1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho việt nam

105 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: KHUNG PHÁP LÝ CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ TƯ PHÁP HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ BUỘC TỘI (13)
    • 1.1. Khái quát về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Liên hợp quốc (13)
      • 1.1.1. Khái niệm tư pháp hình sự người chưa thành niên (13)
      • 1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển tư pháp hình sự người chưa thành niên của Liên hợp quốc (14)
      • 1.1.3. Mục đích của Liên hợp quốc khi xây dựng mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên (18)
      • 1.1.4. Các văn bản pháp lý về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Liên hợp quốc (19)
    • 1.2. Quy định của Liên hợp quốc về nguyên tắc tiến hành tố tụng và một số quyền tố tụng đặc trưng của người chưa thành niên bị buộc tội (22)
      • 1.2.1. Nguyên tắc tiến hành tố tụng (23)
      • 1.2.2. Một số quyền tố tụng đặc trưng (27)
    • 1.3. Những yếu tố cần thiết khác cho việc áp dụng có hiệu quả thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên bị buộc tội (35)
      • 1.3.1. Cơ quan, người tiến hành tố tụng chuyên trách (35)
      • 1.3.2. Những dịch vụ hỗ trợ (37)
    • CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THÁI LAN VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA, XÉT XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ BUỘC TỘI (40)
      • 2.1. Mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của Thái Lan (40)
        • 2.1.1. Khái niệm người chưa thành niên theo pháp luật Thái Lan (40)
        • 2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển tư pháp hình sự người chưa thành niên của Thái Lan (41)
        • 2.1.3. Khung pháp lý về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Thái Lan (43)
        • 2.1.4. Cơ quan, người tiến hành tố tụng chuyên trách và những dịch vụ hỗ trợ (44)
      • 2.2. Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên bị buộc tội trong giai đoạn điều tra (52)
        • 2.2.1. Những quyền tố tụng đặc thù của người chưa thành niên bị buộc tội trong (52)
        • 2.2.2. Thủ tục điều tra (53)
        • 2.2.3. Họp gia đình và cộng đồng (57)
      • 2.3. Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên bị buộc tội trong giai đoạn xét xử (58)
        • 2.3.1. Tòa gia đình và người chưa thành niên (58)
        • 2.3.2. Thẩm quyền xét xử (58)
        • 2.3.3. Thủ tục xét xử (59)
    • CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA, XÉT XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (63)
      • 3.1. Giới thiệu chung về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam (63)
        • 3.1.1. Khung pháp lý về tư pháp hình sự người chưa thành niên qua các giai đoạn lịch sử (63)
        • 3.1.2. Định hướng chung về mô hình tố tụng hình sự thân thiện đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi theo tinh thần cải cách tư pháp (65)
      • 3.2. Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều (66)
        • 3.2.1. Những quy định chung (66)
          • 3.2.1.1. Nguyên tắc tiến hành tố tụng (66)
          • 3.2.1.2. Người tiến hành tố tụng (69)
          • 3.2.1.3. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (70)
          • 3.2.1.4. Biện pháp giám sát, giáo dục (71)
          • 3.2.2.2. Mô hình phòng điều tra thân thiện (74)
        • 3.2.3. Quy định đặc thù về thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi (75)
          • 3.2.3.1. Tòa gia đình và người chưa thành niên (75)
          • 3.2.3.2. Trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên toà (80)
      • 3.3. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi tại Việt Nam (82)
        • 3.3.1. Tình hình người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật (82)
        • 3.3.2. Hạn chế, bất cập của hoạt động điều tra, xét xử người dưới 18 tuổi trong thực tiễn và những nguyên nhân (85)
      • 3.4. Kiến nghị hoàn thiện thủ tục điều tra, xét xử đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội (87)
        • 3.4.1. Kiến nghị về phương diện lập pháp (87)
          • 3.4.1.1. Kiến nghị chung (87)
          • 3.4.1.2. Kiến nghị về thủ tục điều tra (92)
          • 3.4.1.3. Kiến nghị về thủ tục xét xử (93)
        • 3.4.2. Các kiến nghị khác (96)

Nội dung

Lê Huỳnh Tấn Duy được đăng trên các tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý từ năm 2013 đến năm 2017, chủ yếu liên quan đến việc cần xây dựng một mô hình tố tụng hình sự thân thiện đối với

KHUNG PHÁP LÝ CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ TƯ PHÁP HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ BUỘC TỘI

Khái quát về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Liên hợp quốc

1.1.1 Khái ni ệ m t ư pháp hình s ự ng ườ i ch ư a thành niên Để hiểu được khái niệm “tư pháp hình sự người chưa thành niên” (juvenile criminal justice) thì trước hết cần đề cập đến khái niệm “người chưa thành niên” (juvenile) và tư pháp người chưa thành niên (juvenile justice) Theo đó thì “người chưa thành niên” là một thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau trong các văn bản pháp lý của Liên hợp quốc (LHQ) Nếu Điều 2.2 (a) của Quy tắc Bắc Kinh 1 quy định “người chưa thành niên” là trẻ em (child) hay thanh thiếu niên (young person) thì Điều 1 Công ước về Quyền trẻ em 2 lại định nghĩa: “Trẻ em là những người dưới

18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Xét về mốc thời gian, Quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng LHQ thông qua vào ngày 29/11/1985, trước 04 năm so với Công ước về quyền trẻ em Do đó, có thể nói Quy tắc Bắc kinh đã đóng góp to lớn vào sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến việc quản lý tư pháp đối với người CTN, trong đó có nhiều quy định quan trọng được chuẩn hóa trong Công ước về quyền trẻ em Tuy nhiên, thuật ngữ “người chưa thành niên” lại không được quy định thống nhất trong hai cơ sở pháp lý quan trọng này Tiếp tục nghiên cứu Điều 11(a) trong văn bản

“Những quy tắc của LHQ về việc bảo vệ người CTN bị tước quyền tự do 1990 (Quy tắc Havana)” thì người CTN được định nghĩa là người dưới 18 tuổi Ở đây, thuật ngữ “người chưa thành niên” lại tương đồng với thuật ngữ “trẻ em” trong Công ước về quyền trẻ em Ngoài ra, Công ước về quyền dân sự và chính trị năm

1966 (ICCPR) cũng khẳng định rằng “tất cả người dưới 18 tuổi nên được xử lý như người chưa thành niên” 3 Vì thế, có thể tóm lại, trong tư pháp hình sự, “người chưa thành niên” nên được hiểu là người dưới 18 tuổi

Vận dụng những quy định có tính hướng dẫn của LHQ trong Quy tắc Bắc Kinh, có thể hiểu: Tư pháp người CTN là một bộ phận của nền tư pháp quốc gia

1 Đại hội đồng LHQ (1985), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về áp dụng pháp luật đối với người CTN, được thông qua ngày 29/11/1985 (Quy tắc Bắc Kinh)

2 Đại hội đồng LHQ (1989), Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC), được thông qua ngày 20/11/1989

3 Ủy ban Quyền con người, bình luận chung số 21 (1992): Thay thế bình luận chung số 9 liên quan đến việc xử lý những người bị tước quyền tự do (Điều 10), 44 th sess, 10/4/1992, đoạn 13 dành riêng cho người CTN vi phạm pháp luật, bao gồm những quy định pháp luật, những tiêu chuẩn, quy tắc được vận hành bởi sự phối hợp một cách có hệ thống của các cơ quan thực thi pháp luật và đội ngũ những người tham gia vào các hoạt động tư pháp, từ đó góp phần bảo vệ thế hệ trẻ và duy trì trật tự, yên bình cho xã hội 4 Từ định nghĩa này, hệ thống tư pháp người CTN sẽ bao gồm:

- Hệ thống các văn bản pháp luật, những quy tắc, quy định áp dụng riêng đối với người CTN phạm tội, làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động tư pháp đối với người CTN 5

- Các cơ quan, tổ chức được giao phó chức năng áp dụng tư pháp đối với người CTN bao gồm các cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức khác đặc trách về người CTN 6

- Đội ngũ cán bộ, viên chức tư pháp hoặc những người mà theo trách nhiệm nghề nghiệp đang tham gia vào hoạt động giáo dục, phòng ngừa, xử lý người CTN vi phạm pháp luật như: công an, công tố viên, thẩm phán, luật sư, nhân viên hành chính, cán bộ trại giam, nhân viên y tế, nhân viên xã hội,… 7

Từ khái niệm tư pháp người chưa thành niên ở trên có thể suy ra khái niệm tư pháp hình sự người chưa thành niên là một bộ phận của nền tư pháp quốc gia dành riêng cho người CTN vi phạm pháp luật hình s ự , bao gồm những quy định pháp luật, những tiêu chuẩn, quy tắc được vận hành bởi sự phối hợp một cách có hệ thống của các cơ quan thực thi pháp luật và đội ngũ những người tham gia vào các hoạt động tư pháp hình s ự , từ đó góp phần bảo vệ thế hệ trẻ và duy trì trật tự, yên bình cho xã hội

1.1.2 L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n t ư pháp hình s ự ng ườ i ch ư a thành niên c ủ a Liên h ợ p qu ố c

Lịch sử về tư pháp hình sự đối với người CTN, đặc biệt là thủ tục tố tụng hình sự đối với người CTN bị buộc tội xuất phát từ nền tảng về quyền của trẻ em, đã được các quốc gia xây dựng từ giữa thế kỷ 19 8 Vào thời điểm này, ý tưởng về việc bảo vệ trẻ em và xây dựng các quyền pháp lý đối với trẻ em được hình thành đầu

4 Quy tắc Bắc Kinh, Điều 1.4, 1.6 và phần bình luận

5 Quy tắc Bắc Kinh, Điều 2.3

6 Quy tắc Bắc Kinh, Điều 2.3

7 Hội đồng kinh tế và xã hội (1997), Những hướng dẫn hành động đối với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự, đoạn 24

8 Humanium, Lịch sử quyền trẻ em – Tổng quan về sự phát triển của quyền trẻ em, nguồn: http://www.humanium.org/en/childrens-rights-history/, truy cập ngày 25/12/2017 tiên ở Pháp Năm 1841, luật pháp nước này đã có những quy định về việc bảo vệ trẻ em ở nơi làm việc của chúng và sau đó quyền được giáo dục của trẻ em được hình thành vào năm 1881 Đầu thế kỷ 20, việc bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực y tế, xã hội và tư pháp được đưa ra bàn luận ở Pháp và lan rộng sang các quốc gia Châu Âu Sau khi thành lập Liên minh các quốc gia (sau này gọi là LHQ – UN), Cộng đồng quốc tế đã bắt đầu đệ trình một vài vấn đề quan trọng về việc bảo vệ trẻ em và lập nên Ủy ban bảo vệ trẻ em vào năm 1919 Năm năm sau, Liên minh các quốc gia này đã thông qua “Tuyên bố Geneva” Đây là điều ước quốc tế đầu tiên liên quan đến các quyền của trẻ em Tuyên bố này có 5 chương, bao gồm các quyền cơ bản của trẻ em và trách nhiệm của người lớn trong việc giáo dục và nuôi dưỡng những trẻ em này nhưng lại không quy định những ràng buộc về mặt pháp lý Để khắc phục những thiếu xót của “Tuyên bố Geneva”, năm 1959, LHQ đã một lần nữa thông qua

“Tuyên bố về quyền trẻ em”, nêu bật 10 nguyên tắc có tính bắt buộc đối với các quốc gia thành viên Ba mươi năm sau, vào ngày 20/11/1989, Công ước quốc tế về quyền trẻ em chính thức được Đại hội đồng LHQ thông qua Từ công ước này, các vấn đề về trẻ em được đặc biệt quan tâm

Thật ra từ năm 1947, vấn đề trẻ em, thanh niên và tội phạm luôn được đặt lên hàng đầu trong các chương trình của LHQ về phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự Những hoạt động trợ giúp kỹ thuật trong lĩnh vực phúc lợi và quản lý phúc lợi trẻ em liên tục được tiến hành trên thực tế theo chương trình của Ban thư ký Đến cuối năm 1948, những chương trình này được mở rộng sang tất cả các lĩnh vực khác dưới sự ủy thác của Ủy ban xã hội 9 Thậm chí chúng còn được thực hiện ngay cả trước khi Đại Hội đồng LHQ thông qua các nghị quyết về việc xây dựng những hỗ trợ kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế (Nghị quyết số 200 (III) vào ngày 4/12/1948), lĩnh vực hành chính công (Nghị quyết 246 (III) vào tháng 4/12/1948), và phúc lợi xã hội (Nghị quyết 418 (V) vào 1/12/1950) Do đó, có thể khẳng định các chương trình về tội phạm của LHQ không chỉ là những hỗ trợ kỹ thuật quan trọng mà còn là tiền thân trong việc thúc đẩy vai trò quan trọng của những phúc lợi trẻ em, góp phần duy trì và tăng cường sự phát triển của các thế hệ tiếp nối

Mặc dù đã có nhiều chủ đề được thay đổi từ năm 1955, nhưng những hội nghị của LHQ về phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự vẫn nhiều lần đề cập đến những nghiên cứu cũng như đưa ra nhiều nguyên nhân và hậu quả của tội phạm do

Quy định của Liên hợp quốc về nguyên tắc tiến hành tố tụng và một số quyền tố tụng đặc trưng của người chưa thành niên bị buộc tội

Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống tư pháp đối với người CTN bị buộc tội, LHQ luôn nỗ lực trong việc đem tính chất thân thiện vào trong những quy định pháp luật Việc lồng ghép này hướng đến hai mục đích chính, một là đảm bảo những quyền cơ bản của người CTN và hai là giảm thiểu tối đa những tổn thương mà các em gặp phải khi tham gia vào quá trình tố tụng Từ đó từng bước giải quyết các vấn đề trong việc xử lý tội phạm do người CTN thực hiện hơn là đưa ra một danh sách dài các vấn đề và kiến nghị các giải pháp mang tầm vĩ mô Theo đó thì những quy định của LHQ về một nền tư pháp hình sự thân thiện đối với người CTN tập trung vào các khía cạnh: Nguyên tắc tiến hành tố tụng; một số quyền cơ bản của người CTN bị buộc tội trong quá trình tố tụng; những yếu tố cần thiết khác cho việc áp dụng có hiệu quả thủ tục tố tụng hình sự đối với người CTN bị buộc tội, bao gồm cơ quan, người tiến hành tố tụng chuyên trách và những dịch vụ hỗ trợ

Quyền của người CTN chỉ được đảm bảo thực hiện tốt nhất khi các yếu tố tác động đến việc đảm bảo này được xây dựng một cách phù hợp, hài hòa và có cơ chế đảm bảo thực hiện Trong đó, việc xây dựng một hệ thống các nguyên tắc cơ bản để xử lý người CTN phạm tội đóng vai trò đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, LHQ không có quy định về các nguyên tắc tiến hành tố tụng riêng đối với tư pháp hình sự người CTN mà chỉ đề cập đến hệ thống các nguyên tắc này trong Bình luận chung số 10, và đây được xem như các nguyên tắc dẫn đầu khi xây dựng chính sách toàn diện về tư pháp người CTN Các nguyên tắc này cũng góp phần đảm bảo sự cân bằng giữa những quyền cơ bản của người CTN bị buộc tội và việc xử lý một cách có hiệu quả những vụ án hình sự liên quan đến người CTN, có tính đến lợi ích của cộng đồng và xã hội Đoạn 5 của văn bản này quy định: “Trong việc quản lý tư pháp người CTN, các quốc gia thành viên phải áp dụng một cách có hệ thống những nguyên tắc chung được chứa đựng trong Điều 2, 3, 6 và 12 của Công ước về quyền trẻ em cũng như những nguyên tắc nền tảng của tư pháp người CTN được quy định tại Điều 37 và 40 của Công ước này” Từ đó có thể thấy 4 nguyên tắc cơ bản được đề cập bao gồm: nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc đảm bảo lợi ích tốt nhất của người CTN; nguyên tắc đảm bảo quyền được sống, tồn tại và phát triển; nguyên tắc đảm bảo quyền được lắng nghe và biểu đạt quan điểm của người CTN Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ trình bày ba nguyên tắc đặc trưng liên quan trực tiếp đến quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự có người bị buộc tội là người CTN, bao gồm:

Nguyên tắc không phân biệt đối xử (The nondiscrimination principle)

Khoản 1 Điều 2 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 có quy định: “Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và đảm bảo những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với mỗi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất kỳ một sự phân biệt đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia, hay xã hội, xuất thân gia đình, hay tình trạng khuyết tật cùng những mối tương quan khác” Theo đó thì các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng tất cả những đứa trẻ vi phạm pháp luật đều được đối xử bình đẳng 26 Nguyên tắc này không chỉ được áp dụng để ngăn chặn bất kỳ hành vi phân biệt đối

26 Ủy ban quyền trẻ em (2007), Bình luận chung số 10: Các quyền của trẻ em trong tư pháp người CTN, 44 th sess, UN Doc CRC/C/GC/10 (25/04/2007), đoạn 6 xử nào trong quá trình tố tụng mà còn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người bị buộc tội CTN Trong trường hợp đứa trẻ tham gia trở lại vào môi trường giáo dục và lao động thì cần có những biện pháp cần thiết và hữu hiệu để ngăn chặn sự tách biệt của cộng đồng đối với người bị buộc tội bằng cách cung cấp những hỗ trợ thích hợp đến quá trình tái hòa nhập và có những chiến dịch cộng đồng nhấn mạnh đến quyền của người CTN trong việc đóng góp một vai trò quan trọng để xây dựng xã hội 27

Ngoài ra, nguyên tắc không phân biệt đối xử còn hướng đến sự công bằng trong việc áp dụng hình phạt đối với người CTN thực hiện hành vi phạm tội Nếu một hành vi không bị coi là tội phạm hay bị áp dụng hình phạt nếu nó được thực hiện bởi một người thành niên thì cũng không bị coi là tội phạm hay chịu chế tài hình sự nếu hành vi đó được thực hiện bởi một người CTN 28 Điều này góp phần ngăn chặn sự kỳ thị, đối xử tàn nhẫn và hình sự hóa những người trẻ phạm tội

Do đó có thể thấy nguyên tắc không phân biệt đối xử là một nguyên tắc nền tảng để xây dựng các nguyên tắc còn lại cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chính sách, đào tạo những người tiến hành tố tụng chuyên trách, các dịch vụ hỗ trợ pháp lý trong tư pháp người CTN Từ đó góp phần xây dựng hệ thống tư pháp hình sự thân thiện trong quá trình tiến hành tố tụng và ít nhiều giúp đỡ quá trình tái hòa nhập cộng đồng của những đối tượng là người CTN phạm tội

Nguyên tắc đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em trong tư pháp người CTN (The best interests principle)

Khái niệm “lợi ích tốt nhất của trẻ em” không mới vì trước đây đã được đề cập trong “Tuyên bố về quyền trẻ em” năm 1959 (đoạn 2) và Công ước về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979 (Điều 5b và điểm d khoản

1 Điều 16) cũng như những văn bản pháp luật trong khu vực, trong luật quốc gia và luật quốc tế 29 Đây được xem là nguyên tắc quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng một nền tư pháp hình sự thân thiện đối với người CTN thực hiện tội phạm Bởi suy cho cùng, dù cho CQTHTT có chuyên nghiệp đến đâu, các dịch vụ

27 Bình luận chung số 10, đoạn 7

29 Công ước về quyền dấn sự và chính trị năm 1966, Điều 14.4 quy định: “Trong vụ án có người CTN, thủ tục tố tụng áp dụng đối với họ phải tính đến độ tuổi của họ và mong muốn tái hòa nhập cộng đồng”

Quy tắc Bắc kinh, Điều 5.1 quy định: “Áp dụng tư pháp đối với người CTN cần chú trọng đến phúc lợi của người CTN, và phải bảo đảm rằng bất cứ việc xét xử nào đối với người CTN phạm tội phải luôn xem xét hoàn cảnh của người phạm tội cũng như hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội”

Quy tắc Bắc kinh, Điều 17.1d quy định: “Lợi ích của người CTN phải là yếu tố hàng đầu trong việc xem xét vụ việc liên quan đến đối tượng này” hỗ trợ có tốt đến mấy, việc áp dụng các biện pháp xử lý luôn đề cao tính nhân đạo nhưng toàn bộ cơ chế áp dụng này không hướng đến mục đích bảo đảm những lợi ích tốt nhất của người CTN thì tất cả đều không có giá trị Do đó mà Điều 3 của Luật mẫu về Tư pháp người CTN năm 2013 đã quy định: “Quyền lợi tốt nhất của trẻ em cần được cân nhắc là quan trọng hơn cả khi đưa ra bất cứ hành động hay quyết định nào theo luật này” Hay nói cách khác, nguyên tắc: “Lợi ích tốt nhất của trẻ em” hướng đến mục đích chính là đảm bảo việc sử dụng một cách hiệu quả và đầy đủ tất cả quyền của trẻ em được quy định trong Công ước về quyền trẻ em cũng như đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ về thể chất, tinh thần, đạo đức, tâm lý và xã hội 30

Tại Điều 3 của Công ước về quyền trẻ em cũng khẳng định rõ: “Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, tòa án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” Điều này có nghĩa rằng ba nhánh cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp được yêu cầu để áp dụng nguyên tắc “lợi ích tốt nhất” bằng việc cân nhắc một cách có hệ thống thế nào là quyền và lợi ích của người CTN Từ đó xem xét những quyết định và hành vi tố tụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến những quyền này thế nào Nói đúng hơn thì nguyên tắc “Lợi ích tốt nhất của trẻ em” khi được xây dựng và áp dụng phải đảm bảo ba thuộc tính: Một là, phải được xem là quyền cơ bản, nghĩa là luôn phải được cân nhắc đầu tiên bất kể khi nào một hành động hay một quyết định liên quan đến người CTN được đặt ra Hai là, nguyên tắc này được xem như một nguyên tắc pháp lý nền tảng, nghĩa là nếu một nguyên tắc pháp lý được hiểu theo nhiều cách khác nhau thì phải lựa chọn cách giải thích hiệu quả nhất liên quan đến quyền lợi tốt nhất của người CTN Cuối cùng, đây phải được xem như một quy tắc trong thủ tục áp dụng, nghĩa là việc cân nhắc lợi ích tốt nhất của người CTN cũng phải được đảm bảo về mặt thủ tục áp dụng, có sự đánh giá tác động tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết vụ án 31 Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có một số hạn chế nhất

30 Ủy ban quyền trẻ em (2003), Bình luận chung số 4: Sức khỏe và sự phát triển của người CTN theo quy định của Công ước quyền trẻ em, 33 th sess, UN Doc, CRC/GC/2003/4, 01/07/2003, đoạn 4 phần IA Ủy ban quyền trẻ em (2003), Bình luận chung số 5: Những giải pháp chung trong việc thực hiện Công ước quyền trẻ em, 34 th sess, UN Doc, CRC/GC/2003/5, 27/11/2003, đoạn 12

31 Ủy ban quyền trẻ em (2013), Bình luận chung số 14: Quyền được đảm bảo lợi ích tốt nhất của người CTN phải được cân nhắc đầu tiên, 62 th sess, UN Doc, CRC/C/GC/14, 29/05/2013, đoạn 6 phần IA định khi việc đảm bảo lợi ích tốt nhất của người CTN phải trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của cộng đồng và xã hội 32

Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do biểu đạt quan điểm và được lắng nghe của người chưa thành niên (Advancing the right of the child to express his or her view freely and to be heard principle)

Những yếu tố cần thiết khác cho việc áp dụng có hiệu quả thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên bị buộc tội

1.3.1 C ơ quan, ng ườ i ti ế n hành t ố t ụ ng chuyên trách Để quyền của người CTN được đảm bảo thực hiện trong suốt quá trình tố tụng thì việc thành lập các cơ quan và người tiến hành tố tụng chuyên trách đóng một vai trò quan trọng để vận hành các quy tắc, đáp ứng những chuẩn mực của LHQ liên quan đến người bị buộc tội CTN Ủy ban LHQ về quyền trẻ em đã đặt ra nhiệm vụ cho các quốc gia thành viên để tìm cách thúc đẩy việc thiết lập các thể chế chuyên biệt đối với trẻ em 64 Đặc biệt dành sự quan tâm trong việc khuyến nghị các quốc gia thành viên thành lập Tòa án người CTN như một cơ quan độc lập hoặc là một bộ phận của tòa án cấp khu vực (regional)/ cấp quận (district) 65 Nếu không thể thành lập trên thực tiễn thì có thể bố trí một phòng xử án (roomcourt) ngay trong tòa án cấp khu vực đó và phải đảm bảo bổ nhiệm những thẩm phán được đào tạo chuyên trách (specialized judges) để tham gia xử lý người CTN thực hiện tội phạm 66 Họ phải độc lập và không bị can thiệp bởi ban quản lý của tòa án cũng như được tham gia những khóa huấn luyện chuyên sâu về một số vấn đề như: nguyên nhân xã hội và những nguyên nhân khác dẫn đến hành vi phạm pháp của người CTN; sự phát triển về tâm lý cũng như những khía cạnh khác ảnh hưởng đến sự phát triển của người CTN; đặc biệt quan tâm đến người CTN là nữ hoặc người CTN thuộc dân tộc thiểu số và người bản địa; về văn hóa và xu hướng của giới trẻ trên thế giới; những biện pháp xử lý người CTN phạm tội, đặc biệt là những biện pháp

63 Bình luận chung số 10, đoạn 65, 66

Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 44

64 Công ước về quyền trẻ em, khoản 3 Điều 40 quy định những thể chế đặc biệt đối với trẻ em có thể bao gồm: các đạo luật, thủ tục, các CQTHTT, các tổ chức chuyên trách

65 Bình luận chung số 10, đoạn 93

66 Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 5 (phần bình luận),

Bình luận chung số 10, đoạn 93 xử lý không cần đến thủ tục tố tụng hình sự 67 Khóa huấn luyện này nên bao gồm cả việc cung cấp những kiến thức về chống phân biệt chủng tộc và các vấn đề đa văn hóa 68

Hệ thống tư pháp người CTN không chỉ đơn thuần bao gồm Tòa án người CTN mà còn cả hệ thống CQĐT và VKS chuyên trách đối với người CTN, đặc biệt là các đơn vị cảnh sát chuyên trách tại các thành phố lớn 69 Và cũng theo Luật mẫu về tư pháp người CTN năm 2013, các cơ quan này cần được thành lập trong mỗi hệ thống Tòa án quận hay khu vực Trong trường hợp vì lý do thực tiễn mà những cơ quan này không được thành lập thì một Công tố viên hay một nhân viên cảnh sát phải được bổ nhiệm để tiếp cận và tham gia xử lý người CTN 70 Bên cạnh đó, với tư cách là những đại diện của CQTHTT có cơ hội tiếp xúc nhiều với người CTN trong quá trình giải quyết vụ án tiền xét xử, những nhân viên cảnh sát này cần được tham gia vào những khóa huấn luyện đặc biệt chú trọng đến kỹ năng giao tiếp với người CTN 71

Bên cạnh các Thẩm phán, Công tố viên, nhân viên cảnh sát thì yêu cầu về tính chuyên trách còn đặt ra với những người tiếp xúc, chịu trách nhiệm đối với người CTN trong hệ thống tư pháp hình sự bao gồm: luật sư, nhân viên hành chính, cán bộ trại giam, nhân viên y tế, nhân viên xã hội,… Những chủ thể này cần được giáo dục và đào tạo một cách có hệ thống và thường xuyên về quyền con người; các nguyên tắc và quy định của Công ước quyền trẻ em; những tiêu chuẩn, hướng dẫn khác của LHQ về tư pháp người CTN 72 Ủy ban về quyền trẻ em cũng đã nhấn mạnh rằng

“chất lượng” của những người có liên quan trong hệ thống tư pháp người CTN đóng

67 Bình luận chung số 10, đoạn 97

Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 18 quy định những phương pháp xử lý không cần thông qua thủ tục tố tụng hình sự có thể bao gồm:

- Những chương trình tư pháp phục hồi như hòa giải giữa người bị buộc tội và nạn nhân của tội phạm, hội nghị gia đình, các chương trình công tác xã hội

- Những cảnh báo bằng lời nói

- Những cảnh báo chính thức bằng văn bản

- Dịch vụ tư vấn cho người CTN và gia đình

68 Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 5 (phần bình luận)

69 Quy tắc Bắc kinh, Điều 12, 22 (phần bình luận): Trong khi mối quan hệ giữa vấn đề đô thị hóa ở các thành phố lớn diễn ra một cách nhanh chóng, không có kế hoạch và tình hình tội phạm trở nên phức tạp, thì tình hình người CTN phạm tội cũng tăng lên một cách đáng kể Vì vậy, những đơn vị cảnh sát chuyên trách đóng vai trò quan trọng, không chỉ vì mục đích thực hiện những nguyên tắc cụ thể trong văn bản này, mà còn hướng đến mục đích lớn hơn là cải thiện việc ngăn ngừa và kiểm soát tội phạm cũng như xử lý người CTN phạm tội

70 Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 6, 7

71 Luật mẫu về tư pháp người CTN, Điều 6 (phần bình luận)

72 Hội đồng kinh tế và xã hội (1997), Những hướng dẫn hành động đối với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự, đoạn 24 một vai trò quan trọng trong việc quyết định quyền của người CTN có được thực thi đúng đắn và hiệu quả hay không 73

Do đó, có thể nói một hệ thống tư pháp người CTN toàn diện theo định hướng của LHQ phải được đảm bảo bởi hệ thống các CQTHTT chuyên trách Đồng thời, để phù hợp với hệ thống chuyên trách đó, cần có hệ thống thủ tục tư pháp đặc biệt thể hiện đầy đủ các yêu cầu của chính sách hình sự, tính nhân đạo, mục đích tố tụng và các đặc điểm tâm sinh lý cũng như xã hội của người CTN Chỉ những người được đào tạo chuyên biệt mới có thể tiến hành tố tụng, tham gia hoạt động tố tụng hiệu quả Bởi nếu những quyền lợi cơ bản cho người CTN không được đảm bảo thì làm sao có thể mong muốn người CTN tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người khác Tuy nhiên, bên cạnh việc thành lập nên những CQTHTT chuyên trách thì cũng cần phải có sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan này Do trên thực tế, hệ thống tư pháp người CTN là một sự pha trộn và chồng chéo phức tạp của nhiều hệ thống Người CTN vi phạm pháp luật trải qua nhiều quá trình khác nhau, tiếp xúc với các cán bộ, nhân viên của các cơ quan, ban ngành khác nhau Tất cả cơ quan này đều tương đối độc lập với các chức năng, nhiệm vụ, quy chế và ưu tiên riêng Nên để thúc đẩy một hệ thống tư pháp người CTN toàn diện cần có sự hợp tác và phối hợp giữa tất cả các nguồn lực này

Một số dịch vụ hỗ trợ cho người CTN phạm tội được cung cấp cho họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự bao gồm: quản chế, tư vấn, bào chữa, giám sát và phải được vận hành trong sự phối hợp với các dịch vụ trợ giúp pháp lý chuyên biệt khác như các cơ sở chăm sóc, điều trị trẻ em phạm tội 74 Ngoài ra, trong hệ thống tư pháp người CTN, sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ sở, dịch vụ này nên được thực hiện liên tục và lâu dài Các dịch vụ trợ giúp khác cũng có thể kể đến như dịch vụ hỗ trợ chỗ ở, giáo dục, đào tạo nghề, tạo việc làm hay bất kỳ sự hỗ trợ nào khác mang tính hữu ích và thiết thực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người CTN 75 Song song với đó thì các tình nguyện viên, các tổ chức tình nguyện, các tổ chức ở địa phương và những nguồn lực cộng đồng

73 Bình luận chung số 10, đoạn 40

74 Hội đồng kinh tế và xã hội (2012), Những nguyên tắc và hướng dẫn của LHQ về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong tư pháp hình sự, tài liệu chuẩn bị trong cuộc họp ở Vienna với chủ đề “Phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự, đoạn 45, 46, 47

75 Quy tắc Bắc kinh, điều 24 khác nên được kêu gọi để đóng góp có hiệu quả vào việc sớm đưa các em trở về với gia đình và xã hội 76

Tổ chức cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý (legal aid service providers) có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức như những tổ chức phi chính phủ, các tổ chức từ thiện cộng đồng, các tổ chức từ thiện tôn giáo và phi tôn giáo, các tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội và học viện 77 Đặc biệt, những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý trong những tổ chức này phải có trình độ học vấn và được đào tạo, huấn luyện những kinh nghiệm và kỹ năng tương xứng với công việc của họ, bao gồm các nhóm chủ đề liên quan đến các mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, quyền và nhu cầu của phụ nữ và trẻ em, cũng như những nhóm nhu cầu đặc biệt 78 Tuy vậy, nhu cầu cần trợ giúp pháp lý trong xã hội là rất lớn, nhân lực để thực hiện nhiệm vụ này vẫn còn thiếu Vì thế LHQ đã đề nghị các quốc gia thành viên nên khuyến khích sự đóng góp của các hiệp hội luật sư, các trường đại học, các tổ chức khác trong việc cung cấp những dịch vụ hỗ trợ pháp lý Trong đó, các trường đại học về luật được xem là những tổ chức tiềm năng nhất trong việc cung cấp nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý Các quốc gia thành viên nên có nhiều biện pháp và xây dựng nên các quy tắc để việc thực hành trợ giúp pháp lý được xem như một nội dung trong chương trình học và để đánh giá năng lực của sinh viên Các sinh viên này sẽ được thực hành trong tòa án hay những cơ quan thực thi pháp luật của tòa án dưới sự giám sát của những luật sư đủ tiêu chuẩn và các giảng viên 79 Song song với việc khuyến khích các dịch vụ trợ giúp pháp lý thì vấn đề kiểm tra, giám sát cần được đặt ra Theo đó, các quốc gia thành viên nên thành lập các cơ chế giám sát và đánh giá để đảm bảo chất lượng của các dịch vụ trợ giúp pháp lý, đặc biệt là các dịch vụ trợ giúp miễn phí 80

76 Hội đồng kinh tế và xã hội, tlđd, (74), Điều 25

77 Hội đồng kinh tế và xã hội, tlđd, (74), đoạn 9 (Phần A)

78 Hội đồng kinh tế và xã hội, tlđd, (74), đoạn 37

79 Hội đồng kinh tế và xã hội, tlđd, (74), đoạn 72

80 Hội đồng kinh tế và xã hội, tlđd, (74), đoạn 71(c)

Mô hình tư pháp người CTN của LHQ được xây dựng dựa trên những đảm bảo cơ bản về quyền trẻ em Bên cạnh việc hoạch định ra những chính sách liên quan đến hình phạt và các biện pháp xử lý thì việc đảm bảo quyền và những lợi ích pháp lý của người CTN bị buộc tội trong suốt quá trình tố tụng luôn là những vấn đề được cân nhắc đầu tiên Với mục đích quan trọng nhất là đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho người bị buộc tội, LHQ đã đề ra những nguyên tắc cơ bản mà các cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như những cơ quan, tổ chức khác tham gia vào hoạt động tố tụng liên quan đến tư pháp người CTN phải tuyệt đối tuân thủ Đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của việc xây dựng những cơ quan và người tiến hành tố tụng chuyên trách cũng như sự phối hợp hệ thống, hiệu quả giữa những cơ quan này và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý đa dạng

Trải qua một quá trình hình thành, phát triển, củng cố và hoàn thiện lâu dài, mô hình này đã và đang là những chuẩn mực, nền tảng để các quốc gia thành viên tiến tới xây dựng nền tư pháp người CTN phù hợp với bối cảnh và truyền thống pháp lý của từng quốc gia Việc nghiên cứu về khung pháp lý của LHQ liên quan đến thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi cũng là cơ sở vững chắc để tiến hành so sánh, đánh giá việc chuẩn hóa những quy định pháp lý mang tính chất nền tảng này vào trong hệ thống pháp luật của hai quốc gia thành viên là Thái Lan và Việt Nam ở hai chương sau Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm vận dụng và phát triển của Thái Lan.

PHÁP LUẬT THÁI LAN VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA, XÉT XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ BUỘC TỘI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ BUỘC TỘI

2.1 Mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của Thái Lan

2.1.1 Khái ni ệ m ng ườ i ch ư a thành niên theo pháp lu ậ t Thái Lan

Thái Lan không có khái niệm chính thức về người CTN (Juvenile), chỉ có thể tìm thấy trong pháp luật Thái Lan một số khái niệm liên quan đến trẻ em (Child) và thanh thiếu niên (Youth) Theo đó thì các văn bản pháp luật có đề cập đến hai khái niệm này bao gồm:

− Luật thúc đẩy sự phát triển của thanh thiếu niên và trẻ em quốc gia năm

2007 định nghĩa trẻ em (child) là người dưới 18 tuổi, và thanh thiếu niên (youth) là người nhỏ hơn 25 tuổi 81 Theo quy định này thì định nghĩa về thanh thiếu niên đã bao hàm luôn định nghĩa về trẻ em

− Luật về Tòa gia đình và người CTN và thủ tục tố tụng liên quan đến gia đình và người CTN năm 2010 82 , sửa đổi bổ sung năm 2016 định nghĩa trẻ em là người trên độ tuổi quy định tại Điều 73 BLHS nhưng chưa đủ 15 tuổi Điều 73 BLHS Thái năm 1956, sửa đổi bổ sung năm 2007 83 lại quy định trẻ em dưới 10 tuổi vi phạm pháp luật thì không phải chịu hình phạt Do đó có thể hiểu trẻ em theo quy định của Luật về Tòa gia đình và người CTN và thủ tục tố tụng liên quan đến gia đình và người CTN năm 2010 là người từ đủ 10 tuổi đến dưới 15 tuổi Luật này cũng quy định thanh thiếu niên là người trên 15 tuổi đến dưới 18 tuổi Như vậy, có thể thấy vẫn chưa có sự quy định rõ người đủ 15 tuổi thì được xem là trẻ em hay thanh thiếu niên

81 Luật thúc đẩy sự phát triển của thanh thiếu niên và trẻ em quốc gia năm 2007 [National Child and Youth Development Promotion Act B.E 2550 (2007)], thông qua ngày 30/12/2007, đăng trên công báo của chính phủ hoàng gia Thái vào tháng 6/2008, số 6, Điều 4

82 Luật về Tòa gia đình và người CTN và thủ tục tố tụng liên quan đến gia đình và người CTN năm 2010 [Juvenile and Family Court and Juvenile and Family Case Procedure Act B.E 2553 (2010)], được đăng trên công báo của chính phủ hoàng gia Thái vào tháng 4/2011 (sau đây gọi là Luật TAGĐ và người CTN 2010), số 3, Điều 3

83 BLHS Thái năm 1956, sửa đổi bổ sung năm 2007 [Penal Code Amendment Act (No 18) B.E 2550 (2007)], được đăng trên công báo của chính phủ hoàng gia Thái vào tháng 9/2007, số 9, Điều 73

Sự khác biệt liên quan đến định nghĩa về trẻ em và thanh thiếu niên trong hai luật trên phụ thuộc nhiều vào thời điểm ban hành và giai đoạn luật đó được thực thi trên thực tế Nội dung và mục tiêu của định nghĩa về “trẻ em” và “thanh thiếu niên” trong luật phải phản ánh thực trạng xã hội tại thời điểm luật đó có hiệu lực Do sự phát triển của trẻ em mà định nghĩa này có thể có sự thay đổi trong những luật sửa đổi, bổ sung sau đó Hơn nữa, tinh thần của luật khác nhau phụ thuộc vào lĩnh vực mà luật đó ban hành, một số luật nhằm mục đích bảo vệ trẻ em sẽ đưa ra một giới hạn về độ tuổi khá cao trong định nghĩa Ngược lại, một số luật khác có mục đích trừng trị thì sẽ giới hạn độ tuổi thấp hơn

Xét về định nghĩa người chưa thành niên trong pháp luật Thái Lan, như đã đề cập ở trên, Thái Lan không có định nghĩa chính thức về khái niệm này Tuy nhiên, căn cứ vào quy định của Luật về Tòa gia đình và người CTN và thủ tục tố tụng liên quan đến gia đình và người CTN năm 2010 (Sau đây gọi là Luật TAGĐ và người CTN 2010) thì ba trong số các trường hợp thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa gia đình và người CTN bao gồm 84 : Những vụ án hình sự mà trẻ em hay thanh thiếu niên phạm lỗi; vụ án liên quan đến những vấn đề về gia đình và những vụ án liên quan đến phúc lợi trẻ em Bên cạnh đó, tên gọi của luật này có sử dụng từ “chưa thành niên” (juvenile) nên có thể hiểu đối tượng xét xử của Tòa gia đình và người CTN không chỉ bao gồm trẻ em (child – từ đủ 10 tuổi đến dưới 15 tuổi) và thanh thiếu niên (youth – trên 15 tuổi đến dưới 18 tuổi) mà còn bao hàm cả người dưới 10 tuổi Hay nói cách khác, người CTN (juvenile) có thể được hiểu là người dưới 18 tuổi Cách hiểu này cũng phù hợp với những quy định và hướng dẫn của LHQ liên quan đến tư pháp người CTN mà Thái Lan là thành viên

2.1.2 L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n t ư pháp hình s ự ng ườ i ch ư a thành niên c ủ a Thái Lan

Từ năm 1909, BLHS đầu tiên của Thái Lan đã có những quy định liên quan đến vấn đề xử lý người CTN phạm tội Theo luật này thì Tòa án chỉ có thể cân nhắc hoàn cảnh phạm tội của người CTN cũng như sự ăn năn, hối lỗi của họ đối với hành vi phạm tội của mình để đưa ra phương án xử lý và hình phạt thích đáng Xét về thủ tục tố tụng thì hệ thống pháp lý đang tồn tại chỉ cung cấp những hướng dẫn về cách thức để xử lý người bị buộc tội CTN sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án mà không hề có bất kỳ một văn bản nào quy định về thủ tục điều tra và xét xử đối với người CTN bị

84 Luật TAGĐ và người CTN 2010, khoản 1, 3, 4 Điều 10 buộc tội Kết quả là người bị buộc tội CTN phải trải qua một quá trình xử lý và tham gia tố tụng như người đã thành niên Điều này được nhận định là không phù hợp với độ tuổi và sự phát triển của trẻ, ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và sự tái hoà nhập cộng đồng sau này Sớm nhận ra tầm quan trọng của quá trình xử lý người bị buộc tội CTN, cũng như những bất cập của các cơ sở pháp lý liên quan, Chính phủ đã thông qua Luật về việc thành lập Tòa án người CTN cũng như Luật về thủ tục tố tụng đối với người CTN năm 1951, có hiệu lực thi hành năm 1952 (được sửa đổi, bổ sung năm 1963) Hai Luật này chú trọng vào quy trình điều tra của các CQTHTT để tìm thấy những đặc điểm liên quan đến tính cách, tâm lý, môi trường sống và động cơ phạm tội, sau đó trình báo lên Tòa án để đưa ra những giải pháp và cách xử lý thích hợp cho từng đối tượng phạm tội là người CTN Sau đó một năm, Bộ Tư pháp đã thành lập Tòa án người CTN ở trung ương (Juvenile Central Court) và Trung tâm bảo vệ và giám sát trẻ em ở trung ương (Central Child Observation and Protection Centre) Có thể nói đây là lần đầu tiên mà việc xử lý và hướng đến sự phục hồi người CTN của Thái Lan được thiết lập và thực hiện một cách hợp lý Những vụ án có người CTN phạm tội đã được áp dụng theo một quy trình tố tụng riêng, tách bạch với quy trình áp dụng đối với người đã thành niên

Sau quá trình áp dụng hai Luật trên và từ những kinh nghiệm thực tiễn khi xây dựng các cơ sở giáo dục người CTN phạm tội, chính phủ Thái Lan đã nhận ra tầm quan trọng của nhân tố gia đình trong các giải pháp liên quan đến vấn đề trẻ em Theo những nghiên cứu mang tầm quốc tế thì gia đình là một tổ chức quan trọng của cộng đồng Xây dựng cuộc sống gia đình đồng nghĩa với việc duy trì sự ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần trong cuộc sống của các thành viên Năm 1991, Bộ Tư pháp đã thông qua Luật về việc thành lập và thủ tục tố tụng đối với Tòa gia đình và người CTN (đây là Luật hợp nhất của hai Luật gồm Luật về việc thành lập Tòa án người CTN và Luật về thủ tục tố tụng đối với người CTN), có hiệu lực thi hành năm

1992 để bảo vệ quyền lợi của gia đình và trẻ em Theo quy định của luật này thì Tòa án người CTN ở trung ương (Juvenile Central Court) và trung tâm bảo vệ và giám sát trẻ em ở trung ương (Central Child Observation and Protection Centre) đã được đổi tên thành Tòa gia đình và người CTN (Juvenile and Family Court) và Trung tâm bảo vệ và giám sát người CTN (Juvenile Observation and Protection Centre) 85 Đến nay thì Luật này đã trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2010 và năm 2016 Rõ

85 Xem thêm tại Website của Cục giám sát và bảo vệ người CTN Thái Lan Nguồn: http://www2.djop.moj.go.th/english, truy cập ngày 2/2/2018, truy cập ngày 22/2/2018 ràng, xét về nhiều khía cạnh thì Thái Lan đã xây dựng được một hệ thống tư pháp hình sự chuyên biệt dành riêng cho người CTN

2.1.3 Khung pháp l ý v ề t ư pháp hình s ự ng ườ i ch ư a thành niên c ủ a Thái Lan

Tại Thái Lan, có nhiều văn bản pháp lý được sử dụng kết hợp với nhau, tạo nên một khung pháp lý đa dạng dành riêng cho người CTN phạm tội trong hệ thống tư pháp người CTN, từ việc bắt giữ, điều tra, giam giữ, bão lĩnh, truy tố, xét xử đến các vấn đề khác liên quan đến quá trình tạm giữ, chữa trị và phục hồi

Văn bản pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất cần được đề cập ở đây là Luật TAGĐ và người CTN 2010 Việc thông qua Luật TAGĐ và người CTN 2010 là phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa án này Thêm vào đó, việc xem xét lại và sửa đổi, bổ sung các văn bản về thủ tục tố tụng trong Tòa gia đình và người CTN liên quan đến việc bảo vệ sự an toàn và chữa trị dành cho trẻ em, người CTN, các thành viên trong gia đình là cần thiết, phù hợp với Hiến pháp, Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 của LHQ và Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979 86 Với tính chất là một loại thủ tục đặc biệt dành riêng cho người CTN được tách ra từ thủ tục tố tụng chung đối với người đã thành niên và được ban hành sau nên Luật TAGĐ và người CTN 2010 cần được sử dụng kết hợp với các Bộ luật áp dụng chung như Bộ luật dân sự, BLHS và BLTTHS Do đó, những vấn đề nào không được quy định trong Luật này thì sẽ áp dụng những quy định trong các Bộ luật chung Các cơ quan và người tiến hành tố tụng như Cảnh sát, người bào chữa, Tòa án, cơ quan quản chế cũng phải xem những quy định của Luật TAGĐ và người CTN 2010 như một khung pháp lý cơ bản và vận dụng vào quá trình xử lý người CTN vi phạm pháp luật

Những cơ sở pháp lý khác liên quan đến người bị buộc tội CTN có thể bao gồm Luật bảo vệ trẻ em năm 2003, những nguyên tắc và quy định của Bộ Tư pháp, Trung tâm bảo vệ và giám sát trẻ em, Trung tâm quản chế, Uỷ ban bảo vệ trẻ em Mặc dù những văn bản này đến từ các cơ quan khác nhau của Chính phủ nhưng đều có một ý nghĩa tương tự là cung cấp những dịch vụ hỗ trợ dành cho trẻ em phạm tội

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA, XÉT XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI

VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

3.1 Giới thiệu chung về tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam

3.1.1 Khung pháp l ý v ề t ư pháp hình s ự ng ườ i ch ư a thành niên qua các giai đ o ạ n l ị ch s ử

Khái niệm tư pháp người CTN nói chung và tư pháp hình sự người CTN nói riêng đã được đề cập rất nhiều trong các văn bản pháp lý quốc tế, tuy nhiên những khái niệm này vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam và vẫn chưa có một cái nhìn đa diện Đặc biệt, Việt Nam không có một khung pháp lý riêng biệt dành cho người CTN mà nó được quy định lồng ghép với quá trình xây dựng và phát triển khung pháp lý về quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng qua các giai đoạn lịch sử Từ năm 1945 đến nay, Việt Nam đã trải qua tất cả 05 bản Hiến Pháp bao gồm Hiến pháp 1946, Hiến Pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 Có thể thấy quyền con người, quyền công dân được bổ sung và phát triển qua các bản Hiến pháp, phù hợp với các văn bản, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Nếu Hiến pháp 1946 chỉ đề cập đến một số quyền tố tụng cơ bản của công dân như quyền được sử dụng tiếng nói của mình trước Tòa án (Điều 66); Quyền được xét xử công khai (Điều 67); Quyền bào chữa của bị cáo (Điều 67); Quyền không bị tra tấn, đánh đập, ngược đãi trong quá trình tố tụng (Điều 68) thì Hiến pháp 1959 đã bổ sung thêm một số quyền như: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 27); Quyền khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước (Điều 29); Quyền được bồi thường thiệt hại bởi các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước (Điều 29) Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã thêm vào quyền được bảo vệ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm (Điều 70 Hiến pháp 1980 và Điều 71 Hiến pháp 1992) Sau đó, Hiến pháp 2013 tiếp tục kế thừa tính ưu việt của các bản Hiến pháp trước và nhấn mạnh vào quyền con người, mở rộng quyền bào chữa đối với các đối tượng như người bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tiền xét xử (Điều 31) Có thể nói, tất cả những quyền con người, quyền công dân trong các bản Hiến pháp là tiền đề quan trọng để Việt Nam tiến tới xây dựng và phát triển các khung pháp lý vững chắc về tư pháp hình sự người CTN

Bên cạnh việc chính thức ghi nhận quyền của người bị buộc tội trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ thì BLHS đầu tiên năm 1985 và BLTTHS đầu tiên năm

1988 của Việt Nam cũng đã có những quy định riêng về xử lý hành vi vi phạm pháp luật cũng như thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị buộc tội CTN Thông qua quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là việc ký kết Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Việt Nam đã sửa đổi bổ sung các bộ luật trên 120 để bảo vệ tốt hơn các quyền cơ bản của trẻ em cũng như thể hiện tinh thần nhân đạo của nhà nước trong việc kết hợp giữa việc trừng trị, răn đe và giáo dục cải tạo người CTN phạm tội Đặc biệt, trong BLTTHS năm 2015, cụm từ “người chưa thành niên” được sử dụng trong các văn bản pháp lý trước đó đã được thay thế bằng cụm từ “người dưới 18 tuổi”, chấm dứt quá trình tranh cãi về các cách hiểu khác nhau liên quan đến khái niệm “người chưa thành niên” Ngoài ra bộ luật này cũng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi không chỉ bao gồm người bị buộc tội mà còn cả nạn nhân và nhân chứng là người dưới 18 tuổi

Ngoài các văn bản pháp lý thiết yếu về tư pháp hình sự người CTN đã được đề cập thì một số Luật, văn bản dưới luật có liên quan cũng hỗ trợ rất nhiều cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự người CTN, bao gồm:

- Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã đề cập đến việc xây dựng Tòa gia đình và người CTN ở cấp huyện, cấp tỉnh và cấp cao 121

- Luật trẻ em năm 2016 nổi bật với một số quyền của trẻ em như Quyền bí mật đời sống riêng tư (Điều 21); Quyền được tiếp cận thông tin (Điều 33); Quyền được bày tỏ ý kiến (Điều 34)

- Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về các trường hợp phải được trợ giúp pháp lý, bao gồm những đối tượng là người dưới 18 tuổi

- Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP- BLĐTBXH ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người CTN Tuy nhiên, sau một quá trình áp dụng cũng như chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan đến người CTN phạm tội, thông tư này đã không còn phù hợp, gây vướng mắc và khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thực hiện bảo vệ

120 BLHS 1985 được thay thế bằng BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và sau đó được thay thế bằng BLHS 2015, sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2017

BLTTHS năm 1988 lần lượt được thay thế bởi BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015

121 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Điều 30, 38, 45 quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi nên đang được xem xét để sửa đổi, bổ sung

Khi nói đến khung pháp lý về tư pháp hình sự người CTN của Việt Nam thì không thể không nhắc đến nền tảng quan trọng để xây dựng các khung pháp lý này, có thể kể đến một số văn bản pháp luật quốc tế của LHQ mà Việt Nam là thành viên như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Hướng dẫn Riyadh năm 1990, Quy tắc Bắc Kinh năm 1985 và các bản bình luận chung có liên quan

3.1.2 Đị nh h ướ ng chung v ề mô hình t ố t ụ ng hình s ự thân thi ệ n đố i v ớ i ng ườ i b ị bu ộ c t ộ i d ướ i 18 tu ổ i theo tinh th ầ n c ả i cách t ư pháp

Khái niệm mô hình tố tụng hình sự thân thiện đối với người bị buộc tội dưới

18 tuổi vẫn còn khá mới mẻ so với Việt Nam Tuy nhiên căn cứ vào Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam có liên quan đến người CTN cũng như Quyết định 1887/QĐ-BTP ngày 07/08/2009 về việc ban hành quy chế quản lý và thực hiện dự án hệ thống tư pháp thân thiện với người CTN do Bộ Tư pháp là cơ quan chủ quản với sự hỗ trợ của Quỹ nhi đồng LHQ (UNICEF) giai đoạn 2012 – 2016 122 , có thể đưa ra một số định hướng của Đảng và nhà nước về “mô hình tố tụng hình sự thân thiện” đối với người CTN với mục tiêu từng bước làm hài hoà giữa hệ thống pháp luật của Việt Nam với các yêu cầu của Công ước LHQ về quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế có liên quan như sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến tư pháp người CTN và bảo vệ nạn nhân, nhân chứng là trẻ em Cụ thể đó là sửa đổi, bổ sung các chính sách hình sự và từng bước sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự liên quan đến người CTN 123

122 Dự án Hệ thống tư pháp thân thiện với người CTN giai đoạn 2012 – 2016 do Bộ Tư pháp làm cơ quan chủ quản với sự hỗ trợ của UNICEF nhằm thực hiện mục tiêu và chương trình trọng yếu của Chính phủ như Chiến lược phát triển kinh tế xã hội (2011 – 2020), kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (2011 – 2015) Dự án sẽ hỗ trợ tăng cường hệ thống phúc lợi xã hội và hệ thống tư pháp để giải quyết vấn đề bảo vệ trẻ em một cách bền vững và xây dựng một hệ thống pháp luật đủ để bảo vệ trẻ em khỏi bị xao nhãng, xâm hại, bạo hành, bóc lột, đặc biệt là những trẻ em dễ bị tổn thương như trẻ em đã bị xâm hại, bóc lột, trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em trong tình trạng khẩn cấp, trẻ em dân tộc ít người, di cư và các nhóm trẻ em khác

123 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49/2005), mục 2 phần III

Thứ hai, xây dựng các cơ quan tư pháp chuyên trách, đặc biệt trong giai đoạn điều tra và xét xử như nghiên cứu thành lập Tòa hôn nhân và gia đình Việc thành lập tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp tòa án, từng khu vực 124 Ngoài ra, việc tổ chức các phòng điều tra thân thiện đối với người CTN trong các cơ sở điều tra cũng là một trong những nhiệm vụ cần đặc biệt quan tâm để góp phần giảm thiểu những dư chấn tâm lý cho người bị buộc tội, nạn nhân và nhân chứng của tội phạm là người CTN

Thứ ba, nâng cao nhận thức và kiến thức xã hội bằng cách tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động của cán bộ tư pháp, đặc biệt là đội ngũ Công an, Kiểm sát viên, Thẩm phán về các vấn đề liên quan đến tư pháp người CTN và bảo vệ nạn nhân, nhân chứng là trẻ em 125

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy định chung" của BLTTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những quy định chung
34. Lê Ngọc Duy (2012), Miễn trách nhiệm hình sự đối với người CTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn trách nhiệm hình sự đối với người CTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Duy
Năm: 2012
35. Lê Huỳnh Tấn Duy (2017), “Hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi trên cơ sở hướng dẫn của LHQ về tư pháp phục hồi”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi trên cơ sở hướng dẫn của LHQ về tư pháp phục hồi”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2017
36. Lê Huỳnh Tấn Duy (2013), “Quyền được bảo vệ về thông tin cá nhân của người chưa thành niên bị buộc tội trong luật quốc tế và luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được bảo vệ về thông tin cá nhân của người chưa thành niên bị buộc tội trong luật quốc tế và luật tố tụng hình sự Việt Nam”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2013
38. Lê Thị Mỹ Vân (2017), Thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học trường đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục tố tụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Mỹ Vân
Năm: 2017
39. Nguyễn Châu Trinh (2013), Xét xử kín trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử kín trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Châu Trinh
Năm: 2013
40. Uniceft, trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Tổng quan về tư pháp đối với người CTN, Tài liệu tập huấn giảng dạy môn tư pháp đối với người CTN 41. Viện khoa học xét xử (2010), Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễncủa sự cần thiết thành lập Tòa chuyên trách đối với người CTN ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tư pháp đối với người CTN", Tài liệu tập huấn giảng dạy môn tư pháp đối với người CTN 41. Viện khoa học xét xử (2010), "Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả: Uniceft, trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Tổng quan về tư pháp đối với người CTN, Tài liệu tập huấn giảng dạy môn tư pháp đối với người CTN 41. Viện khoa học xét xử
Năm: 2010
1. Bộ luật hình sự 2015 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27/11/2015, được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 (Luật số 12/2017/QH14), ngày 20/6/2017 Khác
2. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Luật số 19/2003/QH11) ngày 26/11/2003 3. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Luật số 101/2015/QH13) ngày 27/11/2015 Khác
4. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Luật số 62/2014/QH13) ngày 24/11/2014 Khác
5. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
6. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
8. Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ lao động - thương binh và xã hội ngày 12/07/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người CTN Khác
11. Công ước về các Quyền dân sự và chính trị (1966) 12. Công ước LHQ về Quyền trẻ em (1989) Khác
13. Hướng dẫn của LHQ đối với việc Phòng ngừa tội phạm chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh) (1990)Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp đối với người CTN (Quy tắc Bắc Kinh) (1985) Khác
14. Những quy tắc của LHQ về việc bảo vệ người CTN bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) (1990) Khác
15. Những hướng dẫn hành động đối với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự (1997) Khác
17. Những nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng các chương trình tư pháp phục hồi trong lĩnh vực hình sự (2002) của ECOSOC Khác
19. Bình luận chung số 4 (2003) của Ủy ban quyền trẻ em về sức khỏe và sự phát triển của người CTN theo quy định của Công ước quyền trẻ em Khác
20. Bình luận chung số 05 (2003) của Ủy ban Quyền trẻ em về những giải pháp cơ bản để thực hiện Công ước về quyền trẻ em Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w