Tóm lại: Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ Những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và cách ứng xử được gọi là giới... Định kiến giới Nhữn
Trang 1MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ GIỚI – BÌNH ĐẲNG GIỚI
1 Khái niệm giới tính và giới
Khi nói đến Giới người ta thường liên tưởng đến nam giới và phụ nữ Tuy nhiên, thông
thường, người ta suy nghĩ và hình dung hình ảnh nam giới và phụ nữ với những khác biệt
về cấu tạo cơ thể và đặc điểm bề ngoài Những liên tưởng này chỉ liên quan đến khái
niệm Giới tính Vậy để có hiểu biết tốt hơn về vấn đề giới, trước hết người ta thường phải
phân biệt được rõ ràng hai khái niệm này
1.1 Giới tính
Sự khác biệt cơ bản giữa phụ nữ và nam giới là phụ nữ có kinh nguyệt, mang thai, sinhcon, cho con bú Nam giới có khả năng sản sinh ra tinh trùng làm cho phụ nữ thụ thaiđược Sự khác biệt này là tự nhiên, bẩm sinh Đó là sự khác biệt sinh học, được gọi là
giới tính Giới tính giống nhau ở mọi nơi và không thay đổi.
Ví dụ: Ở bất cứ đâu và trong mọi thời đại lịch sử, nam giới có tinh trùng, có thể làm chophụ nữ thụ thai còn phụ nữ có thể sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ
Tóm lại: Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ
Những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và cách ứng
xử được gọi là giới.
Trang 2Giới đa dạng theo vùng miền, tôn giáo… và có thể thay đổi được khi điều kiện chính trị,kinh tế, xã hội thay đổi.
Ví dụ: Trước kia phụ nữ ít được học hành, ít tham gia việc xã hội Việc nội trợ được coi
là trách nhiệm của phụ nữ Ngày nay, nhiều phụ nữ được đi học, có trình độ cao, đượctham gia vào các vị trí lãnh đạo, nhiều nam giới đã cùng chia sẻ công việc gia đình
Tóm lại: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ
xã hội.
PHÂN BIỆT GIỚI VÀ GIỚI TÍNH
Các đặc điểm về mặt xã hội giữa nam và nữ
Có thể thay đổi
Các đặc điểm về mặt sinh học giữa nam
và nữ
Không thể thay đổi
Là sản phẩm của xã hội, văn hoá, truyền
thống Hình thành do dạy và học
Người ta sinh ra đã có
Bẩm sinhKhác nhau tuỳ theo vùng, địa phương, thời
điểm lịch sử và có thể thay đổi
Phổ thông: Đồng nhất trên toàn thế giới
và không thay đổi
1.3 Nguồn gốc xã hội của Giới
Sự khác biệt về giới không phải tự nhiên mà có, không xuất hiện ngay lúc sinh ra mà chỉhình thành trong quá trình con người lớn lên Sự khác biệt này do sự dạy dỗ giáo dục củagia đình, nhà trường, xã hội và học hỏi ở ban bè, và môi trường xung quanh
Trong gia đình, mỗi đứa trẻ được dạy dỗ khác nhau tùy theo đó là bé trai hay bé gái
Bé trai được dạy bảo phải mạnh dạn, cứng rắn, lớn lên học những ngành kỹ thuật…,
bé gái được khuyên dạy phải thùy mị, biết nhường nhịn, lớn lên học sư phạm…Đứatrẻ luôn phải tự điều chỉnh hành vi, nếp suy nghĩ theo mong muốn của bố mẹ, giađình
Ở nhà trường, các thầy cô giáo tiếp tục uốn nắn, dạy bảo em trai, em gái khác nhau vềcách ứng xử, tính cách và nghề nghiệp tương lai Ra ngoài xã hội, các em học hỏi bạn
bè, người lớn, bắt chước phim ảnh, sách báo để tập theo mẫu hình người nam giới vàngười phụ nữ xã hội như xã hội mong muốn
Trang 3 Các thể chế, luật pháp, chính sách cũng có tác động làm thay đổi mối quan hệ giớitheo hướng tiêu cực hoặc tích cực:
Luật tam tòng trước kia khiến phụ nữ trở nên tự ti, lệ thuộc vào nam giới
Luật hôn nhân – gia đình ngày nay nâng cao vị trí của người phụ nữ trong giađình Phụ nữ tự tin hơn và được tôn trọng
Vì vậy, gia đình, trường học, xã hội cần thay đổi cách dạy dỗ, giáo dục đối với trẻ em trai
và trẻ em gái Nhà nước cần có những thể chế, chính sách tích cực để tạo nên quan hệgiới bình đẳng và trí tuệ
1.4 Định kiến giới
Những quan niệm truyền thống đối với phụ nữ và nam giới hình thành từ lâu đời, đượctruyền từ đời này sang đời khác thông qua giáo dục và học hỏi, lâu dần tạo nên những suynghĩ cố hữu về vai trò, khả năng, loại công việc mà phụ nữ và nam giới có thể thực hiện
và những tính cách mà họ nên có
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí,vai trò, về năng lực của nam hoặc nữ Chẳng hạn, định kiến nội trợ là việc của phụ nữ,không phải việc của nam giới Các định kiến giới nhiều khi đã trở thành áp lực đối vớihai giới và cản trở các cá nhân thực hiện công việc mà người đó có đủ khả năng đảmnhận
Ví dụ: Nam giới được coi là trụ cột của gia đình, là người kiếm tiền chính, nhưng trongthực tế có rất nhiều người phụ nữ là trụ cột và người kiếm tiền chính trong gia đình.Trong khi đó có những nam giới vì lý do nào đó họ không có khả năng đảm nhiệm vai trònày Định kiến giới đã tạo áp lực cho những người nam giới này
Chúng ta từng nghe những câu ngạn ngữ, ca dao dưới đây với những tư tưởng mang nặngquan điểm trọng nam khinh nữ
Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử
Chàng như chỉ gấm thêu cờ, thiếp như rau má mọc bờ giếng khơi
Đàn ông nông nổi giếng khơi - Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
Trang 4Xã hội phong kiến với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã đề cao vai trò và địa vị của namgiới, đẩy phụ nữ xuống địa vị thấp hèn Người phụ nữ bị trói buộc trong phạm vi gia đình
và hoàn toàn bị lệ thuộc vào nam giới
Định kiến giới với tư tưởng trọng nam khinh nữ đã hình thành nên tính gia trưởng củanam giới khiến họ trở nên có quyền thế ngoài xã hội và uy lực trong gia đình Với tínhgia trưởng, nam giới có quyền “dạy vợ”, nam giới có quyền đòi hỏi vợ con phục vụ, thựchiện những yêu cầu của mình Người phụ nữ với vị thế lệ thuộc, phải phục tùng, làmtheo Nếu trái ý hoặc chậm trễ họ dễ bị người chồng đối xử thô bạo, xúc phạm nhânphẩm
Rõ ràng rằng, những quan điểm trọng nam khinh nữ truyền đạt qua tục ngữ ca dao nhưnhững ví dụ ở trên có tác động không nhỏ đến những biểu hiện gia trưởng và những biểuhiện bất bình đẳng khác giữa nam và nữ Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về những biểu hiệnbất bình đẳng này trong phần tiếp theo
2 Bất bình đẳng giới và những biểu hiện
Sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội, hay những trông đợi khác nhau của xã hội vềvai trò, trách nhiệm, vị thế và quyền hạn của nam và nữ đã gây ra những điều bất lợi cho
cả hai giới Những điều bất lợi này thể hiện sự bất bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam và nữ dựa trên cơ sở giới tính làm dẫnđến:
Cơ hội khác nhau
Sự tham gia khác nhau
Tiếp cận và kiểm soát các nguồn khác nhau
Thụ hưởng khác nhau
Ví dụ : Thống kê của Việt Nam và thế giới về phụ nữ
Phụ nữ nông thôn Việt Nam
o Đại diện cho 75% lực lượng lao động nông nghiệp
o Làm việc 14 giờ trong ngày
Trang 5o Hưởng ít hơn 20 - 40 % thu nhập của nam giới
o Phụ nữ nông thôn đơn thân có thu nhập thấp nhất (30.000đ/tháng)
o 40% phụ nữ đơn thân nông thôn sống trong cảnh đói nghèo
Thống kê toàn cầu về phụ nữ
o Làm 70% công việc của thế giới
o Hưởng dưới 30% thu nhập của thế giới
o (70% công việc của họ không được trả lương)
o Sở hữu dưới 1% tài sản thế giới
o Chiếm khoảng 70% người nghèo trên thế giới
o Chiếm 70% số người mù chữ trên thế giới
o Chiếm khoảng 1% số ghế trong quốc hội
o Có 100 triệu phụ nữ không được nhìn nhận
o Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùngmột loại công việc
o Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50-90% thu nhập của nam giới
o Tại Châu Phi, châu Á Thái Bình Dương trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiềuhơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để ngủ và nghỉ ngơi hơn
o Phụ nữ chiếm 2/3 trong tổng số 872 triệu người mù chữ ở các nước đang phát triển
o Phụ nữ chỉ chiếm hơn 10% đại diện trong chính phủ
3 Các vai trò giới
3.1 Vai trò giới là gi?
Vai trò giới là các chức năng của nam và nữ theo quan niệm của xã hội.
Vai trò giới có thể thay đổi tuỳ thuộc vào từng điều kiện và hệ thống xã hội cụ thể, vàviệc thực hiện các vai trò này cũng thay đổi tuỳ điều kiện của từng cá nhân
Ví dụ: Phụ nữ thường được coi là người thực hiện lao động gia đình, như nội trợ, chămsóc con cái Trong khi đó nam giới thường được coi là người có trách nhiệm phát triểnkinh tế gia đình Các quan niệm về vai trò này mang tính định kiến giới Việc biết didchợ, nấu cơm hay chăm sóc con là do phải học hỏi, được dạy dỗ mà biết chứ không phảingười phụ nữ sinh ra đã biết làm những hoạt động này Tương tự như vậy, không phải
Trang 6người đàn ông nào cũng có khả năng làm kinh tế giỏi Nhiều người phụ nữ cũng có thểlàm kinh tế tốt như nam giới.
3.2 Các vai trò giới
Vai trò sản xuất
Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập bao gồm cáchoạt động tạo ra sản phẩm vật chất hoặc tinh thần hoặc các dịch vụ trao đổi mua bán v.v hoặc sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình Ví dụ vai trò sản xuất của phụ
nữ trong nông nghiệp bao gồm các công việc trồng trọt, chăn nuôi, làm vường ngànhnghề v.v Vai trò của phụ nữ thành thị bao gồm làm công ăn lương trong các cơ quan nhànước hoặc làm thuê cho các doanh nghiệp tư nhân, buôn bán, kinh doanh v.v
Vai trò sinh sản và nuôi dưỡng (Vai trò tái sản xuất)
Là những hoạt động tạo ra nòi giống và tái tạo sức lao động, bao gồm việc sinh con vànuôi dạy con, việc nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên khác trong gia đình như côngviệc nội trợ, giặt giũ, lau chùi nhà cửa…Các công việc này hầu hết do phụ nữ đảm nhận
Vai trò cộng đồng
Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện ở cấp cộng đồng làng xóm, khốiphố, họ hàng…nhằm đáp ứng các nhu cầu chung như xây dựng đường làng ngõ xóm, giữgìn trật tự vệ sinh hoặc trao đổi thông tin, họp hành, lễ hội…
4. Các kiến thức về Bình đẳng giới
4.1 Khái niệm
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và có cơ hội nhưnhau để làm việc và phát triển Nói bình đẳng giới không có nghĩa là chỉ đấu tranhquyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay,nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên người ta nói nhiều đếnviệc đòi quyền lợi cho phụ nữ
Trang 7 Bình đẳng giới trong gia đình là các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng vớinhau Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được các thành viên, trước hết là vợ
và chồng cùng nhau chia xẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đómang lại Vợ và chồng cần phải bình đẳng bàn bạc, quyết định và thực hiện mọi côngviệc Đặc biệt việc nội trợ là hết sức vất vả, tiêu hao nhiều thời gian và sức lực, do đókhông chỉ người phụ nữ làm mà đòi hỏi phải có sự tham gia, chia sẻ của chồng và củacác thành viên khác Bình đẳng giới là mọi thành viên trong gia đình, trước hết là vợ
và chồng đều có vai trò, trách nhiệm và quyền lợi ngang bằng nhau trong lao động,học tập, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe sinh sản, hưởng thụ văn hóa và tham gia cáchoạt động xã hội
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới cùng có cơ hội để đạt được các địa vị
như nhau trong xã hội Bình đẳng giới không có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải nhưnhau trong mọi vấn đề, ngược lại, đó là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặcđiểm giống và khác nhau giữa nữ và nam Điều này có nghĩa là, với sự quan tâm đếnđặc điểm sinh học của nam và nữ, phụ nữ và nam giới có được những điều kiện nhưnhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người của họ, và có cơ hội như nhau để đónggóp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của quốc gia
Tóm lại: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
4.2 Các khía cạnh bình đẳng giới
- Các cơ hội: Nam và nữ được tiếp cận và hưởng lợi như nhau từ các cơ hội về học
hành, công việc và các nguồn lợi khác
- Các quyền: Nam và nữ đều có quyền như nhau trong việc quyết định, bầu cử, thừa
kế và các quyền khác
- Trách nhiệm: Nam và nữ bình đẳng về trách nhiệm trong công việc xã hội cũng như
trong gia đình
-Vị thế: Phụ nữ có vị thế bình đẳng và không lệ thuộc vào nam giới Ý kiến của hai
giới đều được tôn trọng
5 Ý nghĩa của việc thực hiện bình đẳng giới và những việc cần làm
Trang 85.1 Như chúng ta đã phân tích, hiện nay trên tất cả các lĩnh vực còn tồn tại bất bình đẳng
giới Thực trạng bất bình đẳng giới đó đã hạn chế sự đóng góp của phụ nữ vào sự pháttriển chung của đất nước Thực hiện bình đẳng giới là một yêu cầu cấp bách hiện nay vì
nó sẽ đem lại:
- Cả nam và nữ đều phát huy được năng lực của mình một cách toàn diện
- Đảm bảo quyền lợi của cả nam và nữ
- Gia đình hạnh phúc, hạn chế nạn bạo lực gia đình
- Xã hội công bằng, phát triển, dân chủ và văn minh
5.2 Những khó khăn trong quá trình thực hiện bình đẳng giới
Tạo mọi cơ hội để phụ nữ:
- Tham gia tích cực vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tham gia vàocác vị trí lãnh đạo và ra quyết định
- Được thụ hưởng lợi ích chính đáng: Trả công lao động công bằng, hưởng phúc lợi
xã hội, nghỉ ngơi, giải trí
Lưu ý: Đối với phụ nữ, bên cạnh việc tạo cơ hội còn cần phải chú ý đến điều kiện để phụ
nữ thực hiện được cơ hội đó
Ví dụ: Tổ chức tập huấn để nâng cao năng lực cho phụ nữ ở cơ sở, nếu lớp tập huấn quádài ngày, hoặc địa điểm tập huấn lại ở huyện hay ở tỉnh thì phụ nữ đang nuôi con nhỏ khó
có thể tham gia Vì vậy, nên tổ chức tập huấn tại xã và thời gian tập huấn không kéo dài
Tăng cường các dịch vụ xã hội như nhà trẻ, cơ sở y tế, phân phối lương thực, thựcphẩm…, giảm nhẹ lao động gia đình để phụ nữ có điều kiện nâng cao trình độ và năng lực
Trang 9 Cần loại bỏ những tư tưởng lạc hậu, những định kiến gây bất lợi cho sự tiến bộ củaphụ nữ.
Để làm được những điều này, cần phải có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành Cần có
sự chỉ đạo chung từ chính quyền cấp trung ương và sự tham gia của các đoàn thể, các tổchức dân sự
1 Cấp nhà nước
Với cấp nhà nước, thì cần có các văn bản pháp luật quy định rõ về việc thực hiện bìnhđẳng giới và các chỉ thị mang tính quốc gia về công việc này Tại Việt nam, luật bìnhđẳng giới được thông qua vào ngày 21 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ 1tháng 7 năm 2007 Đây là một văn bản toàn diện, quy định rõ các vấn đề liên quan đếnbình đẳng giới bao gồm các nguyên tắc bình đẳng, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới,các lĩnh vực cần thể hiện sự bình đẳng giới
Trang 10Phần 2 : Các vấn đề giới ở Việt nam trong một số lĩnh vực
GIỚI TRONG VẤN ĐỀ VĂN HOÁ – XÃ HỘI
1 Giới trong vấn đề giáo dục và đào tạo
Bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo là kết quả của quá trình phấn đấu lâu dài củatoàn xã hội và đồng thời cũng là tiền đề cho sự phát triển của phụ nữ và nam giới trongtương lai Số liệu thống kê trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã cho chúng ta cái nhìntổng quan về vấn đề giáo dục đào tạo trên khía cạnh giới
Tỷ lệ biết chữ của người dân nước ta đạt mức cao, khoảng cách giữa nam và nữ không chênh lệch nhiều.
- Năm 2002, 92% dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ Con số này ở nam là 95% và ở nữ là89%
- Số học sinh cả nam và nữ nhập học tiểu học và tỷ lệ biết chữ ở người lớn của nam và
nữ đạt tương ứng là 96% và 91% (TCTK, Điều tra mức sống hộ gia đình VN 2004)
- Số nữ sinh trung học phổ thông gần bằng số số nam sinh (tương ứng là 5% và 46%)trong năm 2003-2004
Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa các nhóm Dân tộc về tỷ lệ biết chữ
- Tỷ lệ biết chữ của phụ nữ Kinh năm 2002 đạt 92% thì tỷ lệ biết chữ của phụ nữ Tày là89%, phụ nữ Thái là 69,8% và phụ nữ Hmong là 21,9%
- Tỷ lệ biết chữ của nam giới các dân tộc tương ứng là 96,6%; 95,3%; 89,6% và 53,1%
- Theo một cuộc điều tra, khoảng 20% phụ nữ trẻ dân tộc thiểu số nói rằng học chưa baogiờ đến trường (SAVY, 2003)
- Trong số trẻ em độ tuổi 15-17, các em gái người dân tộc thiểu số tụt hậu sau các em gáingười Kinh và người Hoa 10% và sau em trai người Kinh, người Hoa, và người dân tộcthiểu số 13% Tỷ lệ đến trường của trẻ em trai giữa người Kinh/Hoa và người dân tộcthiểu số là tương đương (NHTG, 2006)
- Tỷ lệ biết đọc biết viết của phụ nữ người Kinh năm 2002 là 92%, trong khi tỷ lệ nàytương ứng ở phụ nữ Thái và Hmông là 70% và 22% (TCTK-Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, 2005)
Trang 11 Khoảng cách giới ngày càng lớn ở các cấp học cao hơn
Bảng 1 - Tỷ lệ đi học THCS theo giới tính (% trên tổng số dân số nữ trong độ tuổi THCS)
Nhìn chung tỷ lệ đi học chung của nam và nữ trong cả nước đạt mức cao và có xu hướng
ổn định trong những năm gần đây, song giữa tỷ lệ đi học chung của nam và nữ bậc trunghọc cơ sở vẫn còn một khoảng cách chưa được thu hẹp, cụ thể như năm học 2003-2004,
tỷ lệ này ở nữ là 86,5% và ở nam là 90,2% Đáng chú ý, tại một số địa phương, khoảngcách này có xu hướng gia tăng, ví dụ, Cà Mau, tỷ lệ đi học chung năm 2001-2003 của nữ
là 58%, nam là 67,3% thì đến năm 2003-2004, tỷ lệ trên đối với nữ là 60% và đối vớinam tăng lên 74% Tình hình trên cho thấy tỷ lệ đi học chung của nữ ở bậc trung học cơ
sở còn chưa bền vững Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là tỷ lệ nữ họcsinh vào trung học cơ sở thấp hơn, mặc dù tỷ lệ tốt nghiệp đại học của nữ sinh là 82,7%,trong khi của nam là 78,9%