Do vậy, nghiên cứu này áp dụng tiếp cận Ricardian để đánh giá mối quan hệ chủ yếu giữa yếu tố khí hậu nhiệt độ và lượng mưa tác động đến thu nhập trồng lúa TNTL của nông hộ Việt Nam.. Cu
Trang 1-
PHẠM THỊ KIM PHỤNG
TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN THU NHẬP TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
PHẠM THỊ KIM PHỤNG
TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN THU NHẬP TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đinh Công Khải
TP Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu
biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Thị Kim Phụng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tôi xin cảm ơn đến bậc sinh thành và gia đình luôn ủng hộ, khích
lệ tôi chuyên tâm học tập Tôi rất biết ơn Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã tạo
cơ hội và truyền dạy kiến thức kinh tế cho tôi vốn không phải là học viên thuộc khối ngành Kinh tế theo học chương trình sau đại học này
Tôi xin cảm ơn các cá nhân và tổ chức đã giúp đỡ tôi rất nhiệt trình trong quá trình thực hiện luận văn này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân đã giúp tôi rất lớn trong quá trình thực hiện luận văn:
Thầy Đinh Công Khải – Viện Trưởng Viện Chính sách công, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hướng dẫn và có những góp ý rất quan trọng cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn
Ông Nguyễn Châu Thoại – Khoa Kinh tế Tài nguyên, Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đã khơi nguồn ý tưởng cho tôi thực hiện luận văn này
Ông Salvatore Virdis – Khoa Sinh thái thực vật học và Địa chất, Đại học Sassari,
Ý và Cô Lê Thị Hạnh – chuyên viên GIS của dự án IMOLA, Huế, Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong chuyên môn về GIS
Ông Ronald Vargas Rojas – chuyên viên quản lý đất của FAO và các người bạn của ông đã cung cấp tài liệu và dữ liệu số bản đồ phân loại đất thế giới
Ông Richard Williams – Khoa Xã hội học, Đại học Notre Dame, Mỹ đã giúp tôi rất lớn về mặt kỹ thuật tính toán tác động biên và dự báo đối với mô hình hồi quy thông thường và hồi quy phân vị trong phần mềm xử lý và phân tích số liệu Stata
Đồng hành cùng tôi, luôn có bạn bè và đồng nghiệp, các người đã động viên, chia sẻ và
giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua
Chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Có câu nói: “Nắng mưa là chuyện của trời, nhưng lúa gạo là chuyện đời đời phải lo”
Quả vậy, việc trồng lúa gạo vốn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan như khí hậu và
điều kiện tự nhiên của vùng Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay, quả thật
BĐKH là nỗi lo đặc biệt liên quan đến việc làm và thu nhập của nông dân Việt Nam chiếm khoảng 80% dân số Do vậy, nghiên cứu này áp dụng tiếp cận Ricardian để đánh giá mối quan
hệ chủ yếu giữa yếu tố khí hậu (nhiệt độ và lượng mưa) tác động đến thu nhập trồng lúa (TNTL) của nông hộ Việt Nam Sau đó, dự báo mức thiệt hại do BĐKH gây ra cho hộ trồng lúa Việt Nam trong tương lai GIS được xem là công cụ hỗ trợ lớn trong việc kết nối các bộ dữ liệu đưa vào mô hình kinh tế lượng như dữ liệu VHLSS 2008, khí hậu, loại đất, độ cao
Kết quả nghiên cứu 4279 hộ trồng lúa từ bộ dữ liệu VHLSS 2008 cho thấy yếu tố khí hậu có tác động tuyến tính và phi tuyến tính đến TNTL Nếu nhiệt độ tăng 1oC/tháng thì TNTL của hộ
trung bình giảm 425 nghìn đồng/ha/oC nhưng nếu lượng mưa tăng 1mm/tháng thì TNTL của
hộ tăng 3 nghìn đồng/ha/mm Tuy nhiên, chỉ có tăng lượng mưa vào mùa khô mới có tác động
tích cực đối với TNTL Giả định các yếu tố khác không đổi ngoại trừ yếu tố khí hậu là thay
đổi; rõ ràng, hộ trồng lúa Việt Nam sẽ chịu thiệt hại hơn bởi BĐKH khi nhiệt độ có xu hướng
tăng cả 2 mùa và lượng mưa tăng lên vào mùa mưa nhưng giảm vào mùa khô Dự báo vào năm
2050 và 2100, mức độ thiệt hại của hộ trồng lúa dao động trung bình từ 15 nghìn đồng/ha đến 1,6 triệu đồng/ha hay dao động từ 0,1% đến 14% so với thu nhập hộ trồng lúa vào năm 2008 Trong đó, hai vùng ảnh hưởng nhất đối với BĐKH là vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam
Bộ Ngoài ra, khu vực Trung Du và miền núi phía Bắc có thể trở thành vùng cứu cánh cho nền nông nghiệp lúa gạo nếu Nhà nước chuyển hướng phát triển cho vùng này ở mức cao hơn TNTL còn phản ánh ở loại đất trồng, đặc điểm kinh tế và hành vi của hộ Hầu hết, các loại đất trồng lúa hiện nay có tác động tích cực đến TNTL, do đó Luật bảo vệ đất trồng lúa trở nên khả thi trong mọi tình huống Hộ chủ động tưới tiêu, hộ bán lẻ cho tiêu dùng và bán sỉ cho tư thương, hộ sống trong xã có trạm khuyến nông có tác động tích cực rất lớn đến TNTL Bên cạnh, cần cân nhắc vấn đề hỗ trợ tín dụng cho nông hộ, quan tâm TNTL nhóm hộ dân tộc thiểu
số, nghiên cứu lại số vụ trong năm để vừa đạt hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính mặt nông học bởi vì đây là các yếu tố tác động tiêu cực đến TNTL Đề tài hạn chế về dữ liệu khí hậu dài hạn
và thiếu một vài dữ liệu để phân tích sâu hơn cho ngành trồng lúa Việt Nam Việc định vị vị trí trồng lúa có thể nằm ngoài phạm vi bao phủ của trạm khí tượng và lệch lạc về mặt không gian,
đều có thể ảnh hưởng kết quả của đề tài
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC ix
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Bố cục bài nghiên cứu 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Tiếp cận Ricardian về đánh giá tác động biến đổi khí hậu 5
2.1.1 Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong sử dụng đất nông nghiệp 5
2.1.2 Mô hình Ricardian 6
2.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước 8
2.2.1 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến thu nhập ròng 8
2.2.2 Các nhóm đất ảnh hưởng đến thu nhập ròng 11
2.2.3 Các đặc điểm kinh tế hộ ảnh hưởng đến thu nhập ròng 12
Chương 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 14
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trồng lúa ở Việt Nam 14
3.1.1 Các yếu tố về khí hậu 14
3.1.2 Các yếu tố về loại đất 16
3.1.3 Các yếu tố liên quan đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ 17
3.2 Mô hình ước lượng, chiến lược ước lượng và dữ liệu nghiên cứu 19
3.2.1 Mô hình ước lượng 19
3.2.2 Chiến lược ước lượng mô hình 20
3.2.3 Dữ liệu nghiên cứu 20
Trang 7Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Thống kê mô tả 22
4.2 Ma trận tương quan 23
4.3 Kết quả hồi quy các mô hình 23
4.3.1 Các biến khí hậu tác động đến thu nhập trồng lúa 25
4.3.2 Các nhóm đất tác động đến thu nhập trồng lúa 25
4.3.3 Các biến đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến thu nhập trồng lúa 26
4.4 Tác động biên của các biến khí hậu tác động đến thu nhập trồng lúa 27
4.5 Dự báo ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến thu nhập trồng lúa 29
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 32
5.1 Kết luận chính của đề tài 32
5.2 Gợi ý chính sách 33
5.2.1 Giảm thiểu BĐKH 33
5.2.2 Thích ứng với BĐKH 34
5.3 Đóng góp của nghiên cứu 37
5.4 Hạn chế của nghiên cứu 38
5.5 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 44
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
FAO Food and Agriculture Organization
of the United Nations
: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GIS Geographic Information System : Hệ thống thông tin địa lý
GSO General Statistics Office : Tổng cục Thống kê
IMHEN Institute Of Meteorology,
Hydrology and Environment
: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
MARD Ministry of Agriculture and Rural
Development
: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MONRE Ministry of Natural Resources and
Environment
: Bộ Tài nguyên và Môi trường
VHLSS Vietnam Household Living
Standard Survey
: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thời gian của các mùa theo phân vùng khí hậu 15
Bảng 3.2 Số lượng mẫu nghiên cứu theo các nhóm đất 16
Bảng 3.3 Các biến giải thích sử dụng trong mô hình 19
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy của mô hình hiệu chỉnh 24
Bảng 4.2 Kết quả phân tích tác động biên của mô hình hiệu chỉnh 27
Bảng 4.3 Mức biến đổi TNTL theo các khả năng của kịch bản BĐKH 29
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Giá trị của đất đối với sự thay đổi nhiệt độ 7
Hình 3.1 Tổng lượng mưa tháng theo mùa của các vùng khí hậu 16
Hình 3.2 Nhiệt độ trung bình tháng theo mùa của các vùng khí hậu 16
Hình 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng TNTL 18
Hình 4.1 Tác động biên của nhiệt độ và lượng mưa đến TNTL theo vùng khí hậu 28
Hình 4.2 Dự báo mức độ thiệt hại của hộ TNTL do BĐKH theo vùng khí hậu 30
Trang 11DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Tình hình sản xuất cây lúa ở Việt Nam, giai đoạn 1990 – 2010 44
Phụ lục 2 Nhiệt độ trung bình giai đoạn 2001 – 2010 45
Phụ lục 3 Tổng lượng mưa giai đoạn 2001 – 2010 45
Phụ lục 4 Các mốc nhiệt độ đối với các giai đoan sinh trưởng và phát triển cây lúa 46
Phụ lục 5 Bản đồ phân bố điểm trồng lúa và các nhóm đất 47
Phụ lục 6 Các mùa vụ trồng lúa của các vùng trong năm 48
Phụ lục 7 Kịch bản phát thải trung bình B2 49
Phụ lục 8 Các bước xây dựng mẫu nghiên cứu cho đề tài 50
Phụ lục 9 Bản đồ chọn điểm nghiên cứu theo vùng khí hậu 53
Phụ lục 10 Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 54
Phụ lục 11 Bảng ma trận tương quan giữa các biến hồi quy 55
Phụ lục 12 Bảng kết quả hồi quy mô hình ước lượng 56
Phụ lục 13 Bảng kết quả hồi quy mô hình hiệu chỉnh 56
Phụ lục 14 Xu hướng tác động của các yếu tố khí hậu đến TNTL 57
Phụ lục 15 Dự báo TNTL của hộ theo các khả năng của kịch bản BĐKH 58
Phụ lục 16 Bản đồ dự báo tác động BĐKH vào năm 2100 đến TNTL của hộ 59
Trang 12Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc
dài hơn (IMHEN, 2011) BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên lâu dài hoặc do hoạt
động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng
đất Tuy nhiên, trong vòng 150 năm qua sự thay đổi về khí hậu phổ biến rộng trên các
vùng trên toàn thế giới, nguyên nhân là do hoạt động của con người Biểu hiện của BĐKH
là sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp
thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, lốc xoáy, xâm nhập mặn xảy ra với tần suất bất thường, khó
lường trước được (WB, 2010)
BĐKH đe dọa đến mọi nơi trên thế giới; 5/6 dân số thế giới mà phần lớn các nước đang phát triển sẽ dễ bị tổn thương nhiều hơn mặc dù 2/3 lượng khí thải nhà kính có trong khí quyển có nguyên nhân chính gây ra BĐKH chủ yếu do các nước phát triển (WB, 2010) Hai vùng sẽ phải chịu sự tác động tiêu cực rộng lớn của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp
là Châu Á và Châu Phi Ở Châu Á, sản xuất lúa gạo có thể sẽ giảm 4% trong thế kỷ này Ở
Ấn Độ, nếu nhiệt độ không khí tăng lên 2o
C, năng suất lúa sẽ giảm 0,75 tấn/ha Ở Trung Quốc năng suất lúa nước trời sẽ giảm từ 5 đến 12% vào cuối thế kỷ này Ở Việt Nam, tuy chưa có nhiều số liệu khoa học như những nước khác nhưng có lẽ sẽ không khác biệt nhiều
so với Ấn Độ và Trung Quốc (Dương Văn Chín, 2011)
Việt Nam có diện tích đất khoảng 33 triệu ha với trên 9 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp nhưng trong số đó trên 4,1 triệu ha đất sử dụng cho trồng lúa Việc sản xuất lúa trong 20 năm gần đây mang đến nhiều thành quả cho kinh tế đất nước nhưng đi kèm theo các nỗi lo.Phụ lục 1 cho thấy tốc độ tăng của sản lượng sản xuất lúa và năng suất trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2001 – 2010 lần lượt là 2,3%, 2,1% giảm đi so với giai đoạn 1991 – 2000 với tốc độ tăng lần lượt là 2,9% và 5,4% Riêng về diện tích gieo trồng, giai đoạn 10 năm trước đó tăng 2,4% nhưng 10 năm gần đây giảm trung bình 0,2% Sự suy giảm diện tích trồng lúa là do một phần diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp chuyển sang phục vụ công nghiệp, công trình xây dựng, đô thị hóa Về mặt lâu dài, điều này sẽ ảnh hưởng đến
Trang 13khả năng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam Hơn thế, nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, một vấn đề cũng không kém phần quan trọng tác động đến khả năng sản xuất lúa gạo là BĐKH WB (2010) đưa ra lời cảnh báo “những loài cây trồng, vật nuôi nhiệt đới hiện tại sẽ giảm năng suất ngay khi nhiệt độ gia tăng; hiện nay chúng đã trồng trọt trong điều kiện gần đến giới hạn trên của sự chống chịu nhiệt độ cao” Theo các kịch bản BĐKH, xu hướng nhiệt độ ở nước ta đang tăng dần lên và thay đổi lượng mưa không mong đợi giữa các mùa sẽ gây bất lợi đến năng suất lúa và ảnh hưởng sinh kế của người trồng lúa Do vậy, chúng ta cần đo lường tác động kinh tế của BĐKH đến nông hộ trồng lúa ở Việt Nam và qua đó tìm ra giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại cho nông hộ trồng lúa
để kết nối điều kiện biến động môi trường và đặc điểm kinh tế - xã hội nhằm đo lường sự
biến đổi sản lượng lúa Tuy nhiên, những mô hình thế này có xu hướng ước tính quá mức
và chưa tính tới khả năng thích ứng của nông hộ (Kurukulasuriya và Rosenthal, 2003)
Mô hình Ricardian lấy nền tảng giá trị đất đai phản ánh qua năng suất cây trồng và đất đai nhạy cảm với khí hậu Nếu điều kiện khí hậu vùng A trong tương lai có khả năng giống
điều kiện khí hậu vùng B hiện nay thì nông hộ ở vùng A trong tương lai sẽ thích ứng và
thực hành giống như nông hộ ở vùng B (Mendelsohn và đ.t.g, 2004) Nhiều nghiên cứu
1 WOFOST viết tắt từ chữ World Food Sutdies (nghiên cứu thực phẩm thế giới) là mô hình mô phỏng sự phát triển của cây trồng hàng năm Mô hình có thể phân tích sản xuất và sản lượng dự báo ở quy mô khu vực, quốc gia và lục địa bằng cách lập trình các thông số môi trường như loại đất, chế độ nước, các loại thời tiết
đại diện cho khu vực nghiên cứu
Trang 14thực nghiệm đã dự báo sự ấm lên trái đất sẽ làm giảm TNR trong sản xuất nông nghiệp
Điển hình là các nghiên cứu như Maddison và đ.t.g (2007) ở 11 nước Châu Phi, Seo và
Mendelsohn (2007) ở 7 nước Châu Mỹ La-tinh, Benhin (2008) ở Nam Phi, cho thấy nông
nghiệp đặc biệt bị tổn thương đối với BĐKH Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Wang và
đ.t.g (2008) cho thấy sự nóng lên của khí hậu toàn cầu dù có chỉ chút thiệt hại nhưng
không hẳn là vấn đề quan ngại đến khả năng tự cung lương thực cho người dân nước họ Ở
Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng và Nguyễn Châu Thoại (2011) xác định ảnh
hưởng BĐKH tác động lên ngành trồng trọt có thể làm giảm 0,6 – 1,3% tổng sản phẩm
quốc nội vào cuối thế kỷ 21
Trong đề tài này, tác giả cũng dựa theo tiếp cận mô hình Ricardian nhưng khác với nghiên
cứu của Nguyễn Hữu Dũng và Nguyễn Châu Thoại (2011): đề tài nghiên cứu cho lúa gạo
thay vì cho trồng trọt nói chung Hơn nữa, đề tài đưa thêm các yếu tố về loại đất, bổ sung
thêm một vài đặc điểm kinh tế của hộ gắn liền hoạt động nông nghiệp nói chung như tiếp
cận tín dụng, khuyến nông và nói riêng cho lúa gạo như bàn về số vụ, đầu ra cho lúa gạo
Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp hồi quy phân vị nhằm hạn chế các vấn đề mà hồi
quy bình phương tối thiểu thông thường (OLS) gặp phải đối với dữ liệu chéo Cuối cùng,
tác giả cũng dựa theo kịch bản BĐKH của MONRE nhưng đưa ra các khả năng về tác
động của nhiệt độ và lượng mưa ở các mùa cùng xảy ra hoặc chỉ một yếu tố xảy ra ở một
mùa nào đó bởi vì như chúng ta biết là yếu tố khí hậu khó lường trước được, dường như
nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của BĐKH đến TNTL ở Việt Nam
trong tương lai Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu sự
thiệt hại của hộ trồng lúa dưới tác động của BĐKH
Mục tiêu nghiên cứu này đồng thời gắn liền với hai trong tám nhiệm vụ mà Chương trình
mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH năm 2008 đặt ra cho các ngành dự báo tác động
BĐKH Riêng đối với ngành lúa gạo, lúa gạo gắn liền với đảm bảo ANLT quốc gia, Chính
sách hỗ trợ người sản xuất lúa vừa mới cụ thể hóa trong Nghị Quyết số 42 ban hành ngày
11/5/2012 Do đó, các kết quả phát hiện trong đề tài, tác giả hy vọng góp phần đề xuất
thêm vào các chính sách nhằm cải thiện TNTL cho nông dân chúng ta
Trang 151.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với các mục tiêu trên, đề tài đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Tác động của khí hậu thông thường hiện nay đến thu nhập của hộ trồng lúa là như thế nào?
- Dự báo mức độ thiệt hại đối với hộ trồng lúa bị ảnh hưởng bởi BĐKH dựa theo kịch bản BĐKH là bao nhiêu?
- Giải pháp nào nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại đối với hộ trồng lúa?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động BĐKH lên TNTL trên một hecta đất canh tác
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung vào đánh giá về khía cạnh kinh tế do ảnh hưởng BĐKH lên hộ trồng lúa Việt Nam
Đơn vị nghiên cứu: ở cấp hộ trồng lúa tại các tỉnh thành cả nước từ bộ dữ liệu VHLSS
2008 được gọi là mẫu nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng hồi quy phân vị thông qua tiếp cận Ricardian để đánh giá tác động kinh tế của BĐKH đến TNTL Nhằm định lượng tác động này, GIS được
xem như công cụ hỗ trợ kỹ thuật rất lớn trong việc gắn kết các dữ liệu không gian vào mẫu nghiên cứu ở cấp hộ Chi tiết về cách thức thực hiện nghiên cứu được đề cập tiếp theo trong Chương 3 và phần Phụ lục
1.6 Bố cục bài nghiên cứu
Đề tài được chia làm 5 chương Chương 1 trình bày bối cảnh, vấn đề và câu hỏi nghiên
cứu Chương 2 đề cập đến lý thuyết nền tảng cho tiếp cận mô hình Ricardian nhằm đánh
giá kinh tế của BĐKH tác động lên nông nghiệp nói chung (lý thuyết này cho rằng giá trị
đất đai phản ánh qua năng suất nông nghiệp) Chương 3 trình bày các yếu tố ảnh hưởng
đến TNTL ở Việt Nam, mô hình ước lượng, chiến lược ước lượng và nguồn dữ liệu
Chương 4 chủ yếu tiến hành phân tích, giải thích những kết quả nghiên cứu Chương 5
tóm lược những kết quả chính của luận văn Qua đó, đưa ra những gợi ý chính sách nhằm
ứng phó với BĐKH Cuối cùng, đề tài đề cập một số hạn chế trong nghiên cứu này và đề
xuất ra hướng nghiên cứu trong tương lai
Trang 16Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tiếp cận Ricardian về đánh giá tác động biến đổi khí hậu
2.1.1 Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của mọi hoạt động, là cơ sở không gian
lưu trữ, cư trú của chúng ta Trong nông nghiệp, đất có chức năng đặc biệt cung cấp cho cây trồng: nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng và
phát triển Dân ta có câu “người sinh nhưng đất không sinh” - đất còn có đặc tính là cố
định và không thể di chuyển trong khi vốn và lao động có thể di chuyển Do vậy, đất có
tính bền vững, là công cụ sản xuất không thể thay thế trong nông nghiệp Ở các vùng khác nhau thì lợi thế từ đất đem lại sẽ khác nhau do năng suất và chất lượng của nông sản phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của đất Đất thường gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất (Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài, 2007)
David Ricardo (1772-1823), cha đẻ của trường phái kinh tế cổ điển, đã đề cập tới khái
niệm về “đặc lợi kinh tế đất” Đặc lợi kinh tế đất có thể hiểu giá trị chênh lệch về mặt năng
suất được tạo ra giữa một mảnh đất này với một mảnh đất kém sinh lợi nhất đối với cùng một đối tượng sử dụng (ví dụ đất trồng lúa) với cùng yếu tố đầu vào như nhau là lao động, vốn, phương thức canh tác … Năng suất được hiểu là khả năng sinh lợi từ đất trong việc tối đa hóa sử dụng lao động và vốn sẵn có hiện tại Một trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp được thể hiện qua phương trình sau:
Trang 17Tiếp cận Ricardian lấy nền tảng rằng giá trị đất đai phản ánh qua năng suất nông nghiệp Với giả định rằng đất nhạy cảm với khí hậu, tiếp cận này đo lường khả năng thay đổi giá trị
đất khi các yếu tố môi trường thay đổi thông qua thay đổi giá trị TNR hiện tại
(Reinsborough, 2003) Nếu năng suất của một loại cây trồng cho thấy khả năng sinh lợi tối
ưu từ đất thì “đặc lợi kinh tế đất” sẽ tương đương TNR/ha đất
G là các biến thị trường như chi phí tiếp cận thị trường và chi phí vốn
X là chi phí các yếu tố đầu vào (không tính giá trị đất)
R là chi phí giá cả đầu vào
t là thời gian theo năm
δ là suất chiết khấu trung bình năm
VA = PLE = b0 + b1F + b2F2 + b3Z + b4G + u (2.3)
trong đó: b 0 , b 1 , b 2 , b 3 , b 4 là các hệ số hồi quy của mô hình
u: phần dư của mô hình
Trang 18Nhiệt độ ở ngưỡng tối ưu T1, năng suất đạt tới giá trị tối ưu
= 0 Tuy nhiên nếu nhiệt độ
vượt quá ngưỡng này thì năng suất cây trồng giảm và có thể dẫn đến TNR giảm < 0
Hình 2.1 Giá trị của đất đối với sự thay đổi nhiệt độ
Nguồn: Amiraslany (2010)
Nhằm đo lường sự thay đổi TNR khi giá trị của yếu tố khí hậu tăng lên 1 đơn vị, thì phân tích tác động biên là vô cùng quan trọng trong mô hình này Từ phương trình (2.3), công
thức tính tác động biên của một yếu tố khí hậu F (nhiệt độ hoặc lượng mưa) theo mùa i (ví
dụ mùa khô hoặc mùa mưa) sẽ được xác định như sau:
#$%&'
trong đó: F i : trung bình số học của yếu tố khí hậu đó
Trong một năm, tác động biên của một yếu tố khí hậu đối với TNR sẽ bằng tổng các tác
động biên của các mùa trong năm đó
#$%&'
Để thực hiện công tác dự báo, chúng ta đo lường mức thay đổi TNR từ yếu tố khí hậu dự
báo F so với yếu tố khí hậu hiện tại F0, áp dụng theo công thức sau:
Trang 192.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước
Chúng ta thấy có rất nhiều nghiên cứu thế giới áp dụng tiếp cận Ricardian để đánh giá mối quan hệ chủ yếu giữa khí hậu và TNR từ nông nghiệp Bên cạnh, các nghiên cứu đồng thời
đề xuất ra các giải pháp nhằm đối phó BĐKH thông qua các biến kiểm soát như loại đất đặc điểm kinh tế và hành vi của hộ có ảnh hưởng đến nông nghiệp
2.2.1 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến thu nhập ròng
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa… Khí hậu thường được định nghĩa là
trung bình theo thời gian của thời tiết, thường là 30 năm theo Tổ chức Khí tượng thế giới (IMHEN, 2011) Dựa theo các nghiên cứu thực nghiệm trước, khí hậu thông thường hiện nay là khí hậu với dữ liệu dài hạn, thường 30 năm gần đây
Trong số các yếu tố thuộc về khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa là 2 yếu tố được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu đánh giá mối quan hệ chủ yếu giữa khí hậu và TNR từ nông nghiệp Trong nghiên cứu sinh học, nhiệt độ liên quan khả năng quang hợp của cây trồng, còn lượng mưa cung cấp nước, các yếu tố không thể thiếu trong nông nghiệp Trong nghiên cứu địa lý, chính sự biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa của các tháng trong năm và chu kỳ đó được lặp lại qua các năm để người ta phân mùa khí hậu Do đó, nông dân tận dụng mùa có lượng mưa thích hợp để bắt đầu vụ canh tác nông nghiệp Lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy sự tác động của nhiệt độ và lượng mưa theo mùa đến năng suất nông nghiệp hay TNR từ nông nghiệp thường gắn liền với phương thức tưới tiêu và quy
mô canh tác
2.2.1.1 Nhiệt độ
Nghiên cứu của Seo và Mendelsohn (2007) ở các nước châu Mỹ La-tinh2 cho thấy nhiệt độ gây bất lợi cho trang trại quy mô nhỏ nhiều hơn (quy mô nhỏ có diện tích nhỏ hơn 30 ha) Nhiệt độ vào mùa Hè gây tác động tiêu cực đến đất nước trời nhưng có tác động tích cực
đối với đất tưới tiêu trong khi sự tác động bị đảo ngược lại giữa các loại trang trại đối với
nhiệt độ vào mùa Đông
2 Nghiên cứu này bao gồm 7 nước Argentina, Brazil, Chilê, Colombia, Ecuador, Uruguay, Venezuela bao gồm các kiểu khí hậu điển hình như kiểu khí hậu nhiệt đới, kiểu khí hậu khô và khí hậu ôn đới
Trang 20Nghiên cứu của Benhin (2008) ở Nam Phi - nước có khí hậu vừa ẩm và khô của sa mạc và kiểu khí hậu ôn đới cho thấy nhiệt độ có tác động tích cực lên TNR cho hầu hết các loại trang trại ngoại trừ trang trại đất khô Tương tự như nghiên cứu của Seo và Mendelsohn (2007), nhiệt độ mùa Hè có tác động xấu đối với trang trại đất khô, nhiệt độ mùa Đông, mùa Xuân mới có lợi cho đất khô
Nếu hai nghiên cứu trên thực hiện ở Nam bán cầu thì nghiên cứu của Wang và đ.t.g (2008)
ở Trung Quốc thuộc Bắc bán cầu với câu hỏi đặt ra liệu Trung Quốc vẫn có thể tự lo đủ
lương thực trước viễn cảnh của BĐKH hay không, bởi dân số của họ chiếm gần 20% so
với thế giới Kết quả khẳng định rằng nhiệt độ ấm lên dường như có lợi cho các nông trại
được tưới tiêu nhưng nó sẽ gây thiệt hại đến các nông trại nước trời Nông trại nhờ nước
trời sẽ thuận lợi chỉ nhiệt độ ấm lên vào mùa Đông Nhiệt độ cả mùa Hè và mùa Đông đều
có lợi cho nông trại tưới tiêu nhưng tác động này ngược lại vào mùa Xuân và mùa Thu
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng và Nguyễn Châu Thoại (2011) đưa ra kết
luận là tác động của nhiệt độ đến TNR từ hoạt động trồng trọt rõ rệt hơn so với tác động của lượng mưa Nhiệt độ mùa khô có tác động tích cực đến TNR trong đó nông trại nước trời có tác động tích cực hơn nhiều so với nông trại tưới tiêu chủ động Nhiệt độ mùa mưa
có tác động tiêu cực đến TNR trong đó tác động tiêu cực của nông trại tưới tiêu chủ động lớn hơn nhiều so với nông trại nước trời Tuy nhiên, kết quả đánh giá này cần lưu ý thêm bởi vì cách tính toán tác động biên cho mỗi yếu tố khí hậu đến TNR có vẻ như bằng 2 lần
hệ số hồi quy của yếu tố khí hậu đó ở dạng phi tuyến tính
Nghiên cứu của Ajetomobi và đ.t.g (2010) thực hiện ở 20 vùng trồng lúa lớn ở Nigeria, nước cũng nằm ở Bắc bán cầu và có kiểu khí hậu nhiệt đới gần giống Việt Nam, trong đó vùng miền Nam nằm cận xích đạo hưởng lượng mưa dồi dào hơn vùng miền Bắc với khí hậu khô Diện tích trồng lúa trung bình là 3,76 ha/hộ - cao gấp 5 lần so với diện tích trung bình trồng trọt cũng như trồng lúa ở Việt Nam Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ và TNTL, kết quả cho thấy nhiệt độ hoàn toàn không có lợi cho TNTL trong năm đối với đất tưới tiêu lẫn đất nước trời, trong đó đất nước trời càng thiệt hại hơn Nhiệt độ tăng vào tháng 2 có lợi cho đất tưới tiêu nhưng bất lợi cho đất nước trời Nhiệt độ cao hơn ở tháng
7, và tháng 10 bất lợi cho đất tưới tiêu lẫn nước trời Nhiệt độ tăng lên vào tháng 4 thì có lợi cho cả đất tưới tiêu lẫn nước trời và đây cũng là thời điểm bắt đầu lịch mùa vụ lúa cho
đất tưới tiêu và đất khô (đặc biệt vùng đất thấp) - tháng làm đất và gieo cấy
Trang 21Như vậy, trang trại đất quy mô nhỏ sẽ là đối tượng cần quan tâm và việc sử dụng hệ thống tưới tiêu vào mùa phù hợp sẽ làm giảm sự thiệt hại của nhiệt độ đến thu nhập của cả hai loại trang trại Qua đây, chúng ta thấy việc sử dụng tưới tiêu có thể mang lợi cho nông trại trước cái nóng của mùa Hè ở một số nơi nhưng nó chưa hoàn toàn mang xu hướng chung
2.2.1.2 Lượng mưa
Lượng mưa có tác động rất lớn đến hoạt động nông nghiệp truyền thống, bởi nó là nguồn cung nước tự nhiên mà không cần sự can thiệp của con người Ngày nay, hệ thống tưới tiêu
được phát triển, lấy nước từ các nguồn nước khác hoặc từ nước mưa được dự trữ để cung
cấp nước cho cây trồng vào các thời điểm cần thiết Nếu việc canh tác mà không thể sử dụng bất kỳ hình thức nào để cung cấp nước, thường đi cùng các vùng đất khô gọi là canh tác nhờ vào nước trời Lượng mưa còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lịch mùa vụ cũng như canh tác thêm vụ trong năm đối với loại cây ngắn ngày
Nghiên cứu của Seo và Mendelsohn (2007) cho thấy lượng mưa tăng lên có tác động tích cực cho quy mô trang trại lớn và nhỏ có sử dụng hệ thống tưới tiêu tuy nhiên nếu trang trại
sử dụng nước trời thì quy mô trang trại nhỏ mới có tác động tích cực đến TNR còn quy mô trang trại lớn bị thiệt hại
Nghiên cứu của Benhin (2008) ở Nam Phi (tổng lượng mưa năm trung bình chưa tới 450 mm/năm trong khi tốc độ bay hơi nước tương đối cao 1500mm/năm) cho thấy lượng mưa
có tác động tích cực đến TNR cho cả trang trại sử dụng tưới tiêu và nhờ vào nước trời, trong đó tác động tích cực ở vụ canh tác Đông Xuân cho các trang trại tưới tiêu nhưng trang trại nhờ nước trời thì tác động tích cực vào vụ Hè Thu (nhờ mùa mưa rơi vào vụ Hè Thu)
Nghiên cứu của Wang và đ.t.g (2008) cho thấy lượng mưa tăng lên nhìn chung có tác động tích cực lên toàn bộ nông trại cả nông trại tưới tiêu và nhờ nước trời, nhưng trong đó tác
động tích cực chỉ thấy chủ yếu ở mùa Đông Mặc dù hệ thống nông nghiệp Trung Quốc sử
dụng hệ thống tưới tiêu rất lớn nhưng vấn đề quan ngại lớn là vùng đất tưới tiêu có thể trở thành vùng nhờ nước trời nếu nguồn nước khan hiếm
Nghiên cứu của Ajetomobi và đ.t.g (2010) cho thấy nhìn chung lượng mưa tăng lên có đất tưới tiêu trong khi đó thiệt hại đối với đất khô Đối với nông trại tưới tiêu, chỉ lượng mưa tăng lên vào tháng 2 mới có tác động tích cực TNTL trong khi đó thì thời điểm này lại có tác động tiêu cực đối với nông trại nhờ nước trời
Trang 22Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy tác động lượng mưa đến TNR mỗi nơi mỗi khác tùy vào loại đất tưới tiêu và đất nhờ nước trời Nhìn chung TNR từ đất nhờ nước trời
sẽ thuận lợi nếu canh tác rơi vào thời điểm có lượng mưa tự nhiên
2.2.1.3 Biến đổi các yếu tố khí hậu
Xu hướng BĐKH nhìn chung trên thế giới là nhiệt độ tăng và lượng mưa biến đổi bất thường, có thể tăng và giảm không mong đợi ở một số nơi
Ở vùng xứ nóng, đặc biệt Châu Phi, Maddison và đ.t.g (2007) cho thấy năng suất nông
nghiệp dự báo vào năm 2050 giảm từ 1,3 – 30,5% trong đó Burkina Faso và Nigeria là các nước xứ nóng hơn sẽ chịu tổn thất nhiều hơn các nước ở xứ mát như Ethiopia và Nam Phi Nghiên cứu của Benhin (2008), nếu nhiệt độ tăng 3,9oC và lượng mưa giảm 8% vào năm
2050 thì TNR của trang trại Nam Phi có thể giảm 5%; nếu nhiệt độ tăng 9,6oC và lượng mưa giảm 15% vào năm 2100 thì ước tính mức thiệt hại lên đến 31% Ajetomobi và đ.t.g (2010) thực hiện nghiên cứu chỉ riêng cho ngành trồng lúa ở Nigeria cho thấy nếu nhiệt độ tăng 2oC và lượng mưa giảm 5% vào năm 2100 thì TNTL giảm 8,5%, đất nhờ nước trời sẽ thiệt hại nhiều hơn lên đến 52%; tuy nhiên đất tưới tiêu có lợi từ BĐKH lên đến 21%
Ở vùng khí hậu ôn đới, nghiên cứu của Wang và đ.t.g (2008) diễn giải rằng ấm lên của khí
hậu toàn cầu chỉ gây chút ít thiệt hại Bởi vì, phần lớn các trang trại Trung Quốc sử dụng
hệ thống tưới tiêu (60% so diện tích đất canh tác), còn lại đất canh tác nhờ nước trời phần lớn nằm ở vùng có khí hậu ôn hòa và mát mẻ
Ở vùng khí hậu lục địa mát lạnh gần cực, nghiên cứu của Reinsborough (2003) dự báo nền
nông nghiệp Canada vẫn hưởng từ BĐKH lên đến 1.5 triệu đô-la CND/ha nếu nhiệt độ tăng 2,38oC còn lượng mưa tăng 3,4% vào năm 2020
Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy BĐKH đang gây bất lợi đến TNR trong nông nghiệp cho các nước càng gần xích đạo với mức độ ảnh hưởng xấu càng cao hơn Các vùng ở vĩ độ cao hơn đặc biệt nằm ở Bắc bán cầu mức độ thiệt sẽ giảm thậm chí chuyển sang hướng có lợi từ BĐKH
2.2.2 Các nhóm đất ảnh hưởng đến thu nhập ròng
Qua lý thuyết lợi thế so sánh trong sử dụng đất nông nghiệp, cho rằng giá trị đất đai phản ánh qua năng suất nông nghiệp Như vậy, các loại đất khác nhau sẽ ảnh hưởng đến TNTL cũng khác nhau Đặc tính của loại đất thường dựa theo hệ thống phân loại đất, trong đó hệ
Trang 23thống phân loại đất FAO-UNESCO được đánh giá hệ thống phân loại mới nhất dựa vào lý thuyết quá trình hình thành và kế thừa hệ thống phân loại trước đây của Mỹ - Soil Taxonomy Công tác nghiên cứu và phân loại đất trong hệ thống này hiện đang cập nhật và hoàn thiện dần, cơ bản hệ thống bao gồm bốn cấp: phân theo nhóm đất chính, dưới nhóm
là đơn vị đất, dưới đơn vị là đơn vị phụ và sau cùng là pha đất Ở một phạm vi nghiên cứu
lớn như vùng, quốc gia, khu vực, đánh giá các loại đất dựa theo nhóm đất chính là chủ yếu hoặc chi tiết hơn là theo đơn vị đất
Nghiên cứu của Seo và Mendelsohn (2007) ở châu Mỹ La-tinh đánh giá các nhóm đất chính như Cambisols, Ferralsols, Phaeozems, Luvisols, Arenosols, Vertisols và Yermosols mang lại lợi ích cho canh tác trang trại Nghiên cứu của Benhin (2008) ở Nam Phi thì Acrisols, Arenosols có tác động tích cực đến TNR còn Vertisols và Xerosols thì ngược lại
2.2.3 Các đặc điểm kinh tế hộ ảnh hưởng đến thu nhập ròng
Một trong những thuận lợi lớn của tiếp cận Ricardian là bao gồm khả năng thích ứng của nông hộ phù hợp với điều kiện tự nhiên Khả năng thích ứng này một phần đã thể hiện qua giá trị TNR Rõ ràng, nông hộ muốn tối đa lợi nhuận thì họ hẳn phải chọn loại cây trồng, vật nuôi thích hợp và tính toán sao cho giá trị đầu ra là cao nhất và chi phí đầu vào là thấp nhất có thể được Bên cạnh, sự có mặt các biến kiểm soát thể hiện qua đặc điểm kinh tế -
xã hội nhằm đo lường những hành vi nào của nông hộ nên khuyến khích, những chính sách của Chính phủ liệu có phù hợp hay không Dưới đây nhiều biến được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trước cũng như nhấn mạnh một số biến có tác dụng cải thiện TNR đáng kể
Trình độ giáo dục của chủ hộ được đánh giá như khả năng tiếp cập, áp dụng công nghệ
canh tác tiên tiến và thông tin về giá cả thị trường tốt hơn (Mendelsohn và đ.t.g, 2004)
Kinh nghiệm của nông hộ kỳ vọng tỷ lệ thuận với thu nhập nông hộ
Giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng đến TNR trong vài nghiên cứu Chủ hộ là nam có thể
mang lại TNR cao hơn do giảm chi phí thuê lao động bên ngoài Một giải thích khác cho rằng chủ hộ là nữ giới, phần đông có thể xem như mất đi một lao động tiềm năng (Kurukulasuriya và Ajwad, 2004)
Sức lao động rất quan trọng đối với các nước đang triển khi nông nghiệp vẫn còn phụ
thuộc nhiều vào lao động tay chân Các hộ nhiều thành viên có thể cung cấp nhiều lao
động cho hoạt động canh tác của họ do đó kỳ vọng sẽ làm tăng TNR
Trang 24Chăn nuôi gia súc là hoạt động kết hợp với trồng trọt để tăng thu nhập Đặc biệt ở các
nước Châu Phi chăn nuôi gia súc ở vùng đất khô có đặc lợi kinh tế từ đất cao hơn so với
đất có tưới tiêu (Seo và Mendelsohn, 2008)
Việc làm phi nông nghiệp cũng là cách để đa dạng hoạt động sinh kế của mình đối với
nông dân do đó kỳ vọng sẽ làm tăng TNR trong nông nghiệp
Diện tích canh tác tỷ lệ thuận với TNR Nhiều nghiên cứu trước cho kết quả ngược lại
(Mano và Nhemachena, 2007, Wang và đ.t.g, 2008 và Ajetomobi và đ.t.g, 2010)
Hệ thống tưới tiêu là yếu tố rất quan trọng trong mô hình, là yếu tố được tìm thấy nhiều
nhất trong các nghiên cứu tiếp cận Ricardian Do đó, mô hình nghiên cứu thường phân theo mô hình đất tưới tiêu và mô hình đất nhờ nước trời, để cho thấy lợi ích đáng kể của
đất chủ động được nước hơn đất nhờ vào nước tự nhiên
Tiếp cận điện nhằm nâng cao việc sử dụng máy móc do đó kỳ vọng sẽ tỷ lệ thuận với TNR Tiếp cận thị trường mua bán, sự có mặt các điểm mua bán sẽ làm thuận tiện cho nông hộ
mua sắm vật dụng cần thiết cho sản xuất cũng như cơ hội để nông sản được bán và có thể
bán giá cao được Ngoài ra, Bán sản phẩm cho ai được xem là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến TNR trong nghiên cứu (Kurukulasuriya và Ajwad, 2004) Trong số các đối tượng liệt kê như chợ ở địa phương, chợ ở đô thị, tư thương, doanh nghiệp nhà nước và đối tượng khác thì kết quả cho thấy việc bán cho tư thương có lợi nhuận cao nhất, sau đó là chợ ở đô thị và chợ ở địa phương
Tiếp cận khuyến nông có lợi cho nông dân trong việc tiếp nhận thông tin và các dịch vụ công tốt nhất để phục vụ nông nghiệp
Tiếp cận tín dụng thường liên quan tới hoạt động nông nghiệp đặc biệt ở các nước đang
phát triển Sự trợ giúp của Chính phủ trong hoạt động cấp vốn và tín dụng để giúp người nông dân đầu tư vào hoạt động nông nghiệp có hiệu quả vì thế kỳ vọng sẽ làm tăng sản lượng nông nghiệp và TNR cho người nông dân
Bên cạnh đó, một số chiến lược thích ứng hiện nay mà nhiều nghiên cứu đề cập liên quan nhận thức nông dân trong điều kiện khí hậu đang thay đổi là rất quan trọng nhằm thực hiện nhiều hành động kết hợp tức thời Các hành động đó là trồng cây ngắn ngày, cây chịu hạn, thay đổi mùa vụ và luân canh hợp lý, dịch vụ khuyến nông hiệu quả, và tiếp cận thông tin
dự báo thời tiết sớm
Trang 25Chương 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP TRỒNG LÚA Ở
VIỆT NAM VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trồng lúa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, TNTL cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đã đề cập ở chương trước Do vậy,
đề tài chú trọng việc mô tả cách chọn các yếu tố phù hợp với đặc điểm về tự nhiên và kinh
tế - xã hội của nước ta liên quan tới ngành lúa gạo Bên cạnh, bàn về diện tích đất cho lúa,
số vụ trồng lúa, đặc điểm dân tộc, đầu ra cho lúa gạo là các vấn đề quan tâm hiện nay sẽ
được nhấn mạnh trong đề tài này
3.1.1 Các yếu tố về khí hậu
Người Việt có câu: “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa” Qua đó, chúng ta thấy nhiệt độ và lượng mưa có tác động rất lớn đến khả năng sinh trưởng cây trồng cũng như cây lúa Quan sát dữ liệu khí hậu 10 năm gần đây, nhiệt độ nước ta dao động khoảng 23,5 – 24,5oC/tháng (Phụ lục 2: Hình 1) còn lượng mưa trung bình khoảng 1700 – 2200 mm/năm (Phụ lục 3: Hình 1), gấp hai lần lượng mưa trung bình thế giới là 860mm/năm Đối với trồng lúa, nhiệt độ tối ưu cho các giai đoạn phát triển của nó dao động khoảng 18 – 33oC, riêng giai đoạn nảy mầm có thể chịu được 40oC (Phụ lục 4) còn lượng mưa trên 1200mm/năm có thể xem như cung cấp đủ nước (Nguu Nguyen Van, 2004)
Ngoài ra, lúa có thể trồng nhiều vụ gắn với các mùa kết hợp trong năm như Đông Xuân,
Hè Thu, Thu Đông Tuy nhiên việc phân biệt 4 mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông thường thích hợp cho các nước có kiểu khí hậu ôn đới khi mà sự biến động nhiệt độ các tháng đáng kể hơn nhiều so với sự biến động lượng mưa các tháng trong năm (Wikipedia, 2012) Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, lượng mưa có sự khác biệt giữa các tháng là rất lớn, lớn hơn so với sự khác biệt của nhiệt độ (Phụ lục 2: Hình 2 và Phụ lục 3: Hình 2) Do đó, người ta dựa theo thời lượng mưa để phân thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô
Nguyễn Hữu Dũng và Nguyễn Châu Thoại (2011) đã xác định các yếu tố khí hậu là nhiệt
độ và lượng mưa của mùa khô từ tháng 11-2007 đến tháng 4-2008, và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10-2008, riêng từ Thừa Thiên Huế đến Khánh Hòa mùa mưa từ tháng 6 đến
tháng 11-2008 Theo cách xác định này, tác giả áp dụng tính toán và kết quả cho thấy nhiều tháng được xác định tháng vào mùa mưa có tổng lượng trên 100mm/tháng Theo
Trang 26Đoàn Văn Điếm và đ.t.g (2008), thời điểm và số tháng trong mùa mưa có thể khác nhau ở
các phân vùng khí hậu3
Lê Thị Thanh Nghị (2011) định nghĩa về mùa mưa như sau: “Xác định theo trung bình số học của lượng mưa tháng: Mùa mưa là một chuỗi tháng liên tục, có lượng mưa trung bình tháng không dưới 100mm, trong đó tháng thứ nhất là tháng bắt đầu, tháng có trị số lớn nhất
là tháng cao điểm và tháng cuối cùng là tháng kết thúc mùa mưa” Theo định nghĩa trên, đề tài xác định mùa mưa ở mỗi vùng là dựa theo tổng lượng mưa đo được ở phần lớn các trạm thuộc vùng khí hậu đó và phần lớn các tháng liên tục trong năm trong giai đoạn 2001-
20104 là từ 100mm/tháng trở lên, còn mùa khô là các tháng còn lại
Bảng 3.1 Thời gian của các mùa theo phân vùng khí hậu
V từ tháng 8 đến tháng 12 từ tháng 1 đến tháng 7
VI từ tháng 4 đến tháng 11 từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau
VII từ tháng 5 đến tháng 11 từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Nguồn: Tác giả tính toán theo nguồn MARD và tổng hợp theo Đoàn Văn Điếm và đ.t.g (2008)
Quả vậy, theo Bảng 3.1 áp dụng cho dữ liệu khí hậu của 10 năm gần đây, cho thấy sự phân hóa lượng mưa theo mùa (Hình 3.1) có sự khác biệt hơn nhiều so với nhiệt độ (Hình 3.2) Bên cạnh, Hình 3.1 cho thấy lượng mưa cả hai mùa tăng dần đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ với lượng mưa rất cao sau đó giảm dần đến vùng Nam Bộ Hình 3.2 cho thấy nhiệt độ mùa mưa và mùa khô phân hóa rõ rệt ở các vùng của miền Bắc và giảm dần vào Nam; ở miền Nam không có sự khác biệt nhiều giữa nhiệt độ 2 mùa, chỉ khoảng 0,5oC
3 Việt Nam nằm trong vị trí tọa độ từ 102°10′ đến 109°21′ kinh độ đông; và 8°30′ đến 23°22′ vĩ độ Bắc, với nhiều loại địa hình: đồi núi trung du, đồng bằng, ven biển Chính sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt theo từng vùng Bảy vùng khí hậu bao gồm Đồng Bằng và Trung Du Bắc Bộ, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ tương ứng các ký hiệu vùng I, II, III, IV, V, VI, VII trong các Bảng và Hình liên quan các vùng khí hậu
thay vì một năm cụ thể nhằm xác định nhiệt độ và lượng mưa thông thường tránh sự đột biến một năm cụ thể
5 Tiểu vùng khí hậu từ Bắc Bắc trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh) mùa mưa từ tháng 5 tới tháng
10 Tiểu vùng từ Quảng Bình tới Hải Vân mùa mưa từ tháng 8 tới tháng 1 năm sau và mùa mưa chính là mùa
đông
Trang 27Theo khả năng tổng hợp các thông tin c
mưa phân theo mùa khô và mùa m
các dấu hiệu kỳ vọng cho mô hình
lợi cho sự phát triển cây tr
nâu đen được tìm thấy có tác
và nghiên cứu của Seo và Mendelsohn (2007) Theo
p các thông tin của tác giả, xu hướng tác động c
a phân theo mùa khô và mùa mưa đến TNTL vẫn chưa thể hiện rõ ràng
cho mô hình định lượng ở phần sau
ề loại đất
a FAO (2009), Việt Nam có khoảng 16 nhóm đấlây, đất phù sa, đất tầng mỏng, đất cát, đất đỏ vàng,
ụ lục 5) Trong đề tài này, các biến loại đất đư
ỷ lệ cao theo Bảng 3.2 Bên cạnh, tác giả chú tâm t
n biển bởi vì ngoài tập trung ở 2 vùng đồng bằ
ng lúa phân bố ở vùng dọc theo ven biển miền Trung
c sử dụng trong nghiên cứu này, nhóm đất phù sa
n cây trồng Các nhóm đất khác như đất xám, đấ
y có tác động tích cực đến TNR trong nghiên cSeo và Mendelsohn (2007) Theo đó, tác giả kỳ v
Tác giả tính toán theo nguồn FAO (2010) và GSO (VHLSS, 2008)
a các vùng khí hậu …… …mùa của các vùng khí h
tính toán và vẽ theo nguồn dữ liệu của MARD (2001
Trang 283.1.3 Các yếu tố liên quan đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
Giống như các nghiên cứu trước, các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ thường được xét đến
là tuổi, giới tính, trình độ giáo dục của chủ hộ, số người trong hộ Trong đó, trình độ giáo dục là yếu tố đáng quan tâm bởi qua các cuộc điều tra cho thấy nông dân nghỉ học trung bình khoảng lớp 6, lớp 7 trong hệ 12 năm Trình độ giáo dục thấp có thể làm hạn chế nông
hộ trong khả năng tiếp cận thông tin, và thích ứng trước sự thay đổi và áp dụng những kỹ thuật canh tác mới, hiệu quả hơn Một yếu tố cũng không kém phần lưu ý là yếu tố dân tộc
Hộ dân tộc thiểu số phần đông rất khó khăn trong giảm nghèo (Ngân hàng phát triển châu
Á, 2006 trích từ Yu và đ.t.g, 2010) Kết quả nghiên cứu của họ đã cho thấy năng suất trồng lúa của hộ dân tộc thiểu số kém sinh lợi hơn so với hộ dân tộc Kinh
Các đặc điểm liên quan hoạt động trồng lúa như hình thức tưới tiêu, diện tích gieo trồng, số
vụ, loại đất canh tác là các yếu tố rất quan trọng tác động đến TNTL Hình thức tưới tiêu là yếu tố chính được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trước Việc sử dụng hệ thống tưới tiêu
để chủ động nước được xem như là công nghệ trồng lúa tiên tiến góp phần thành công vào
cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp Nhờ đó, diện tích gieo trồng tăng lên, tăng số
vụ lên 2 - 3 vụ trong năm, tăng sản lượng cũng như bù vào diện tích trồng lúa bị mất đi do chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiện nay Phụ lục 6 cho thấy thời gian cây lúa trên ruộng dường như lắp kín trong năm, đặc biệt những nơi 3 vụ Về vấn đề số vụ, Tô Văn Trường (2009) đề cập nhiều vùng lúa tập trung sản xuất lương thực như ĐBSCL luân canh 3 vụ lúa quanh năm, không cắt được mầm mống dịch bệnh làm giảm năng suất Hơn nữa, 3 vụ có thể làm ảnh với khả năng phục hồi của đất nông nghiệp về mặt lâu dài (Nguyễn Bảo Vệ, 2009) Vậy nếu không trồng lúa vụ 3 nên trồng xen canh cây khác hay để đất trống Liệu chăng đa dạng hóa cây trồng hay độc canh cây lúa sẽ tốt hơn Yu và đ.t.g (2010) cho thấy nếu xét trên phạm vi quốc gia thì đất chuyên trồng lúa có tác động tích cực đến năng suất lúa, tuy nhiên ở các vùng khác nhau thì kiểu tác động khác nhau
Quy cho cùng các yếu tố liên quan thị trường và thị trường đầu ra cho lúa gạo là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến TNTL Đó là khoảng cách thị trường có ảnh hưởng đến TNTL như thế nào, lúa gạo có được bán hay không, bán lúa gạo cho ai đạt hiệu quả kinh tế hơn Kurukulasuriya và Ajwad (2004) nghiên cứu các nông trại quy mô nhỏ ở Srilanka cho thấy nông sản được bán cho tư thương có lợi nhuận cao nhất, sau đó là chợ ở đô thị và chợ
ở địa phương Trong đề tài này, tác giả cũng cho rằng lúa gạo bán ra ngoài có thể mang lại
Trang 29lợi ích kinh tế cao hơn so với việc giữ lại (không bán: chiếm 39% trong mẫu nghiên cứu) 6
và nếu bán thì bán sỉ cho tư thương và bán lẻ cho tiêu dùng có thể mang lại lợi ích kinh tế cao hơn so với bán cho các đối tượng khác (chiếm chưa đến 1% trong mẫu nghiên cứu bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và khác)
Ngoài ra, trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn hiện nay, các yếu tố như việc làm phi nông nghiệp, tín dụng, hệ thống khuyến nông được quan tâm rất nhiều Nếu hộ tiếp cận
được các yếu tố này thì năng suất cây trồng cũng như TNTL của họ kỳ vọng sẽ tăng lên
Cuối cùng, do hạn chế tiếp cận thông tin, do chưa đủ dữ liệu nghiên cứu nên việc xét thiếu các yếu tố có ảnh hưởng TNTL là không tránh khỏi hoặc dùng biến thay thế Ví dụ: tổng diện tích gieo trồng trong năm có thể thay thế cho biến số vụ lúa trong năm bởi dữ liệu chưa phân tách rõ các vụ Wang và đ.t.g (2008) đã sử dụng biến diện tích được logarit nhằm nghiên cứu việc kiểm soát đất giao cho nông hộ Kết quả cho thấy diện tích tỷ lệ nghịch với TNR (kết quả cũng tương tự nếu sử dụng dạng bậc hai) Ngoài ra, các thông tin
về xã không đầy đủ là một hạn chế về dữ liệu7
Qua các phân tích trên, khung phân tích đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến TNTL ở Việt Nam được minh họa ở Hình 3.3
6 Đối với hộ không bán thì giá để tính thu nhập áp dụng theo giá bình quân năm tại thị trường địa phương
7 Liên quan về các thông tin đặc điểm của xã, bộ dữ liệu cung cấp thông tin của 1755 xã trong số 1976 xã mà
có mẫu nghiên cứu
Hình 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng TNTL
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước
Trang 303.2 Mô hình ước lượng, chiến lược ước lượng và dữ liệu nghiên cứu
3.2.1 Mô hình ước lượng
Dưới đây các biến độc lập từ phương trình (3.1) được mô tả dưới bảng sau
Bảng 3.3 Các biến giải thích sử dụng trong mô hình
5 RaRa Tổng lượng mưa trung bình tháng của các tháng mùa mưa mm/tháng +/-
6 RaRaSq Tổng lượng mưa trung bình tháng của các tháng mùa khô
7 RaDr Tổng lượng mưa tháng trung bình của các tháng mùa khô mm/tháng +/-
8 RaDrSq Tổng lượng mưa trung bình tháng của các tháng mùa khô
19 Irr Hình thức tưới tiêu (1: tưới tiêu chủ động; 0: tưới tiêu bị
23 NoFa Có sản xuất kinh doanh hoặc việc làm phi nông nghiệp (1:
25 Exte Tiếp cận khuyến nông (1: xã có trạm khuyến nông; 0: xã
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước
Theo khung phân tích Hình 3.3 và công thức (2.3), mô hình ước lượng được triển khai như sau:
PLE = b0 + [(b1 TeRa + b2 TeRaSq) + (b3 TeDr + b4 TeDrSq) + (b5RaRa + b6 RaRaSq) +
(b7 RaDr + b8 RaDrSq)] + [b9 SAc + b10 SGl + b11 SFl + b12 SAr] + [b13 Age + b14 Sex +
b15 Educ + Ethn b16 + b17 HoSi + b18 Rice + b19 Irri + b20 Area + b21 MiMa +
b22 ReTa + b23 NoFa + + b24 Cred b25 Exte] + u (3.1)
u: là phần dư của mô hình
PLE là biến phụ thuộc thể hiện TNR từ trồng lúa của nông hộ mà dưới đây gọi TNTL, đơn vị tính triệu đồng/ha
Trang 313.2.2 Chiến lược ước lượng mô hình
Đề tài sử dụng phương trình (3.1) để đo lường mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu hiện
nay và TNTL Sau đó, chúng ta thay thế các yếu tố khí hậu hiện tại với các yếu tố khí hậu
được dự báo để lượng hóa mức độ tác động kinh tế của BĐKH đến TNTL
Với dữ liệu chéo, phương pháp hồi quy thông thường (OLS) có thể gặp các vấn đề như phương sai thay đổi, đa cộng tuyến, ảnh hưởng của giá trị ngoại lai và tự tương quan Điều này làm thiên lệch kết quả ước lượng Nhằm hạn chế các vấn đề trên, một số nghiên cứu trước (Benhin, 2008 và Mano và Nhemachena, 2007) đã sử dụng phương pháp hồi quy phân vị Phân vị được hiểu là giá trị trong mẫu có tính đến thứ vị trong mẫu sau khi được sắp xếp, một giá trị thường hay dùng trong phân vị là trung vị Giá trị ngoại lai thường làm thay đổi giá trị trung bình của mẫu trong khi trung vị thì có thể không thay đổi trong mẫu Các tác giả này cho rằng mục đích của hồi quy phân vị là ước lượng giá trị trung vị của biến phụ thuộc thay vì ước lượng về giá trị trung bình của biến phụ thuộc trong hồi quy OLS, loại bỏ vấn đề của giá trị ngoại lai và làm hạn chế thiên lệch ước lượng; do đó khắc phục vấn đề phương sai thay đổi trong hồi quy OLS8 Benhin (2008) đề cập rằng đa cộng tuyến do sự có mặt quá nhiều biến giải thích trong mô hình và nói chung vấn đề này không hoàn toàn triệt tiêu
Trong phần mềm phân tích Stata 11, lệnh cho hồi quy phân vị là qreg Khả năng giải thích của hồi quy phân vị là Pseudo R2 thay cho R2 trong hồi quy OLS Mức ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy sẽ dựa theo kiểm định t hoặc Pvalue có sẵn trong bảng kết quả hồi quy Theo kinh nghiệm, giá trị tuyệt đối của t không nhỏ hơn 2 hoặc Pvalue không lớn hơn 10% thì hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê
3.2.3 Dữ liệu nghiên cứu
Đề tài sử dụng các dữ liệu như sau:
Bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008 (VHLSS 2008) được thực hiện bởi GSO Đây là dữ liệu nền tảng để xác định 4691 mẫu nghiên cứu cho đề tài Mẫu nghiên cứu bao gồm các hộ trồng lúa trong 12 tháng qua tính từ thời điểm điều tra dựa theo các dòng thông tin về lúa: lúa tẻ cả năm9, lúa nếp cả năm, lúa đặc sản Các thông tin kèm
8 Để khắc phục phương sai thay đổi, một số nghiên cứu trước sử dụng hồi quy OLS có Robust
9 Tổng cộng của 4 loại: lúa tẻ Đông Xuân, lúa tẻ Hè Thu, lúa tẻ Thu Đông, lúa tẻ nương rẫy Các thông tin này có thể không phân tách được nếu trường hợp nông hộ không thể nhớ rõ từng loại
Trang 32theo mẫu nghiên cứu bao gồm thông tin thu nhập hộ trồng lúa, đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ, của chủ hộ, của xã
Dữ liệu khí hậu dựa theo nguồn của IMHEN trên trang điện tử của MARD, bao gồm nhiệt
độ trung bình tháng và tổng lượng mưa tháng trong giai đoạn 2001-2010 của 120 trạm khí
tượng của 57 tỉnh thành cả nước10
Dữ liệu đất của FAO là dữ liệu GIS dạng Raster có độ phân giải là 30 arc-second11, với phạm vi bao phủ toàn thế giới Theo phiên bản v1.10 cập nhật đến ngày 25/3/2009, thế giới
có 28 nhóm đất chính, 153 đơn vị đất, đơn vị phân loại nhỏ hơn là đơn vị đất phụ và pha
đất chưa thấy đề cập
Dữ liệu về kịch bản BĐKH của MONRE đã công bố vào năm 2009, dự báo sự thay đổi
nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng các thời kỳ từ 2030 đến 2100 của bảy vùng khí hậu ở Việt nam Trong đề tài này, chúng ta sử dụng kịch bản phát thải trung bình (B2) theo như MONRE đề xuất cho các Bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của BĐKH cũng như xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH Theo kịch bản B2 vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng lên 2-3oC, lượng mưa nhìn chung tăng lên từ 1-8% so thời kỳ năm 1980-1999 tùy theo vùng, tuy nhiên lượng mưa sẽ tăng lên vào mùa mưa và giảm đi vào mùa khô (Phụ lục 7)
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng dữ liệu về độ cao SRTM30 do Shuttle Radar Topography
Mission của cơ quan hàng không Mỹ với độ phân giải 30 arc-second nhằm định vị trí trồng
lúa chính xác hơn Đề tài còn sử dụng dữ liệu bản đồ số có nguồn từ Cục đo đạc và bản đồ
Việt Nam 2009 thuộc MONRE, bao gồm các cấp: Tỉnh, Huyện, Xã12 Sự có mặt của dữ liệu bản đồ số nhằm kết nối bộ dữ liệu VHLSS 2008 với các dữ liệu dạng GIS; cụ thể các bước của công việc này được trình bày ở Phụ lục 8 Cuối cùng, chúng ta có bộ dữ liệu ở cấp hộ bao gồm 4279 mẫu nghiên cứu được chọn lại trên bản đồ (Phụ lục 9)
10
Ở miền Bắc có 64 trạm, miền Trung có 39 trạm và miền Nam có 17 trạm Trong đó, Sơn La và Vinh mỗi tỉnh có đến 8 trạm, tuy nhiên có tỉnh không có trạm nào như Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long, Bến Tre và Hậu Giang
11 Dữ liệu GIS có 2 dạng: Vector và Raster Dạng Vector vô cùng hữu dụng để miêu tả các đối tượng không gian riêng rẽ để nhận biết các vị trí rời rạc của thế giới thực trong khi đó dạng Raster vô cùng hữu dụng để miêu tả các đối tượng không gian liên tục Dạng Raster không gian được chia thành các ô lưới đều, thường
được gọi là độ phân giải Độ phân giải 30 arc-second nghĩa là kích thước điểm ảnh là 0,9km hay kích thước ô
lưới là 0.81km2, kích thước điểm ảnh càng nhỏ thì chất lượng ảnh càng tốt
các cấp, dang đường (line) là ranh giới giữa các đơn vị hành chính các cấp, và dạng đa giác (polygon) là diện tích của các đơn vị hành chính các cấp Các mẫu nghiên cứu được kết nối vào dữ liệu bản đồ dựa theo code của cấp xã biểu diễn dưới dạng điểm là tọa độ địa lý được xác định tại UBND xã.
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
đất cát ven biển với tỷ lệ lần lượt là 38%, 36%, 17%, 2% trong mẫu (biến đất cơ sở là các
nhóm đất khác với 4 nhóm đất đã liệt kê ở trên chiếm 7% trong mẫu) Các biến đặc điểm kinh tế - xã hội gồm 13 biến Chủ hộ là Nam chiếm 83% Độ tuổi của các chủ hộ dao động
từ 20 – 91 tuổi, mức trung bình là 49 tuổi Trình độ giáo dục của các chủ hộ ở mức trung bình lớp 7 Hộ người dân tộc thiểu số (không phải là người Kinh) chiếm 21% Nhìn chung, nông hộ chúng ta canh tác mang tính chất quy mô nhỏ và trung bình13, tổng diện tích trung bình đạt 0.77ha/hộ Đất độc canh trồng lúa chiếm 18%, với diện tích trung bình của tổng các vụ là 1,48 ha trong khi đất đa canh14 trung bình là 0,62 ha Hộ chủ động cho tưới tiêu lên đến 89%15 Về tiêu thụ sản phẩm chủ yếu bán sỉ cho tư thương và bán lẻ cho tiêu dùng lần lượt chiếm gần 46% và 15% (biến cơ sở là không bán hoặc bán cho các đối tượng khác như là bán cho doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và khác) Bên cạnh,
13
Quy mô nông trại ở nước ta bao gồm 3 mức như sau: quy mô nhỏ nếu diện tích canh tác nhỏ hơn bằng 1ha,
từ 1 ha đến 2,5 ha là quy mô nông trại trung bình, lớn hơn 2,5 ha là quy mô trang trại lớn
14 Đất đa canh là đất có trồng thêm các loại cây khác trong năm như lương thực hoa màu hằng năm, cây lâu năm và cây ăn quả
15 Trong mẫu nghiên cứu, hộ chủ động tưới tiêu bao gồm sử dụng các công cụ như dùng máy bơm, công cụ tưới tự chảy và dùng sức người để cung cấp nước Hộ tưới tiêu bị động không sử dụng các cung cụ trên mà nhờ vào nguồn nước trời Một số ít trường hợp, hộ vừa sử dụng công cụ tưới tiêu và hoàn toàn không tưới tiêu, thì việc xác định dựa vào diện tích trồng lúa nào của hình thức nào nhiều hơn
Trang 34hộ có việc làm phi nông nghiệp chiếm 30%16 Hộ hiện vẫn còn nợ và vay nợ trong năm chiếm tới 47% Hộ sống trong xã có trạm khuyến nông chỉ chiếm 5%
4.2 Ma trận tương quan
Phụ lục 11 cho thấy hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc với hầu hết các biến độc lập ở mức thấp, hệ số tương quan với biến nhiệt độ mùa khô thể hiện nghịch chiều ở mức cao nhất về trị tuyệt đối là 34% Các biến độc lập với nhau tương quan cũng ở mức thấp, một
số ở mức trung bình như biến dân tộc với biến loại đất xám ở mức 45%
4.3 Kết quả hồi quy các mô hình
Kết quả hồi quy phương trình (3.1) ở Phụ lục 12 cho thấy nhiệt độ và lượng mưa của mỗi mùa đều có tác động tuyến tính và phi tuyến tính đến TNTL và đều có ý nghĩa thống kê ngoại trừ nhiệt độ vào mùa mưa (bao gồm dạng tuyến tính và phi tuyến tính) Mức độ giải thích mô hình phản ánh qua Pseudo R2 là 13,8% so với nghiên cứu của Mano và Nhemachena (2007) là 18,71%; của Benhin (2008) là 16,99%17
Các biến kiểm soát trong mô hình như loại đất và nhiều biến về đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ đều có ý nghĩa thống kê Sau đó, tác giả lần lượt loại bỏ 2 biến không có ý nghĩa thống kê nhất trong mô hình là biến tuổi và biến việc làm phi nông nghiệp (Phụ lục 13) Kết quả cho thấy mô hình hiệu chỉnh không làm thay đổi ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy còn lại và xu hướng tác động của các biến đó đối với TNTL và mức độ thay đổi các hệ số hồi quy không đáng kể so với mô hình ban đầu Mức độ giải thích của mô hình hiệu chỉnh vẫn là 13,80% Dưới đây bảng kết quả của mô hình hồi quy hiệu chỉnh được trích từ Phụ lục 13
Trang 35Bảng 4.1 Kết quả hồi quy của mô hình hiệu chỉnh
Biến thu nhập trồng lúa (triệu đồng/ha/hộ)
RaRaSq Tổng lượng mưa trung bình tháng của các
tháng mùa khô bình phương (mm/tháng)2 0,00*** 6.55
RaDr Tổng lượng mưa tháng trung bình của các
RaDrSq Tổng lượng mưa trung bình tháng của các
tháng mùa khô bình phương (mm/tháng)2 0,00*** -7.15
Edu Trình độ giáo dục chủ hộ từ không đi học đến
Rice Hình thức canh tác (1: độc canh cây lúa; 0: đa
Exte Tiếp cận khuyến nông (1: xã có trạm khuyến
nông; 0: xã không có trạm khuyến nông) 0,65
**
2.08
Trong đó: * mức ý nghĩa 10%; ** mức ý nghĩa 5% và *** mức ý nghĩa 1%
Nguồn: Tác giả thực hiện