 2019-2020;

Quyết định số 1373/QĐ-UBND, ngày 19/5/2014 của UBND tỉnh Hà Tĩnh

về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Hà Tĩnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới;

Quyết định 3324/QĐ-UBND, ngày 15/8/2014 về phê duyệt Đề án tái cơ

cấu ngành nông nghiệp huyện Can Lôc theo hướng nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới;

Văn bản số 2339/STC - TGV, ngày 25/6/2020 của Sở Tài chính V/v hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm cây lúa;

Thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XXXVI về thực hiện mục tiêu, khâu đột phá trong sản xuất nông nghiệp để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân

1.2.2 Căn cứ thực tiễn:

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện, các đặc điểm về sản xuất nông nghiệp trên địa bàn giai đoạn vừa qua, thực trạng của sản xuất sau chuyển đổi ruộng đất giai đoạn 2 và hấp thu các chính sách phát triển nông nghiệp…

Với huyện nông nghiệp có diện tích gần 10.000 ha đất trồng lúa là tiềm năng, lợi thế trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, việc tháo bờ thửa, bờ vùng để đưa cơ giới hóa vào sản xuất nhằm giảm chi phí là nhu cầu tất yếu, tạo điều kiện thâm canh, là điều kiện để liên kết trong sản xuất đặc biệt là liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ; tạo ra sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch để nâng cao hiệu quả, giá trị trên đơn vị diện tích là xu thế khách quan, tất yếu trong thời gian tới

Trang 3

3

1.2.3 Sự cần thiết phải xây dựng Đề án:

Kết quả chuyển đổi ruộng đất giai đoạn 2 đã có hiệu quả bước đầu, tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp trong cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp còn thấp Chưa khai thác hết các tiềm năng, lợi thế phục vụ cho sản xuất Còn có diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả, một số bộ phận người dân không mặn mà với sản xuất và tình trạng ruộng bỏ hoang Tư tưởng, nhận thức của một bộ phận lớn cán bộ địa phương và nhân dân trong xây dựng mô hình kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra

Ứng dụng tiến bộ KHKT, đưa cơ giới hóa vào sản xuất còn gặp khó khăn

do ruộng manh mún, nhỏ lẻ, năng suất chất lượng đạt thấp chưa liên doanh, liên kết bền vững, khi được mùa thì mất giá Các mô hình sản xuất theo hữu cơ, an toàn chưa được hình thành

Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn có chuyển biến mạnh, theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp Một số doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gạo có nhu cầu liên kết với nông dân trên địa bàn huyện để sản xuất lúa theo hướng hàng hóa… Các xu thế trên được dự báo sẽ còn diễn biến mạnh hơn trong các giai đoạn tiếp theo Chính vì vậy xây dựng Đề án là hướng đi tất yếu để thích ứng với sự phát triển của xã hội

PHẦN II

NỘI DUNG ĐỀ ÁN

1 Mục tiêu:

+ Mục tiêu chung:

Khắc phục tình trạng manh mún, bỏ hoang đất sản xuất, hình thành vùng sản xuất tập trung, thửa ruộng lớn; tạo điều kiện thuận lợi trong tưới tiêu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, giá trị trên đơn vị diện tích

Chuyển đổi phương thức sản xuất, tập quán trong nhân dân, thiết lập tính chuyên nghiệp trong sản xuất từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp

Tạo điều kiện để các hộ gia đình, các tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Hình thành các vùng sản xuất theo hướng hàng hóa, phát triển thị trường bao tiêu sản phẩm Hình thành, xây dựng thương hiệu một số sản phẩm được sản xuất trên địa bàn huyện

+ Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu toàn huyện:

- Vụ xuân năm 2021 đạt trên: 400 ha

- Năm 2022 đạt: 1.200 ha

Trang 4

4

- Đến năm 2025 đạt trên 50% điện tích đất trồng lúa của toàn huyện

2 Quy mô và địa điểm thực hiện:

Dự kiến vụ Xuân 2021, thực hiện thí điểm trên địa bàn toàn huyện, giao mỗi xã triển khai làm thí điểm với quy mô tối thiểu 20ha với tổng diện tích 360 ha; ngoài vùng lựa chọn làm điểm khuyến khích các xã phá bờ vùng bờ thữa (mỗi

xã có từ 3-5 mô hình; một số xã tiếp tục chuyển đổi ruộng đất) UBND huyện lựa chọn một số địa phương có tiềm năng lợi thế như: Khánh Vĩnh Yên, Tùng Lộc; Thanh Lộc; Kim Song Trường, Thuần Thiện để làm điểm, với quy mô thực hiện tại các xã là trên 40 ha, mỗi xã có từ 3-5 mô hình phá bờ thữa, tạo bờ vùng để hình thành các tổ sản xuất Các xã còn lại theo điều kiện cụ thể để triển khai với

mô hình thực hiện theo một trong các phương án được xây dựng dưới đây để đánh giá, triển khai nhân rộng Năm kết thúc Đề án năm 2023

3 Phương án thực hiện:

* Phương án 1: Xây dựng vùng sản xuất tập trung, nông dân góp đất, thành lập tổ hợp tác cùng sản xuất chung

Với phương án này, những người có đất sản xuất liền kề, cùng tháo bờ thửa (bờ nhỏ) để tạo ô thửa lớn có có giới hạn chung bờ vùng để tập trung sản xuất (mỗi bờ vùng tối thiểu có diện tích tối thiểu 0,5 ha) Quá trình thực hiện gồm các nội dung các nội dung sau:

+ Công tác điều tra, khảo sát (trước lúc thực hiện kế hoạch)

Chính quyền cấp xã, thị trấn thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc, đồng thời giao cán bộ phụ trách địa chính sẽ cùng các hộ dân quy hoạch lại vùng sản xuất xác định bờ vùng, bờ thửa để thực hiện ở các bước tiếp theo Yêu cầu của việc xác định bờ vùng là dựa vào các hiện trạng về: Địa hình (cao thấp, bằng phẳng), điều kiện thổ nhưỡng, hệ thống bờ vùng (bờ kiên cố bao quanh đã có), hệ thống kênh mương, đường giao thông, mối quan hệ giữa các hộ dân …

+ Xây dựng tờ bản đồ, trích lục địa chính:

Sau khi xác định được bờ vùng, cán bộ địa chính xã sẽ trích lục khu đất, bao gồm các thông tin: Tên các hộ, diện tích của từng hộ, tỷ lệ % diện tích đất của từng hộ so với diện tích khu đất (bờ vùng, hạng đất) Các hộ cùng ký xác nhận diện tích và tỷ lệ % của khu đất mình so với tổng diện tích của vùng sản xuất tập trung

Nếu trong vùng đất cần phải san lấp, cải tạo đất thì UBND xã (thị trấn) xây dựng phương án riêng thực hiện theo qui định

Trang 5

5

+ Xây dựng phương án sản xuất

Thành lập tổ sản xuất và cử người đại diện; các hộ có chung bờ vùng được gọi là tổ sản xuất Các hộ cử một người đại diện để chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và tính toán các khoản chi phí Tổ trưởng phải lập sổ ghi chép các khoản chi phí, chấm công nếu huy động tham gia trong quá trình sản xuất Sổ ghi chép sau mỗi đợt phải có xác nhận của các hộ

Tổ sản xuất phải xây dựng các cam kết để các hộ cùng thực hiện, ai phá vỡ cam kết thì phải bồi hoàn cho các hộ còn lại Các nội dung các cam kết: thời hạn cùng thực hiện sản xuất chung (tối thiểu 5 năm); cam kết các khoản chi phí cùng đóng góp trong quá trình sản xuất, không được chuyển nhượng đất cho người khác trong quá trình hợp tác sản xuất;

Chi phí thuê (theo cách tính sau): Chi phí thuê quyền sử dụng đất được trả

cho các hộ dân, tính trên đơn vị diện tích (một sào 500m2) như sau:

T = N - V

N: Lợi ích đầu ra (năng suất trung bình 2 vụ của năm liền kề, tính theo theo giá lúa tại thời điểm)

V: Các khoản chi phí đầu vào cho sản xuất (chi phí cày làm đất, chi phí giống, chi phí bắc, vại hoặc cấy, chi phí phân, chi phí thuốc cỏ, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí đưa nước, chi phí diệt chuột, chi phí gặt, thu hoạch v.v…)

Việc tính toán chi phí phải đảm bảo sự thỏa thuận giữa người cho thuê và

tổ chức, cá nhân thuê lại ruộng Mức giá thuê từng địa phương, từng vùng có thể khác nhau do hạng đất, nhưng trên một khu qui hoạch tập trung thì một giá thống nhất

(Trên cơ sở khảo sát, hoạch toán kinh tế thu được lợi nhuận sau thu hoạch- được thể hiện biểu phụ lục 1,2,3 và đưa ra mức thuê lại quyền sử dụng đất của hộ dân giao động trong khoảng từ: 360.000 – 450.000 đồng/sào/năm (2 vụ))

Trong quá trình sản xuất, nếu hộ gia đình có những lúc không có tiền đóng mua phân bón thì các hộ còn lại có thể đóng góp cho hộ đó, khi tính lợi ích đầu

ra, hộ đó phải bị trừ phần chi phí đầu vào không đóng góp

Trên một khu đồng, nếu các hộ đất liên két với nhau lại thì UBND xã nên thành lập hợp tác xã

Các bờ vùng liên kết lại với nhau trên 10 ha ta gọi là cánh đồng lúa tập trung sản xuất, khu đất này hợp tác xã sẽ chịu trách nhiệm điều hành quá trình sản xuất như: đảm bảo lịch thời vụ, tư vấn giống kỷ thuật, chăm sóc phòng trừ sâu bệnh, thuê các dịch vụ khác …

Trang 6

6

Trong mô hình này, tổ hợp tác đóng vai trò đầu mối để chủ động kế hoạch sản xuất trong khu bờ vùng, dự tính giống, phân bón, thuốc bảo vệ thục vật, chi phí sản xuất, chia lợi ích đầu ra và cả bao tiêu sản phẩm cho nông dân Nông dân vẫn sản xuất trên ruộng đất của mình nhưng tự hình thành nhóm hộ sản xuất, áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ giới hóa… Nhiều tổ hợp tác liền kề nhau tập trung ruộng đất lại thì thành hợp tác xã Lúc đó hợp tác xã sẽ thay tổ hợp tác, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, chủ động liên doanh, liên kết với doanh nghiệp để làm dịch vụ như giống, phân bón, hổ trợ kỷ thuật, bao tiêu sản phẩm v.v… Các dịch vụ này được thực hiện bằng hình thức tự nguyện,

có sự đồng thuận của các tổ hợp tác Như vậy các chi phí đầu vào cho sản xuất sẽ giảm, điều kiện tưới tiêu thuận lợi, thâm canh được dễ dàng; diện tích, năng suất tăng thêm; hiệu quả, lợi nhuận sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng sẽ tăng thêm cho người sản xuất

+ Phương án chia sản phẩm cho người dân có ruộng góp vào sản xuất trên cánh đồng lớn

Tổ tính toán các khoản chi phí đầu vào (V) phục vụ sản xuất (trên đơn vị chuẩn là 01 sào bao gồm chi phí cày bừa (làm đất), chi phí giống, chi phí bắc mạ hoặc gieo thẳng, chi phí phân bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phí đưa nước, chi phí diệt chuột, chi phí gặt, thu hoạch v.v…, tính chi phí bình quân tính bằng tiền mặt, sau đó từ định mức đầu tư sẽ xác định chi phí đầu tư của phần ruộng của hộ tham gia trên cánh đồng lớn, các chi phí này sẽ được xác định để nông dân đóng góp trong quá trình sản xuất theo công thức:

* Đ = V x D (diện tích ruộng của hộ trên bờ vùng sản xuất)

Phần hoa lợi mà người dân được hưởng thực hiện theo công thức:

HL = SL – CP

Trong đó: SL là sản lượng sau thu hoạch = Năng suất bình quân/01 sào

x Diện tích ruộng của vùng sản xuất

CP = V x diện tích sản xuất của hộ

* Phương án 2: Xây dựng khu sản xuất tập trung, các tổ chức, cá nhân thuê lại quyền sử dụng đất của hộ dân để sản xuất

Với Phương án này các xã qui hoach từng vùng sản xuất lúa tập trung, có quy mô tổi thiểu là 15 ha Chính quyền cơ sở quy hoạch vùng thực hiện và tổ chức làm việc với các hộ dân, sau khi thống nhất mời gọi các tổ chức, cá nhân tiến hành đầu tư hoặc thành lập Hợp tác xã để cùng với doanh nghiệp liên kết hoặc thuê lại quyền sử dụng đất với thời hạn tối thiểu là 5 năm

Nội dung thực hiện bao gồm:

Trang 7

7

+ Quy hoạch vùng sản xuất tập trung

Khu qui hoạch vùng sản xuất tập trung được xác định dựa vào địa hình

(cao thấp, bằng phẳng), điều kiện thổ nhưỡng, điều kiện tưới, tiêu, hệ thống bờ (bờ kiên cố), hệ thống kênh mương, đường giao thông, được sự đồng thuận các

hộ dân … có diện tích tối thiểu 15 ha trở lên Khu qui hoạch này được UBND xã, thị trấn phê duyệt, trong đó thể hiện rõ hệ thống tưới, tiêu, bờ vùng, bờ thữa; dự toán cải tạo đất, cơ sở hạ tầng, chi phí tháo dỡ bờ vùng, cải tạo đất…Trên cơ sở

đó, nếu trong khu tập trung có một số hộ không cho thuê quyền sử dụng đất để đất sản xuất tập trung thì UBND xã, Thị trấn thực hiện chuyển đổi di dời các hộ

đó bằng đổi đất đất cho hộ gia đình đó bằng đất tương đương ở vùng khác

UBND xã lập trích lục Khu đất: Tên các hộ, diện tích của từng hộ, tỷ lệ % diện tích đất của từng hộ so với diện tích khu đất, hạng đất Các hộ cùng ký xác nhận diện tích và tỷ lệ % của khu đất mình so với tổng diện tích của Khu sản xuất tập trung

+ Tổ chức cho các Hợp tác xã, doanh nghiệp và cá nhân thuê lại quyền sử dụng đất

Việc lựa chọn hình thức, đối tượng cho thuê thuộc thẩm quyền của các hộ dân: hoặc hợp tác xã, hoặc cá nhân có đủ năng lực hoặc doanh nghiệp do nhân

dân tự lựa chọn Giá thuê đất do các bên thỏa thuận, thống nhất (Cách tính theo

phương án 1)

Hợp tác xã, hoặc các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực (được nhân dân trong khu đất sản xuất tập trung lựa chọn) đứng ra chịu trách nhiệm thuê đất của các hộ dân Việc thuê phải được đảm bảo bằng hợp đồng kinh tế, có ràng buộc trách nhiệm pháp lý với nhau, thời hạn thuê tối thiểu 5 năm;

UBND huyện khuyến khích thành lập Hợp tác xã, HTX liên kết với doanh nghiệp, hoặc cá nhân, tổ chức với hai hình thức, hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng

một phần:

+ Hợp đồng trọn gói: Doanh nghiệp thuê lại đất của hợp tác xã, hoặc cá

nhân (đã thuê toàn bộ đất của các hộ dân trong khu đất tập trung) được toàn quyền sử dụng khu đất để sản xuất trồng lúa (từ làm đất, chăm bón đến khâu thu hoạch và đầu ra cho sản phẩm) Hợp đồng thuê trọn gói thời hạn tối thiễu 5 năm Với hình thức Hợp đồng này doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình sản xuất, trả chi phí thuê quyền sử dụng đất (5 năm) cho người nông dân thông qua hợp tác xã Doanh nghiệp sẽ chủ động toàn bộ quá trình sản xuất và thu hoạch Người nông dân, hợp tác xã, các hộ có máy dịch vụ nông nghiệp có thể hợp đồng làm thuê cho doanh nghiệp Chi phí thuê, trả công do các bên thỏa thuận và quyết định

Trang 8

8

+ Hợp đồng một phần: Tùy vào năng lực tài chính và năng lực tổ chức sản

xuất của HTX hay cá nhân có thể chỉ thực hiện ở một số khâu như: Làm đất, cung cấp giống lúa, phân bón… Phần còn lại thuê hoặc liên kết thực hiện

Với hợp đồng một phần, người thuê đất (hợp tác xã, các cá nhân…) có thể thuê và ký một số khâu, dịch vụ với doanh nghiệp như: cung cấp giống, phân bón, dịch vụ kỷ thuật, bao tiêu đầu ra sản phẩm; hợp tác xã cũng có thể thuê các

hộ dân có phương tiện dịch vụ nông nghiệp một số khâu như làm đất, phun thuốc, thu hoạch v.v… Tùy tình hình thực tiễn để hợp tác xã chủ động thuê các khâu dịch vụ hoặc liên kết doanh nghiệp

Trong mô hình này, nên thành lập Hợp tác xã, hợp tác xã là trung tâm để liên kết, kết nối từ khâu thuê đến các khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Hợp tác

xã đóng vai trò đầu mối để cùng doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất trong khu tập trung, dự tính giống, phân bón, thuốc bảo vệ thục vật, chi phí sản xuất, chia lợi ích đầu ra và cả bao tiêu sản phẩm cho nông dân và cả thuê nhân lực tại chỗ trong quá trình sản xuất Hợp tác xã là người đại diện cho người dân, người dân vẫn sản xuất trên ruộng đất của mình nhưng tự hình thành nhóm hộ sản xuất,

áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ giới hóa…

Phương án 3: Chuyển đổi ruộng đất, gắn với tập trung ruộng đất sản xuất tập trung

Những nơi có điều kiện, tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi diện tích lần 3, phấn đấu mỗi hộ gia đình sản xuất không quá 2 mảnh/ hộ dân

Tập trung khảo sát các vùng đất, phân hạng đất; phân hạng hộ gia đình có diện tích sản xuất lớn, diện tích sản xuất vừa, diện tích sản xuất nhỏ;

Phân chia và lập qui hoạch các vùng cần tập trung để sản xuất tập trung, vùng sản xuất tập trung có điều kiện sau:

+ Địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác, đất có điều kiện thâm canh, diện tích tối thiểu trên 5 ha;

+ Hệ thống hạ tầng cơ bản đảm bảo: đường nội đồng, kênh tưới tiêu thuận lợi cho việc đưa cơ giới vào sản xuất;

- Họp bàn với dân phương án chuyển đổi: Tập trung những hộ gia đình có diện tích lớn, có điều kiện sản xuất nông nghiệp chuyển về khu tập trung sản xuất; các hộ diện tích hẹp, ít lao động chuyển vùng khác

- Khi được dân đồng thuận, tổ chức đo đạc, căm mốc, làm các thủ tục thu hồi đất và cấp đất mới theo qui định của Luật đất đai 2013;

- Đầu tư hạ tầng nhất là đường nội vùng, hệ thống tưới, tiêu để cơ giới hóa, thâm canh lúa

- Các hộ có đất sản xuất nằm trong khu ruộng tập trung sản xuất thành lập

tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để tiến hành tháo bờ thửa, thành bờ vùng để đưa cơ giới, tập trung thâm canh và liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Trang 9

9

Ngoài các phương án trên: UBND các xã chủ động tuyên truyền vận động

nhân dân, quy hoạch các cánh đồng, tháo bờ thửa, xây dựng kết cấu hạ tầng (đường giao thông, thủy lợi) vùng sản xuất quy mô lớn, liên kết trong tiêu thụ sản phẩm, liên kết trong các dịch vụ nước, phân bón, kỷ thuât sản xuất …

4 Quy trình và cách thức thực hiện:

Trên cơ sở Đề án Tập trung ruộng đất, hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, tăng cường liên kết để nâng cao hiệu quả, giá trị trong sản xuất nông nghiệp của Ủy ban nhân dân huyện, UBND các xã, thị trấn xây dựng Kế hoạch để tổ chức thực hiện có hiệu quả; căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương để lựa chọn phương án thực hiện, mỗi xã ít nhất phải lựa chọn 1-2 vùng làm thí điểm

Trình tự và cách thức thực hiện như sau:

* Đối với phương án 1 và phương án 2:

Bước 1: Trên cơ sở Phương án của UBND xã, thị trấn; BCH Đảng bộ ban hành Nghị quyết chuyên đề; thành lập Ban Chỉ đạo cấp xã; UBND các xã, thị trấn chỉ đạo các HTX và các thôn xóm tổ chức họp cộng đồng dân cư để tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên tích cực hưởng ứng Đảng bộ, chi bộ họp thống nhất ban hành Nghị quyết triển khai thực hiện; Thôn tiến hành tổ chức họp đến tận các

tổ liên gia, các hộ gia đình liên quan đến các vùng xứ đồng dự kiến quy hoạch để thực hiện phương án

Bước 2: Quy hoạch vùng: Để thuận lợi trong thực hiện, trước mắt các xã nên lựa chọn các vùng tương đối bằng phẳng, thuận tiện trong tưới tiêu, các vùng

xứ đồng quy hoạch có diện tích tối thiểu 5 ha Trước khi phá bỏ bờ thửa các hộ có thể cắm mốc định vị diện tích để phân chia ranh giới từng thửa, sau khi hình thành bờ thửa bằng cọc tre, các hộ tiến hành đóng cọc bê tông để đảm bảo ổn định lâu dài Đồng thời lập sơ đồ chủ thể các thửa ruộng để lưu trữ, theo dõi và quản lý

- Bước 3: Sau khi các hộ dân tiến hành cắm mốc, có thể tự làm đất hoặc hợp đồng với tổ chức, cá nhân làm đất và phá bỏ bờ thửa nhỏ giữa các ruộng liền

kề để thành các thửa, ruộng lớn có quy mô tối thiểu mỗi thửa ruộng từ 0,5 ha đồng thời tổ chức làm phẳng mặt bằng trong thửa và giữa các thửa ruộng để đảm bảo thuận lợi trong tưới tiêu, sử dụng vật tư nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật

- Bước 4: Sau khi phá bờ thửa nhỏ và làm đất xong, HTX hay doanh nghiệp, áp dụng quy trình sản xuất tập trung, các biện pháp kỹ thuật như lịch thời

vụ, cơ cấu giống, quy trình sản xuất, phòng trừ sâu bệnh cho lúa theo Đề án sản xuất của UBND huyện và UBND cấp xã

* Đối với phương án 3: Địa phương đánh giá cụ thể, chi tiết thực trạng sản

xuất nông nghiệp trên địa bàn, nhất là diện tích các loại đất, số hộ, số thữa/hộ để

Trang 10

10

làm cơ sở cho việc chuyển đổi, tập trung ruộng đất; ban hành Nghị quyết của Đảng bộ cấp xã, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, Quyết định thành lập Ban chỉ đạo cấp xã; xây dựng Phương án chuyển đổi ruộng đất của UBND cấp xã giai đoạn 3 phù hợp quy hoạch của địa phương trình UBND huyện phê duyệt Trên cơ sở Phương án đã được phê duyệt, triển khai các bước như sau:

Bước 1: Để thực hiện nghị quyết của chi bộ, xóm tổ chức họp thông qua

hộ dân mục tiêu của việc chuyển đổi, lấy ý kiến của người dân; thành lập Ban chuyển đổi của xóm

Bước 2: Ban chuyển đổi: Phân loại hạng đất trên địa bàn xóm, quy hoạch vùng sản xuất; phân loại hộ dân (hộ 1 khẩu, 2 khẩu , hộ không có nhu cầu sản xuất), lập dự toán kính phí cho Ban chuyển đổi, kinh phí phá bờ vùng, bờ thửa

Bước 3: Sau khi phân loại hạng đất, số hộ sản xuất nông nghiệp; tổ chức họp dân để bàn phương án chia đất Đối với đất loại tốt một khẩu là bao nhiêu m2, sau đó đối với đất loại 2, loại 3 hay đất màu thì nhân với hệ số là bao nhiêu?

Bước 4: Tổ chức giao đất: Trên cơ sở phân loại hộ (1 khẩu, 2 khẩu ); quy hoạch vùng sản xuất (hiện trạng đất được đo vẽ trên giấy công khai tại hội quán), lấy ý kiến của người dân về nhu cầu sản xuất (nhu cầu sản xuất lúa thâm canh, sản xuất hoa màu, địa điểm sản xuất gần hay xa, loại đất tốt hay xấu …); sau đó ban chuyển đổi lập danh sách theo nhóm để chọn phương án giao đất Sau giao đất, ban chuyển đổi lập danh sách các hộ có diện tích trước và sau chuyển đổi để phối hợp với UBND xã đề xuất cấp lại bìa cho hộ dân

Lưu ý:

- Huyện sẽ xem xét lựa chọn một số địa phương (theo phương án) để làm điểm, từ đó tập trung chỉ đạo đồng thời đúc rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện;

- Các xã ngoài việc phải thực hiện các mô hình, có diện tích tập trung tối thiểu 20 ha thì cần chọn một số vùng, xóm làm điểm đề từ đó học tập, đúc rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện;

+ Mỗi địa phương có thể lựa chọn các phương án riêng biệt để thực hiện, cũng có thể cùng lúc triển khai 3 phương án riêng biệt trên mỗi vùng sản xuất riêng;

+ Trong quá trình triển khai có thể lồng ghép giũa các hình thức với nhau: Phương án 1 với phương án án 3 hoặc phương án 2 với phương án 3 (vừa tập trung vùng sản xuất gắn với chuyển đổi đất giữa các hộ với nhau, đặc biệt là chuyển đổi giữa hộ có nhu cầu tập trung và hộ không có nhu cầu tập trung); hoặc trong quá trình sản xuất có thể gắn mô hình 1 (tổ hợp tác) với mô hình 2 là liên

Ngày đăng: 18/03/2022, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w