1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền im lặng của người bị buộc tội nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho việt nam

104 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (14)
    • 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự 9 1.2. Nền tảng pháp lý của quyền im lặng trong tố tụng hình sự (14)
      • 1.2.1. Quyền im lặng và nguyên tắc xét xử công bằng (20)
      • 1.2.2. Quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội (22)
      • 1.2.3. Quyền im lặng và trách nhiệm chứng minh của nhà nước (24)
    • 1.3. Nội dung quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự (27)
    • 1.4. Đặc điểm quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự (30)
    • 1.5. Ý nghĩa của quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự (33)
  • CHƯƠNG 2: QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT THẾ GIỚI (38)
    • 2.1. Quyền im lặng của người bị buộc tội trong một số văn bản pháp luật quốc tế (38)
    • 2.2. Quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật một số quốc gia (0)
      • 2.2.1. Quyền im lặng của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ (48)
      • 2.2.2. Quyền im lặng của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Pháp (58)
    • 3.1. Quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (66)
    • 3.2. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quyền im lặng của người bị buộc tội (76)
    • 3.3. Một số đánh giá về pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật thế giới (80)
    • 3.4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền im lặng của người bị buộc tội (86)
      • 3.4.1. Một số yêu cầu sửa đổi, bổ sung quy định về quyền im lặng của người bị buộc tội theo BLTTHS 2015 (86)
      • 3.4.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền (90)
  • KẾT LUẬN (37)

Nội dung

Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nước gặp phải trong quá trình hoàn thiện pháp luật đó là việc đảm bảo cân bằng giữa các mục tiêu của tố tụng hình sự; đó là cân bằng giữa nhiệm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Lịch sử hình thành và phát triển của quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự 9 1.2 Nền tảng pháp lý của quyền im lặng trong tố tụng hình sự

Trong hành trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo quyền con người và quyền công dân, Tố tụng hình sự (TTHS) là lĩnh vực trọng yếu với quyền lợi của người bị buộc tội được đặt trong khuôn khổ bảo vệ nghiêm ngặt và không bị xâm phạm vô căn cứ; mục tiêu của TTHS là phát hiện chính xác và xử lý công bằng mọi hành vi phạm tội, đồng thời phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm để duy trì trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức Tuy vậy, TTHS cũng có những mặt trái khi các hoạt động tố tụng thường căng thẳng và tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của những người tham gia, đặc biệt là người bị buộc tội Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, cho đến khi có bản án có hiệu lực, người bị buộc tội vẫn được coi là vô tội và quyền lợi của họ không thể bị xâm phạm tùy tiện; vì vậy, họ cần được bảo vệ các quyền cơ bản khi tham gia tố tụng để tự bảo vệ trước nguy cơ vi phạm, đồng thời hệ thống pháp luật phải cân bằng giữa trách nhiệm xử lý tội phạm và tôn trọng quyền tự do, công lý cho mọi người.

Trong hệ thống TTHS, dù cơ quan tiến hành tố tụng được pháp luật trang bị đầy đủ công cụ và phương tiện, người bị buộc tội vẫn ở thế bất lợi trước Nhà nước Vì vậy, các đối tượng yếu thế này cần được trao các quyền năng tố tụng thiết yếu để tự bảo vệ trước cáo buộc Quyền im lặng của người bị buộc tội là nội dung được đặc biệt quan tâm, bởi từ lâu quyền im lặng đã được nhiều Công ước quốc tế và pháp luật của nhiều nước công nhận nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội trước những cáo buộc từ phía Nhà nước.

Khi đề cập đến quyền im lặng, nhiều người nghĩ đến án lệ Miranda nổi tiếng tại Mỹ Tuy nhiên, quyền im lặng đã được đề cập từ rất lâu trước đó; vụ án Miranda chỉ làm cho quyền im lặng của người bị buộc tội được biết đến rộng rãi chứ không phải là vụ án khai sinh quyền này Theo các nghiên cứu, quyền im lặng có nguồn gốc từ đặc quyền không tự buộc tội chính mình (privilege against self-incrimination), một nguyên tắc xuất hiện ở Anh từ rất sớm.

Vào đầu thế kỷ XVI, tố tụng hình sự Anh theo học thuyết “người bị buộc tội trình bày” (accused speaks theory) Theo học thuyết này, sự bảo đảm cơ bản đối với người bị buộc tội không phải là quyền im lặng mà là được trao cho những cơ hội trình bày trước tòa để đưa ra các lập luận phản đối cáo buộc Phiên tòa xét xử là nơi bị cáo có cơ hội tự mình trình bày và biện hộ, bất kể có tội hay vô tội Bởi vì khi bị cáo bị buộc phạm tội thì họ được coi là có mối liên hệ mật thiết với sự việc phạm tội đã xảy ra, và họ phải trình bày trước tòa trong suốt quá trình xét xử.

Star Chamber (Toà án Cung đình) và Court of High Commission (Toà án Giáo hội) yêu cầu các nghi phạm tuyên thệ trước Toà án để trả lời trung thực các câu hỏi được đặt ra Điều này đồng nghĩa họ phải đối mặt với ba khả năng: trả lời không đúng sự thật để tự bảo vệ mình có thể dẫn đến bị buộc tội khai man; từ chối trả lời sẽ bị xem là coi thường Toà án và chịu hình phạt nghiêm khắc; còn nếu trả lời trung thực đúng như tuyên thệ, điều đó đồng nghĩa với việc họ đã không thể thực hiện một quyền rất hiển nhiên là tự vệ.

Trong giai đoạn này, người bị buộc tội không được quyền giữ im lặng mà ngược lại họ có nghĩa vụ khai báo đầy đủ Khi những người bị tình nghi cố tình giữ im lặng hoặc không trả lời được các câu hỏi đặt ra, họ có nguy cơ bị kết tội Sự lý giải cho quan điểm này cho thấy mối liên hệ giữa nghĩa vụ khai báo và kết quả pháp lý trong quá trình điều tra và xét xử.

3 John H Langbein, ‘Nguồn gốc lịch sử của đặc quyền chống lại sự tự buộc tội trong hệ thống án lệ’

[The Historial Origins of the Privilege against Seft-Incrimination at Common Law] (1994), Yale Law

School, Faculty Scholarship Series, paper 550, trang 1055

Toà án Cung đình (Star Chamber) và Toà án Giáo hội (Court of High Commission) là hai hệ thống tư pháp được thành lập ở Anh từ năm 1487 đến 1641, nhằm quản lý mặt chính trị và kiềm chế các thế lực thù địch đối với giáo hội Các tòa án này dùng phương thức tra khảo để tìm kiếm sự thật trong các vụ án hình sự, và do đó công tố viên có thể sử dụng các biện pháp đe dọa nhằm lấy lời khai của người bị buộc tội.

Gupta’s discussion of Article 20(3) frames the right against self-incrimination as requiring that, if a charge against a suspect is false, the accused must state that the charge is false and explain why; conversely, if the suspect remains silent or does not testify, that silence can only reflect an inability to deny the truths revealed by the available evidence This formulation highlights the tension between protecting a suspect’s constitutional right and meeting the evidentiary needs of the prosecution, and it suggests that lack of self-incriminating testimony is not automatically proof of guilt.

Thủ tục xét xử thiếu công bằng tại Toà án Cung đình và Toà án Giáo hội đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía người dân, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tư pháp này vào thế kỷ XVI Sự sụp đổ ấy mở đường cho một thời kỳ mới với các chuẩn tắc liên quan đến quyền con người và công lý, trong đó nổi lên nguyên tắc “không ai bị buộc tội chính mình, bất kể tội phạm bị cáo buộc là gì, và bất kể tại Toà án nào”.

Không ai bị bắt buộc phải tự kết tội chính mình trước mọi cáo trạng hoặc trước bất kỳ tòa án nào Sau các cuộc cách mạng Nghị viện vào thế kỷ XVI, quyền im lặng được thiết lập như một phản ứng của người dân trước cách thức tra hỏi tại các tòa án Anh thời bấy giờ Tuy nhiên, những quy định này mang tính hình thức, nhằm xoa dịu sự phản đối của công chúng trước các thủ tục tố tụng hà khắc và đã không đi vào thực tế trong một thời gian dài do các quy định hạn chế sự tham gia của người bào chữa.

Trong tố tụng hình sự giai đoạn đầu thế kỷ XVI, người bào chữa không được tham gia để bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, ngay cả khi Toà án Cung đình đã bị bãi bỏ vào năm 1641 Đến cuối thế kỷ XVI (1696), quyền có người bào chữa mới được thừa nhận đối với những vụ án ít nghiêm trọng (khinh tội) Từ năm 1836, quyền này được đảm bảo trọn vẹn không chỉ đối với khinh tội mà còn đối với những vụ trọng tội Dưới sự ảnh hưởng của người bào chữa, các phiên tòa hình sự dần trở thành cơ hội để các luật sư kiểm tra sự buộc tội của bên công tố Tuy nhiên, người bào chữa chỉ được quyền nói đến khía cạnh pháp lý của vụ án; với những vấn đề phát sinh thuộc về tình tiết, sự kiện, bị cáo phải tự trình bày trước thẩm phán và bồi thẩm đoàn Như một vị thẩm phán của Toà án Old Bailey đã giải thích với bị cáo trong một phiên tòa vào năm 1777 như sau:

6 J.M Beattie (1986), Crime and the Courts in England: 1660 – 1800 Dẫn theo John H Langbein, chú thích số 2, trang 1066

7 Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013), Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa

Kỳ, Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội, tr16

8 Toà án hình sự trung ương (The Central Criminal Court) của Anh, thường được biết đến với tên gọi

“Toà án Old Bailey” vì tọa lạc trên đường Old Bailey, thủ đô Luân Đôn, Anh

Luật sư bào chữa của bị cáo không có quyền trình bày các vấn đề liên quan đến thực tế vụ án; họ chỉ được phép kiểm tra chứng cứ do bị cáo cung cấp Sự có mặt của người bào chữa ở đây là để trình bày các vấn đề pháp lý có thể phát sinh Trong trường hợp các vấn đề phát sinh liên quan đến tình tiết của vụ án thuộc lĩnh vực thực tế, bị cáo phải tự mình trình bày với tôi và các vị bồi thẩm.

Vào năm 1898, Đạo luật về Chứng cứ Hình sự của Anh được thông qua, mở ra khuôn khổ nơi bị cáo có quyền nhưng không bắt buộc phải chứng minh sự vô tội Đạo luật cho phép thẩm phán, chứ không phải công tố viên, đưa ra ý kiến với hội đồng bồi thẩm về các trường hợp bị cáo chọn im lặng, thường là không kết luận về hành vi phạm tội dựa trên sự im lặng tại phiên tòa Với sự ra đời của pháp luật chứng cứ hình sự, các người bào chữa đã phản đối việc chấp nhận một số loại chứng cứ nhất định và tìm kiếm giới hạn về các trường hợp mà bị can bị bắt buộc phải trả lời.

Thêm vào đó, sự xuất hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội (the presumption of innocence) và tiêu chuẩn đánh giá chứng cứ vượt quá sự nghi ngờ hợp lý (beyond reasonable doubt 11 ) vào cuối thế kỷ XVIII đã đặt trách nhiệm chứng minh lên vai bên buộc tội Tiêu chuẩn vượt quá sự nghi ngờ hợp lý khuyến khích người bào chữa đưa ra lời khuyên cho bị cáo về việc giữ im lặng, và do đó buộc bên buộc tội phải tìm kiếm chứng cứ từ các nguồn khác Điều này cho thấy chính những người bào chữa đã khiến cho đặc quyền chống lại sự tự buộc tội được thực hiện trên thực tế, qua đó giải phóng nghĩa vụ chứng minh mà trước đây được đặt trên vai những người bị buộc tội Có thể nói những người bào chữa đã góp công lớn trong việc khai sinh ra đặc quyền chống lại

9 John H Langbein, chú thích số 3, trang 1054

10 Eileen Skinnider và Frances Gordon, “The right to silence- International norms and domestic realities”, Sino Canadian International conference on the ratification and implementation of human rights covenants Beijing, 25-16 October 2001, tr8 icclr.law.ubc.ca/sites/icclr.law.ubc.ca/files/publications/pdfs/Paper1_0.PDF

Nội dung quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

Như đã đề cập, quyền im lặng hiện nay được thừa nhận bởi một số văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia; ở các quốc gia khác nhau, cách ghi nhận, hiểu và áp dụng quyền im lặng có sự khác biệt tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của từng nước; tuy nhiên, nhìn chung quyền im lặng có một số nội dung cơ bản được công nhận và áp dụng trong hệ thống tư pháp để bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội.

Thứ nhất, người bị buộc tội có quyền giữ im lặng và không bắt buộc phải khai báo trước các câu hỏi của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Quyền này bảo vệ họ khỏi bị áp lực và đảm bảo sự công bằng trong quá trình điều tra và truy tố Tuy nhiên, họ vẫn có thể tự nguyện trình bày thông tin khi thấy phù hợp hoặc theo sự tư vấn của luật sư; việc khai báo hay giữ im lặng sẽ phụ thuộc vào quyền và lợi ích của từng trường hợp, theo quy định của hệ thống tư pháp.

Như đã nêu, trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự thuộc về nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền; người bị buộc tội có quyền nhưng không bắt buộc phải chứng minh sự vô tội của mình, do đó họ có quyền từ chối trả lời trước những câu hỏi có thể gây bất lợi cho bản thân Các cơ quan có thẩm quyền không được sử dụng biện pháp ép buộc hay cưỡng bức để bắt người bị buộc tội khai báo; việc ép buộc khai báo được xem là vi phạm pháp luật và xâm phạm nghiêm trọng quyền hợp pháp của người bị buộc tội Lời khai thu được từ biện pháp ép buộc không thể được coi là chứng cứ trong vụ án, ngay cả khi lời khai phản ánh đúng các tình tiết sự kiện Việc khai báo hay giữ im lặng phải dựa trên sự tự nguyện của người bị buộc tội, và sự im lặng không được xem là sự thừa nhận hành vi phạm tội hoặc làm căn cứ kết tội Các cơ quan có thẩm quyền không được suy luận rằng người bị buộc tội im lặng vì họ không thể biện hộ hay không thể chối bỏ hành vi của mình, và ngược lại họ phải tôn trọng quyền được giữ im lặng của bị cáo.

Thứ hai, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho người bị buộc tội về quyền im lặng

Việc công nhận quyền và nghĩa vụ của một chủ thể trong pháp luật luôn đi kèm với cơ chế để các chủ thể liên quan có thể thực thi các quyền và nghĩa vụ ấy Tương tự, quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự cũng đòi hỏi có các cơ chế bảo đảm để quyền này được thực hiện trên thực tế Trong đó, một cơ chế quan trọng là quy định trách nhiệm thông báo của các cơ quan có thẩm quyền cho người bị buộc tội về quyền im lặng của họ Thực tế cho thấy người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không phải lúc nào cũng có hiểu biết pháp lý đầy đủ, và nhiều trường hợp bị nhầm lẫn giữa quyền khai báo và nghĩa vụ khai báo; sự khai báo khi bị nhầm lẫn như vậy có thể không biểu hiện ý chí tự nguyện của người bị buộc tội.

Các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo và giải thích đầy đủ về quyền và nghĩa vụ cho người bị buộc tội, đặc biệt là quyền được giữ im lặng Việc cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng trách nhiệm thông báo đảm bảo tính hợp pháp của lời khai; ngược lại, nếu cơ quan tố tụng không thực hiện quyền được thông báo, các lời khai thu được sẽ bị coi là không hợp pháp và không thể được sử dụng làm chứng cứ trong vụ án.

Về trách nhiệm thông báo cho người bị buộc tội quyền im lặng, pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều nước đã đi tới những quy định nhất quán Trong Nguyên tắc và Hướng dẫn của Liên hợp quốc về trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự (2012) — United Nations Principles and Guidelines on Access to Legal Aid in Criminal Justice Systems — Liên Hiệp Quốc kêu gọi các quốc gia thành viên ban hành biện pháp thông báo kịp thời cho người bị giam giữ, bị bắt, bị tình nghi hoặc bị buộc tội về quyền im lặng và quyền được tư vấn từ bào chữa viên hoặc người trợ giúp pháp lý (nếu đủ điều kiện) ở bất kỳ giai đoạn tố tụng, đặc biệt trước khi bị thẩm vấn Pháp luật các nước thường yêu cầu cảnh sát giải thích cho người bị bắt (trước khi hỏi cung) rằng họ không bắt buộc phải trả lời bất kỳ câu hỏi nào, nhưng những gì họ nói có thể được dùng làm chứng cứ chống lại họ khi xét xử Trong trường hợp người bị bắt không được thông báo về quyền này và cung cấp thông tin bất lợi cho bản thân, các thông tin đó sẽ không được coi là chứng cứ buộc tội.

Lời nhận tội của người bị buộc tội chỉ được dùng làm chứng cứ trong vụ án hình sự khi phù hợp với các chứng cứ khác và hoàn toàn tự nguyện; để đưa ra kết luận, tòa án phải xem xét các chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, kể cả lời khai, biên bản và tài liệu, và đánh giá chúng trong mối liên hệ với nhau Lời khai của bị can là một nguồn chứng cứ, nhưng không được coi là “chứng cứ vua” hay buộc tội duy nhất; nếu có mâu thuẫn với các chứng cứ khác, cần làm rõ nguyên nhân và loại bỏ chứng cứ sai sự thật Việc khai báo phải hoàn toàn tự nguyện; quyền khai báo hoặc giữ im lặng là của người bị buộc tội, và bất kỳ hành vi ép buộc nào đều bị coi là trái pháp luật, khiến lời khai bị coi là không hợp pháp và không thể trở thành chứng cứ Sự tự nguyện được xác định khi người bị buộc tội ở trạng thái tỉnh táo, không chịu áp lực về tinh thần hay thể chất, đồng thời người ấy nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình cũng như dự liệu được kết quả của việc khai báo.

Đặc điểm quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, quyền im lặng là một nội dung của quyền con người trong TTHS

Quyền im lặng không chỉ là một quyền cơ bản mà còn là quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS Nghiên cứu cho thấy gần 60 quyền con người được quy định trong Hiến pháp các nước và luật nhân quyền quốc tế, bao gồm quyền sống; quyền tự do biểu đạt; tự do tôn giáo, tín ngưỡng; tự do hội họp và lập hội; tự do báo chí; tự do tư tưởng, ý kiến, quan điểm; tự do đi lại; quyền được bảo vệ đời tư; quyền sở hữu tài sản; quyền được lựa chọn nghề nghiệp; cấm chế độ nô lệ, nô dịch hoặc cưỡng bức lao động; quyền có quốc tịch; quyền không bị trừng phạt khi luật chưa quy định là tội phạm; quyền không bị tước tự do tùy tiện; quyền được suy đoán vô tội; quyền được im lặng hoặc không phải tự chứng minh mình không phạm tội; quyền được xem xét lại việc bắt giữ.

Quyền im lặng của người bị buộc tội được ghi nhận rõ trong nhiều văn bản pháp lý về quyền con người Theo điểm g, Khoản 3, Điều 14 ICCPR 1966, trong quá trình xét xử một tội hình sự, mọi người được hưởng đầy đủ và bình đẳng các bảo đảm tối thiểu, trong đó không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận tội Ở cấp độ quốc gia, quyền này cũng được ghi nhận bởi Hiến pháp và pháp luật hình sự của nhiều nước, như Hiến pháp Nhật Bản (Điều 38), Hiến pháp Liên bang Nga (Điều 49, 51) và Hiến pháp Hàn Quốc (Điều 12).

Bài viết 'Một số so sánh quyền con người với quyền công dân' của Nguyễn Thanh Tuấn và Vũ Công Giao (2013) phân tích sự khác biệt và sự liên hệ giữa quyền con người và quyền công dân trong bối cảnh pháp lý hiện đại Tác giả cho rằng quyền con người mang tính phổ quát, bất biến và vượt qua biên giới quốc gia, còn quyền công dân được xác định và bảo vệ thông qua hiến pháp và hệ thống luật pháp của mỗi nước Bài viết trình bày các khía cạnh thực thi và bảo đảm quyền ở mức độ cá nhân và tập thể, cũng như các giới hạn thực tế mà pháp luật và cơ chế nhà nước đặt ra Qua đó, nó cung cấp khung lý thuyết giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của quyền con người và quyền công dân trong bảo đảm tự do, bình đẳng và trách nhiệm công dân trong xã hội hiện đại Nguồn: Nguyễn Thanh Tuấn, Vũ Công Giao (2013), 'Một số so sánh quyền con người với quyền công dân', http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/484, truy cập ngày 24/5/2017.

Theo Điều 136 BLTTHS Cộng hòa Liên bang Đức, tại thời điểm bắt đầu lấy lời khai lần đầu tiên, người bị buộc tội sẽ được thông báo về tội danh bị khởi tố và các điều khoản luật hình sự áp dụng; anh ta sẽ được thông báo về quyền trình bày ý kiến đối với lời buộc tội hoặc không phát biểu bất cứ điều gì về lời buộc tội và được trao đổi với luật sư bào chữa do anh ta lựa chọn ngay trước khi tiến hành thẩm vấn ở bất kỳ giai đoạn nào; anh ta sẽ được thông báo có thể yêu cầu thu thập chứng cứ để phục vụ cho bào chữa; việc lấy lời khai phải tạo cơ hội cho người bị buộc tội bác bỏ những lý do nghi ngờ và đưa ra những tình tiết có lợi cho mình.

Thứ hai, đối tượng áp dụng của quyền im lặng là người bị buộc tội

Trong tố tụng hình sự, ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng đại diện cho Nhà nước giải quyết vụ án, còn có sự tham gia của nhiều cá nhân và tổ chức với tư cách người tham gia tố tụng, như người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Những người này cùng tham gia để làm rõ vụ việc và bảo đảm quyền lợi của các bên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Tuy nhiên, trong số các bên tham gia tố tụng, chỉ người bị buộc tội được quyền giữ im lặng.

Quyền im lặng được quy định với mục đích đầu tiên và quan trọng nhất là bảo vệ đối tượng trước sự cáo buộc từ phía nhà nước Do đó, chỉ những người chịu sự cáo buộc từ phía nhà nước mới có quyền giữ im lặng, tức là quyền im lặng chỉ áp dụng cho người bị buộc tội.

Người bị buộc tội là khái niệm chỉ các cá nhân hoặc đối tượng bị các cơ quan nhà nước cáo buộc về việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội Việc cáo buộc phạm tội có thể được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau, như bắt người, giam giữ, hoặc truy tố bị can trước tòa Trong tố tụng, người bị buộc tội và các cơ quan có thẩm quyền đóng vai là hai bên đối lập có chức năng khác nhau Khi đối mặt với cáo buộc từ phía nhà nước, người bị buộc tội thường ở thế yếu hơn Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho họ và đảm bảo tính công bằng trong tố tụng hình sự (TTHS), pháp luật quy định các biện pháp bảo vệ quyền lợi người bị buộc tội và cân bằng quyền lực giữa các bên.

Trong bài viết "Quyền im lặng trong pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và Việt Nam" của Vũ Công Giao và Nguyễn Minh Tâm (2015), đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2015, trang 31, tác giả cho rằng cần có các biện pháp bảo vệ người bị buộc tội, và quyền im lặng là một trong những biện pháp cơ bản được đề xuất để đảm bảo quyền lợi và thủ tục tố tụng công bằng, phù hợp với chuẩn mực của pháp luật quốc tế và áp dụng tại Việt Nam.

Thứ ba, quyền im lặng được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng

Quyền im lặng thường bị hiểu nhầm là chỉ được áp dụng từ khi bị bắt đến khi gặp luật sư, một sự hiểu nhầm có thể bắt nguồn từ cách cảnh sát diễn đạt quyền của người bị bắt trong luật Hoa Kỳ (cảnh báo Miranda)—được phim ảnh và truyền thông thường xuyên nhắc đến Câu cuối cùng của cảnh báo Miranda “Bạn có quyền dừng trả lời bất cứ lúc nào cho đến khi bạn nói chuyện với luật sư” có thể gây ra hiểu nhầm như vậy Tuy nhiên, quyền im lặng là một quyền cơ bản của người bị buộc tội và được áp dụng xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ thời điểm người đó trở thành người bị buộc tội cho đến khi vụ án được giải quyết, không phụ thuộc vào sự hiện diện của luật sư Ngay cả khi có luật sư tham gia với tư cách người bào chữa, quyền im lặng vẫn hiện hữu và có thể được thực hiện Vì vậy, khi quyền im lặng vẫn có hiệu lực thì người bị buộc tội có quyền im lặng trong suốt tố tụng, thậm chí cho tới khi ra trước tòa.

Trong quá trình áp dụng quyền im lặng, một điểm đáng lưu ý là liệu các cơ quan có thẩm quyền có được rút ra những kết luận mang tính bất lợi cho người bị buộc tội từ sự im lặng của họ hay không, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng của quá trình tố tụng Vấn đề này cho thấy sự khác biệt về quan điểm giữa các quốc gia, dẫn đến nhiều quan điểm và thực tiễn khác nhau về cách áp dụng quyền im lặng và mức độ bảo vệ người bị buộc tội trong từng hệ thống tư pháp.

Theo pháp luật ở một số quốc gia như Bắc Ireland, Vương quốc Anh, Singapore và Úc, tòa án có thể chấp nhận những suy luận bất lợi (adverse inference) đối với bị cáo khi họ không cung cấp đầy đủ thông tin cho cảnh sát hoặc cơ quan điều tra Quy định này nhằm đảm bảo tính toàn diện của quá trình điều tra và khuyến khích sự phối hợp từ phía bị cáo, nhưng đồng thời đặt ra thách thức về quyền bào chữa và sự cân bằng giữa quyền tự bảo vệ và nghĩa vụ hợp tác Do đó, trước khi tòa án áp dụng adverse inference, cần làm rõ nguồn gốc và mức độ thiếu hụt thông tin, ngữ cảnh vụ án và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình xét xử.

35 Bùi Tiến Đạt (2015), Quyền giả định vô tội và quyền im lặng: Lý thuyết và thách thức từ thực tiễn,

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 22/2015, tr9

36 Võ Văn Tài, Trịnh Tuấn Anh (2015), chú thích 26, tr41 ghi nhận sự nhắc nhở về khả năng người bị bắt có thể bị suy luận bất lợi 37 Để cảnh báo và bảo vệ quyền của người bị bắt trước khả năng bị suy luận đó, cảnh sát ở Vương quốc Anh đã thay đổi lời cảnh báo thành: 'Anh không phải nói bất cứ điều gì.'

Trong quá trình thẩm vấn, nếu bị cáo không đề cập đến những tình tiết sẽ được dùng làm căn cứ sau này tại Toà, mọi lời nói của bị cáo có thể trở thành chứng cứ; Pháp luật Anh quy định thẩm phán và công tố viên được quyền bình luận, giải thích cho bồi thẩm đoàn về những suy luận bất lợi có thể được đưa ra Tuy nhiên, bị cáo không thể bị kết án chỉ dựa vào sự im lặng của mình; khi sự giải thích từ phía bị cáo là cần thiết, Toà án có thể xem xét sự im lặng trong đánh giá chứng cứ do công tố đưa ra Trong một vụ án có nhiều chứng cứ trực tiếp chống lại bị cáo (độc lập với những suy luận bất lợi từ sự im lặng), bồi thẩm đoàn có thể kết hợp các chứng cứ này với những suy luận hợp pháp để tin chắc bị cáo có tội.

Theo quan điểm của Ủy ban Nhân quyền Liên hiệp quốc, quyền im lặng không cho phép các cơ quan có thẩm quyền suy diễn hay quy kết tội cho người bị buộc tội dựa trên sự im lặng, và im lặng không được coi là bằng chứng tội phạm hay làm giảm hiệu quả bào chữa trong giai đoạn điều tra hoặc tại phiên tòa Quan điểm này nhấn mạnh rằng im lặng không thể được dùng để rút ra kết luận bất lợi và bảo vệ quyền bào chữa của bị cáo trong quá trình tố tụng Theo cùng một khung pháp lý, pháp luật tố tụng Hoa Kỳ không cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng rút ra kết luận mang tính bất lợi từ sự im lặng của người bị buộc tội trước các câu hỏi mang tính cáo buộc trong mọi trường hợp.

Ý nghĩa của quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

37 Ủy ban cải cách pháp luật New South Wales (Úc), Báo cáo số 95: Quyền im lặng (2000), đoạn 2.30 Dẫn theo Lê Huỳnh Tấn Duy, chú thích số 12, tr50

38 Andrew Ligertwood, “Quyền im lặng”, Tạp chí cảnh sát (2006), đoạn 14 Dẫn theo Lê Huỳnh Tấn

Duy, chú thích số 12, tr50

39 Khoản 4 Điều 2 Sắc lệnh về Chứng cứ hình sự Bắc Ireland 1988; Khoản 4 Điều 38 Luật về tư pháp hình sự và trật tự công cộng Anh 1994

Quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự được quy định với mục đích và ý nghĩa đầu tiên là bảo vệ người bị buộc tội Việc ghi nhận và thực thi quyền này bảo đảm sự công bằng trong quá trình điều tra và xét xử, ngăn ngừa ép buộc khai hoặc nhận tội, đồng thời củng cố nguyên tắc suy đoán vô tội và cân bằng quyền lợi giữa Nhà nước và cá nhân bị buộc tội, từ đó góp phần làm rõ tính khách quan của bằng chứng trong tố tụng.

Trong tố tụng hình sự, bị cáo thường ở vị thế yếu trước các cơ quan thẩm quyền và trước những điều tra viên có nhiều công cụ thu thập chứng cứ, quyền che giấu thông tin và trình độ pháp lý hình sự cùng kỹ thuật thẩm vấn sâu sắc Ngược lại, người bị buộc tội thường gặp bất lợi về khả năng chứng minh và thu thập chứng cứ, đồng thời có thể bị giam giữ và cách ly với thế giới bên ngoài, thiếu hiểu biết về pháp luật và chịu áp lực tâm lý, dễ rơi vào những bẫy của điều tra viên Trong hoàn cảnh ấy, họ có xu hướng trình bày lời khai theo gợi ý của điều tra viên, và các chứng cứ nhận được theo cách này có thể bị sử dụng chống lại chính họ sau này.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội trước sự cáo buộc từ các cơ quan có thẩm quyền, pháp luật trao cho họ quyền giữ im lặng khi bị thẩm vấn bởi cơ quan điều tra Đây là một phương thức tự bảo vệ đơn giản nhưng khả thi, phù hợp với mọi trình độ nhận thức pháp luật của người dân trước sự đối mặt với các cán bộ điều tra được đào tạo bài bản về thủ tục và kỹ thuật thẩm vấn Việc quy định quyền im lặng đồng nghĩa với việc tạo cơ hội để người bị buộc tội tự bảo vệ mình và tránh những sai sót từ lời khai ban đầu, nhất là trong những tình huống quyền công dân bị hạn chế Người bị buộc tội hoàn toàn có quyền tự quyết định có khai báo hay giữ im lặng; nếu nhận thấy việc khai báo sẽ mang lại bất lợi cho quá trình tố tụng sau này, họ có thể chọn giữ im lặng.

Lê Quang Thành (2015) trình bày Trao đổi về vấn đề “Quyền im lặng” trong Tố tụng hình sự, bài viết được đăng trên Tạp chí KHGD CSND số 68 và có đường dẫn tham khảo http://pup.edu.vn/index.php/news/Nghien-cuu-Trao-doi/Trao-doi-ve-van-de-Quyen-im-lang-trong-To-tung-hinh-su-248.html.

Vụ liên quan đến Lê Thị Nga cho thấy suy đoán có tội vẫn rất phổ biến trước các câu hỏi của cơ quan tiến hành tố tụng và trong quá trình nhận sự trợ giúp từ luật sư bào chữa Khi ấy, cơ quan có thẩm quyền cần tôn trọng quyết định của người bị buộc tội Đồng thời, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị cáo và quyền im lặng có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hẹp bất bình đẳng, tăng cường tính cân bằng đối trọng giữa các bên trong tố tụng hình sự và góp phần duy trì tính tranh tụng trong lĩnh vực này.

Thứ hai, việc ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động tố tụng hình sự

Quyền im lặng là một biện pháp bảo vệ người bị buộc tội trước sự cáo buộc từ phía nhà nước, đồng thời với vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng, nó cũng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Người bị buộc tội có quyền quyết định trả lời hay giữ im lặng trước các câu hỏi của cơ quan có thẩm quyền và quyết định này phải được tôn trọng; khi họ im lặng, các cơ quan tố tụng không thể dựa vào lời khai để thu thập chứng cứ và buộc phải tìm kiếm các nguồn chứng cứ khác thông qua các hoạt động điều tra như khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, thu thập tài liệu, hỏi nhân chứng, giám định kỹ thuật và các nguồn thông tin khác về nghi phạm Quy định quyền im lặng trong BLTTHS ở mức độ nào đó là thách thức đối với người tiến hành tố tụng, nhưng đây là xu hướng tất yếu của một xã hội tiến bộ, công bằng và văn minh Để vượt qua thách thức này, những người tham gia tố tụng cần tự điều chỉnh nhận thức, nâng cao kiến thức pháp luật và trình độ nghiệp vụ; như vậy, hoạt động của các cơ quan tố tụng sẽ tích cực hơn, có cơ sở và chắc chắn hơn.

45 Lê Huỳnh Tấn Duy, Chú thích số 12, tr56

Quyền im lặng được quy định rõ trong pháp luật tố tụng hình sự là công cụ quan trọng để ngăn ngừa oan sai, bức cung và các vi phạm tố tụng của những người tham gia tố tụng Khi đứng trước sự cáo buộc về tội phạm, người bị buộc tội dễ rơi vào hoảng loạn và xáo trộn tâm lý, dễ bị mớm cung, bức cung hoặc nhục hình, từ đó dẫn tới oan sai Để khắc phục tình trạng này, người bị buộc tội có thể thực hiện quyền giữ im lặng của mình Một trong những đòi hỏi của việc áp dụng quyền im lặng là các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo, giải thích quyền cho người bị buộc tội Khi người bị buộc tội hiểu rõ quyền lợi của mình, họ sẽ đưa ra những quyết định phù hợp.

Quyền im lặng của người bị buộc tội là cơ sở để thực hiện thống nhất và đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, đặc biệt là nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền được có người bào chữa cho người bị buộc tội và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án Việc nhận diện và bảo vệ quyền im lặng giúp cân bằng quyền và nghĩa vụ trong quá trình điều tra và xét xử, tăng cường tính công bằng và minh bạch của tố tụng hình sự đồng thời góp phần làm rõ đúng bản chất sự thật của vụ án.

Như đã trình bày, quyền im lặng gắn với các nguyên tắc cơ bản của TTHS, đặc biệt là nguyên tắc suy đoán vô tội Việc ghi nhận và thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội cũng như nguyên tắc xác định trách nhiệm chứng minh thuộc về nhà nước đã tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành quyền im lặng của người bị buộc tội Ngược lại, việc ghi nhận và thực hiện quyền im lặng là bước cụ thể hóa và bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án Bên cạnh đó, quyền im lặng có quan hệ khăng khít với quyền có người bào chữa và quyền im lặng chỉ được thực hiện khi quyền có người bào chữa của người bị buộc tội được tôn trọng, bảo đảm, và ngược lại.

Trong Chương 1, tác giả làm rõ các vấn đề lý thuyết cơ bản về quyền im lặng của người bị buộc tội Tư tưởng này hình thành từ thế kỷ XVI ở Anh như một phản ứng của công chúng trước cách thức tra hỏi của Toà án thời đó Tuy nhiên, quyền im lặng mới thực sự có ý nghĩa thực tế khi xuất hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, tiêu chuẩn đánh giá chứng cứ vượt quá sự nghi ngờ hợp lý và sự hoạt động hiệu quả của người bào chữa trong tố tụng, qua đó các quy định về quyền im lặng được thực thi và bảo vệ hiệu quả hơn.

Quyền im lặng đã được thừa nhận rộng rãi và ghi nhận trong cả văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia Quyền này dựa trên nền tảng quyền được xét xử công bằng, quyền được suy đoán vô tội và trách nhiệm chứng minh thuộc về nhà nước trong các vụ án hình sự Là một trong những bảo đảm cơ bản của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, quyền im lặng có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn bức cung và nhục hình khi lấy lời khai, đồng thời góp phần đảm bảo sự cân bằng và đối trọng giữa các bên trong quá trình tố tụng, vì người bị buộc tội thường ở vị thế yếu hơn so với các cơ quan có thẩm quyền.

QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT THẾ GIỚI

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ban hành ngày 02/01/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
1. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013, ban hành ngày 28/11/2013 Khác
2. Bộ luật Hình sự 2015 (Luật số: Số: 100/2015/QH13), ban hành ngày 27/11/2015 (sửa đổi bởi Luật số: 12/2017/QH14) Khác
3. Bộ luật Tố tụng hình sự (Luật số: 101/2015/QH13), ban hành ngày 27/11/2015 Khác
5. Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 2/6/2005 Khác
6. Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights) 1966 Khác
7. Công ước về các quyền của trẻ em (Convention on the Rights of the Child)1989 Khác
8. Công ước châu Âu về Nhân quyền (European Convention on Human Rights) Khác
9. Công ước châu Mỹ về Nhân quyền (American Convention on Human Rights) Khác
10. Quy chế Rome ((Rome Statue) của Toà án Hình sự Quốc tế 1998 Khác
11. Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ (The Constitution of the United States of America) 1787 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w